Charlie Bone 3: Charlie Bone Và Cậu Bé Vô Hình

Chương 4



KẺ BIẾN HÌNH

Vào những ngày chủ nhật, khi mà hầu hết bọn trẻ đang thoải mái ngủ một đêm yên lành ở nhà, thì Billy Raven thường đi vơ vẩn trong những hành lang tối như bưng và những khu vực trống vắng của Học viện Bloor. Chỉ còn một đứa trẻ khác nữa ở trong tòa nhà này là Manfred Bloor, nhưng giờ hắn đã mười tám tuổi, kể như không còn là con nít, và vào những ngày cuối tuần, hắn thường tự giam mình ở trong chái phía tây cùng với cha hắn và lão già Ezekiel, ông cố hắn.

Thỉnh thoảng, nếu Billy tiết lộ cho hắn một mẩu tin thú vị, chẳng hạn như tin gì đó về Charlie Bone, thì Manfred có thể sẽ thưởng cho thằng bé một thanh sô-cô-la. Và nếu thằng bé làm được việc gì mà lão Ezekiel Bloor sai bảo, thì lão già khụ này sẽ đãi nó một ly ca cao vào giữa khuya.

Hôm nay là sinh nhật thứ tám của Billy, nhưng cho đến lúc này thì không ai nhớ ra điều đó. Năm ngoái, bà bếp trưởng đã làm cho nó một chiếc bánh, nhưng gia đình Bloor để mặc cho ngày đó trôi qua chỉ với một câu “ Chúc mừng sinh nhật, Billy”, không hơn.

Người ta có lẽ sẽ thắc mắc làm sao mà Billy biết được ngày sinh của nó. Dù gì cũng không ai nhắc tới sinh nhật nó kể từ năm nó một tuổi. Billly biết, vì ngày đó luôn ghi khắc sâu đậm trong đầu nó. Billy biết, bởi vì những con vật biết và chúng đã nói cho nó biết.

Khi cha mẹ Billy mất thì nó vẫn còn ẵm ngửa. Nó được một người cô tử tế nhưng nghiêm khắc nuôi dưỡng. Khi Billy được hai tuổi, một chiếc bánh kem tuyệt đẹp được gởi đến theo đường bưu điện. Con chó của cô nó ăn mất, cả bánh lẫn đèn cầy. Vì tội này mà con chó bị một trận đòn, và kèm theo cả con mèo nữa cũng bị đánh.

Vào ngày 4 tháng 5, khi Billy được ba tuổi, con chó và con mèo đó cùng nhắc nó:

“Ngày bánh, Billy!”

Nhưng chẳng có chiếc bánh nào tới. Sự việc cũng xảy ra tương tự khi Billy bốn tuổi, rồi năm tuổi. Tính cho tới lúc ấy, Billy và các con vật đã thường hay trò chuyện lâu với nhau, mà cô nó không nghe thấy. Khi Billy được sáu tuổi, nó bỗng hỏi cô nó:

“Hôm nay con sẽ có bánh chứ?”

Cô nó hỏi lại:

“Ai bảo cho mày biết hôm nay là ngày sinh nhật của mày?”

“Con chó và con mèo,” Billy thật thà.

Cô nó sững sờ:

“Vậy là, mày có thể nói chuyện được với thú vật?”

“Dạ phải,” Billy xác nhận, nghĩ rằng đó là điều mà tất cả mọi người đều biết làm. “ Con nói chuyện với chúng hoài.”

Cô nó không nói thêm gì nữa, nhưng vào đúng tuần sau, Billy được gửi tới Học viện Bloor.

Nó cô đơn trong tòa nhà đồ sộ, tối hù này. Nó luôn cảm thấy hoang mang, bối rối, và rồi nó bắt đầu nghĩ rằng người ta đang cố ý giấu giếm nó mọi thứ. Họ không muốn nó biết nó thật sự là ai. Tuy nhiên, bà bếp trưởng lại rất nhân từ, và nó thường xuyên nói chuyện với con chó May Phúc, một con chó già, mập ú và có cái đuôi trụi lủi.

May Phúc chắc hẳn là rất xấu xí, dẫu vậy Bill rất yêu quý nó. Con chó già này luôn có thời gian để lắng nghe Billy.

Học kỳ vừa rồi Billy đã đá May Phúc, nhưng nó không cố ý. Chỉ là sự việc cứ thế xảy ra, và Billy hối hận ghê lắm. May Phúc có lẽ sẽ không nói chuyện với nó nữa, chỉ còn lũ chuột nhắt, và thỉnh thoảng một con chuột cống, để nói chuyện cùng. Bọn chuột nhắt chán phèo, chúng chỉ quan tâm đến đồ ăn với lại con nít mới sinh. Chuột cống có khá hơn. Thầy Boldova có một con chuột đen hay cà rỡn. Tên nó là Rembrandt.

