A Knight In Shining Armor

Chương 34



Dougless phải dậy rất sớm để đón chuyến tàu tới London; sau đó cô đón một chuyến taxi dài, đắt đỏ tới sân bay. Cảm giác về những thành quả đã đạt được giúp cô trụ vững từ khi cô rời thế kỷ mười sáu đến giờ đang rời bỏ cô. Tất cả những gì cô cảm thấy bây giờ là mệt mỏi và cô đơn. Cô đã đem lòng yêu Nicholas hai lần. Mỗi giây trôi đi dường như đem những ký ức về lại với cô. Cô nhớ quãng thời gian anh đã ở thế kỷ hai mươi và sự kinh ngạc trên khuôn mặt anh khi anh chạm vào những cuôn sách đầy những bức ảnh màu. Cô nhớ cái cách anh đã thích thú với việc theo dõi người tài xế gạt cần số. Cả cuốn tạp chí Playboy trong ngăn kéo của Arabella!

Khi cô tới thế kỷ mười sáu và anh đã không hề nhớ cô, thậm chí còn có vẻ ghét cô nữa, cô nghĩ là anh đã thay đổi. Nhưng anh đã không. Anh vẫn là người đàn ông luôn đặt gia đình lên trước bản thân mình, và khi anh bắt đầu tính cả Dougless vào trong gia đình anh, anh đã yêu cô trọn vẹn như anh yêu họ.

Khi chuyến bay được gọi qua loa, Dougless đợi cho tới phút cuối rồi mới lên máy bay. Có lẽ cô không nên rời Anh quốc. Nếu cô tiếp tục ở lại nước Anh, cô sẽ được ở gần Nicholas hơn. Có lẽ cô nên mua một ngôi nhà ở Ashburton và tới thăm ngôi mộ của anh hàng ngày. Có lẽ nếu cô cầu nguyện đủ lâu, cô có thể sẽ được quay trở lại với anh, hoặc anh lại đến với cô.

Cô cố kiểm soát bản thân mình, nhưng những giọt nước mắt cứ trào ra. Nicholas đã hoàn toàn thật sự rời bỏ cô rồi. Cô sẽ không bao giờ còn gặp lại anh, hay chạm vào anh nữa.

Những giọt nước làm mờ mắt cô khi cô lên máy bay đến nỗi cô đâm thẳng vào người đàn ông phía trước cô và chiếc túi du lịch của cô tuột khỏi vai rơi thẳng vào trong lòng của người khách khoang hạng nhất.

“Tôi rất xin lỗi,” cô nói, sau đó nhìn vào đôi mắt xanh của một người đàn ông rất đẹp trai. Trong một khoảnh khắc tim cô đập mạnh, nhưng cô bắt bản thân mình quay đi. Anh ta không phải là Nicholas; mắt của anh ta không phải là mắt của Nicholas.

Cô nhận lấy chiếc túi du lịch của mình từ người đàn ông trong khi anh ta nhìn chăm chăm lên cô đầy thích thú. Nhưng Dougless thì không. Người đàn ông duy nhất khiến cô thích thú đang bị bịt kín bên trong ngôi mộ bằng cẩm thạch.

Cô tiến tới chỗ ghế ngồi của mình, nhét chiếc túi du lịch xuống dưới nghế ngồi phía trước cô, sau đó nhìn ra ngoài cửa sổ. Khi chiếc máy bay bắt đầu chuyển động dọc theo đường băng và cô nhận ra cô đang rời khỏi nước Anh, cô bắt đầu khóc một cách tha thiết. Người đàn ông ngồi trong chiếc ghế sát lối đi bên cạnh cô, một người Anh, đang vùi mặt vào tờ báo của ông ta.

Dougless cố ngăn những giọt nước mắt của cô lại. Cô tự tặng cho bản thân mình một bài động viên nhỏ về việc cô đã có thể hoàn thành được biết bao điều, và nhắc nhở bản thân rằng việc đánh mất Nicholas chỉ là một cái giá nhỏ cho tất cả những việc tốt đẹp cô đã làm. Nhưng mỗi ý nghĩ lại khiến cô khóc dữ dội hơn.

Khi máy bay đã ở trên cao và đèn THẮT DÂY AN TOÀN đã được tắt đi, cô đang khóc dữ dội đến nỗi cô không nhìn thấy chuyện gì đang xảy ra ở bên cạnh mình. Người đàn ông từ khoang hạng nhất, với một chai sâm panh và hai chiếc ly ở trong tay anh ta, hỏi người đàn ông ngồi cạnh Dougless đổi chỗ.

“Đây,” anh ta nói.

Cô có thể nhìn xuyên qua màn nước mắt của mình và thấy một ly sâm panh đang được chìa ra cho cô.

“Thôi nào, cầm lấy nó đi. Nó sẽ làm cô cảm thấy tốt hơn.”

“Anh là ng-người Mỹ,” cô nói qua làn nước mắt.

“Phải. Tôi đến từ Colorado. Còn cô?”

“M-Maine.” Cô nhận lấy ly sâm panh, uống quá nhanh và bị sặc. “T-tôi có một vài người anh họ ở Colorado.”

“Ồ? Ở đâu thế?”

“Chandler.” Những giọt nước mắt của cô không còn chảy xuống nhanh nữa.

“Không phải nhà Taggert chứ?”

Cô nhìn lên anh ta. Tóc đen, mắt xanh. Giống y như Nicholas. Những giọt nước mắt lại tăng tốc. Cô gật đầu.

“Tôi đã từng tới Chandler với cha tôi một vài lần, và tôi đã gặp một vài người ở nhà Taggert. Nhân tiện tôi là Reed Stanford.” Anh ta chìa tay ra để bắt tay cô, nhưng khi cô không hề dịch chuyển, anh ta nâng bàn tay đang ở trong lòng cô lên và siết lấy nó trong bàn tay của anh ta. “Rất vui khi được gặp cô.” Anh ta không thả tay cô ra, nhưng nhìn vào nó, không nói gì hết, cho tới khi Dougless giật tay cô ra.

“Xin lỗi,” anh ta nói.

“Anh…?”

“Stanford.”

“Anh Stanford,” cô nói, khụt khịt, “Tôi không biết tôi đã làm gì để khiến anh có cái ấn tượng là tôi dễ dãi hẹn hò, nhưng tôi có thể đảm bảo với anh rằng tôi không phải. Tôi nghĩ anh tốt nhất nên đem sâm panh đi và trở lại ghế ngồi của mình.” Cô đang cố gắng cư xử một cách vương giả, nhưng nỗ lực của cô đã bị thiếu mất vài thứ, vì mũi cô đỏ lự, mắt cô sưng phồng, và nước mắt đang chảy xuống má cô.

Anh ta không cầm lấy những chiếc ly và không rời đi.

Anh ta đang bắt đầu khiến Dougless cáu giận. Liệu anh ta có phải là mấy tên bệnh hoạn, kẻ thích phụ nữ khóc lóc không? Chuyện quái gì đã xảy ra vào thời thơ ấu của anh ta khiến anh ta bị khuấy động bởi nước mắt? “Nếu anh không rời đi tôi sẽ gọi tiếp viên hàng không đấy.”

Anh quay sang nhìn cô. “Xin đừng,” anh nói, và có cái gì đó trong mắt anh ta khiến Dougless khự lại khi cô với tới nút gọi. “Cô phải tin tôi; tôi chưa bao giờ làm việc gì như thế này trong cuộc đời mình. Ý tôi là, trước đây tôi chưa bao giờ sáp đến bắt chuyện với một phụ nữ trên máy bay. Hay thậm chí là ở quán bar. Chỉ là cô gợi cho tôi nhớ đến một ai đó.”

Dougless không còn khóc nữa vì có một cái gì đó thân thuộc một cách kỳ lạ trong cái cách anh ta quay đầu. “Ai?” cô hỏi.

Anh ta cười toe toét tới tận mang tai, và tim Dougless lỡ mất một nhịp. Nicholas đôi khi cũng cười như thế. “Cô sẽ không tin nếu tôi kể cho cô đâu. Nó còn hơn cả điều không tưởng nữa.”

“Thử xem. Tôi có trí tưởng tượng rất phong phú.”

“Được rồi,” anh ta nói. “Cô nhắc tôi nhớ đến quý cô trong bức chân dung.”

Dougless giờ đang lắng nghe.

“Khi tôi còn là một cậu bé, khoảng mười một tuổi, tôi nghĩ thế, cha mẹ, anh trai, và tôi tới Anh quốc sống một năm. Cha tôi có một công việc ở đây. Mẹ đã từng lôi tôi và anh trai mình tới cửa hàng đồ cổ, và tôi sợ rằng tôi không thích thú trong chuyện bị lôi đi lắm. Như thế, cho đến một chiều thứ bảy, khi tôi nhìn thấy một bức chân dung.”

Ngừng lại, anh ta đổ đầy lại chiếc ly rỗng của Dougless. “Bức chân dung là một bức tiểu hoạ bằng sơn dầu, được vẽ đâu đó khoảng thế kỷ mười sáu, và nó là bức tranh về một quý cô.” Anh ta nhìn cô, và mặc dù khuôn mặt cô đang sưng lên, ánh mắt anh ta gần như là vuốt ve.

“Tôi muốn bức chân dung đó. Tôi không thể giải thích được. Nó không phải chỉ như là tôi muốn có. Tôi phải có nó.” Anh ta mỉm cười. “Tôi e là tôi chính xác không được dễ thương gì trong việc nói lên ước muốn của mình. Bức chân dung khá là đắt tiền và mẹ tôi từ chối nghe theo đòi hỏi của tôi, nhưng tôi chưa bao giờ chấp nhận câu trả lời là không. Thứ bảy tiếp theo tôi bắt tàu điện ngầm, trở lại cửa hàng đồ cổ, và đề nghị tất cả những gì tôi có như một khoản ứng trước cho bức chân dung. Tôi nghĩ nó cỡ năm bảng.”

Anh ta mỉm cười với ký ức đó. “Nhìn lại chuyện đó, tôi nghĩ ông lão chủ cửa hiệu cho là tôi muốn trở thành một nhà sưu tập. Nhưng tôi không muốn sưu tập. Tôi chỉ muốn bức chân dung đó thôi.”

“Anh có được nó không?” Dougless thì thầm.

“Ồ, có chứ. Cha mẹ tôi nghĩ tôi phát điên rồi và nói rằng bức tiểu hoạ thời Elizabeth đệ nhất không phải là thứ một đứa bé có thể sở hữu được, nhưng khi họ thấy tôi, hết tuần này đến tuần khác, dành tất cả tiền tiêu vặt của mình vào việc mua bức tiểu hoạ, họ bắt đầu giúp tôi. Sau đó, chỉ trước khi chúng tôi rời khỏi Anh quốc, khi tôi bắt đầu cảm thấy rằng mình sẽ chẳng bao giờ dành đủ tiền để mua nó, cha tôi lái xe đưa tôi đến cửa hàng đồ cổ và mua tặng tôi bức chân dung.”

Người đàn ông dựa lưng vào ghế của anh ta, như thể đó là cái kết của câu chuyện.

“Anh có mang theo bức chân dung không?” Dougless thì thầm.

“Luôn luôn. Tôi luôn có nó bên mình. Cô có muốn ngắm nó không?”

Dougless chỉ có thể gật đầu.

Anh ta rút một chiếc hộp da nhỏ từ trong túi áo khoác của mình và chìa nó cho cô. Chậm rãi, Dougless mở chiếc hộp. Ở đó, trên nền nhung đen, là bức chân dung Nicholas đã cho vẽ cô. Nó được bao bọc trong một chiếc khung bằng bạc, xung quanh rìa là những hạt ngọc trai nhỏ.

Không hề hỏi xin phép, Dougless nhấc bức tiểu hoạ ra khỏi chiếc hộp, lật mặt sau của nó, sau đó giơ lên chỗ chiếc đèn.

“Linh hồn ta sẽ tìm thấy em,”Reed nói. “Đó là những gì được ghi ở phía sau, và nó được ký với một chữ C. Tôi đã luôn tự hỏi những từ đó có nghĩa là sao và chữ C viết tắt cho từ gì.”

“Colin,” Dougless nói trước khi cô nghĩ.

“Làm sao cô biết?”

“Biết cái gì?”

“Colin là tên đệm của tôi. Reed Colin Stanford.”

Khi đó cô nhìn anh ta, thật sự nhìn anh ta. Anh liếc xuống bức chân dung, sau đó nhìn lên cô, và khi anh làm thế, anh nhìn cô qua hàng lông mi của anh, như Nicholas vẫn thường làm. “Anh làm nghề gì?” cô thì thầm.

“Tôi là kiến trúc sư.”

Cô hít vào một hơi. “Anh đã bao giờ kết hôn chưa?”

“Cô luôn đi thẳng vào vấn đề, đúng không? Không, tôi chưa bao giờ kết hôn, nhưng tôi sẽ nói thật với cô: tôi đã một lần gần như bỏ rơi một người phụ nữ ở nhà thờ. Đó là điều tệ nhất tôi đã từng làm trong cuộc đời mình.”

“Tên cô ta là gì?” Giọng Dougless còn thấp hơn cả tiếng thì thầm.

“Leticia.”

Ngay lúc đó cô tiếp viên dừng lại cạnh ghế của họ. “Chúng tôi có thịt bò nướng hoặc là gà Kiev cho bữa tối nay? Anh chị chọn món gì?”

Reed quay sang Dougless. “Cô ăn tối cùng tôi nhé?”

Linh hồn ta sẽ tìm thấy em, Nicholas đã viết. linh hồn, không phải thể xác, mà là linh hồn. “Được, em sẽ ăn tối với anh.”

Anh mỉm cười với cô và đó là nụ cười của Nicholas.

Cảm ơn Người, thưa Chúa, cô nghĩ. Cảm ơn Người.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.