Hôm nay thầy Boldova đã đem Rembrandt đi dạo rồi. Billy tự hỏi họ đi đâu. Hy vọng sẽ được chiêu đãi món gì đó, nó bắt đầu lần mò đi lên lầu trên cùng của chái phía tây, nơi lão Ezekiel Bloor sống. Lão già này có một căn phòng rộng mênh mông, ẩm mốc, chất toàn những đồ cổ lỗ: bình và lọ, xương và gươm, cùng những hũ ngâm con gì đó chết. Lão Ezekiel là một phù thủy, nhưng không phải là phù thủy tài giỏi cho lắm.

Billy vừa lên hết một phần cầu thang chật hẹp thì nghe thấy một tiếng rú. Nó ngó xuống hành lang dài, thắp sáng bằng đèn khí, dẫn tới phòng lão Ezekiel. Có cái gì đó đang lao về phía nó : một con chó mập lùn đang ngỏng cổ tru thảm thiết.

“May Phúc!” Billy ậm ừ bằng ngôn ngữ của chó. “ Chuyện gì vậy?”

“Đuôi! Đuôi!” May Phúc hét ầm. “ Đuôi đau!”

Con chó già chạy lại chỗ Billy.

“Cậu có thấy không?” Nó đứng lên bằng hai chân sau.

May Phúc đã từng có một cái đuôi trụi lủi, xấu chưa từng thấy. Thứ mà hôm nay trông càng xấu tệ. Một mẩu thịt hồng, tí nị lòi ra ở mông.

“Đuôi sót lại không còn bao nhiêu, tao nghĩ thế,” Billy nói. “ Chuyện gì xảy ra vậy?”

“Rắn,” May Phúc nói. “Rắn xanh da trời. May Phúc cắn rắn. Lão Ezekiel bảo ‘không’. Rắn siết đuôi. May Phúc chạy.”

“Hình như nó cắn đứt đuôi mày rồi,” Billy nhận xét.

“Không, không, không! Đuôi vẫn còn đó,” May Phúc tru lên. “ Bị nghiến. Bị siết. Ối đau!”

“Thật mà, không có đuôi ở đó mà,” Billy nói.

“Láo!” May Phúc rú vang. “Nói bà bếp trưởng”.

Billy không thích cái vụ con rắn xanh da trời này. Nó quyết định không đi tới chỗ lão Ezekiel nữa. Thay vào đó nó sẽ đi kiếm bà bếp trưởng.

Billy chắc chắn sẽ không bao giờ quên ngày sinh nhật lần thứ tám của mình. Nó không nhận được thiệp hay quà. Nó thậm chí còn không tới được nhà bếp, chỗ của bà bếp trưởng. Có chuyện xảy ra trên đường nó tới đó. Nó đang bước qua chiếu nghỉ phía trên tiền sảnh thì thấy nữ sinh mới, Belle, xuất hiện. Con bé xổ ra từ một cánh cửa nhỏ dẫn lên tháp nhạc. Hầu như cùng lúc, thầy Boldova bước ra khỏi phòng để áo khoác xanh lá cây ở đầu bên kia tiền sảnh.

Đứa con gái và thầy giáo hội họa trố mắt nhìn nhau một thoáng. Bất thình lình Belle lên tiếng:

“Chào Samuel Sparks.”

Thầy giáo hội họa đáp:

“Vậy bà là…”

“Có đoán ra ta là ai thì cũng không có phần thưởng đâu.”

Belle cười khành khạch. Giọng đứa con gái nghe già và trầm đục.

“Yolanda,” thầy giáo thì thào, như thể thầy sợ cái tên ấy.

“Phải!”

Đứa con gái vung cánh tay lên, và khi nó làm vậy, một bức màn xám giống như làn khói mỏng phụt lên, bắt đầu cuồn cuộn quanh cơ thể.

“Mi thấy ta thì cho mi khỏi thấy luôn”

“Rủi quá, ta vẫn thấy bà,” thầy dạy vẽ lầm bầm.

“Samuel khốn khổ kia. Mi tới để kiếm thằng nhóc em của mi phải không? Hừ, đừng hòng bao giờ kiếm được nó.”

Belle đang biến đổi hình dạng. Những bụi tóc trắng phun vô những lọn tóc vàng, những nét thanh tú giãn ra và méo xệch đi, rồi nó từ từ cao lên, cao lên. Giờ, cô nữ sinh đã biến thành một mụ già da vàng ệch, lõng thõng nhiều đụn thịt dưới cằm và một chóp mũi to xụ, sần xùi.

Billy không muốn xem tiếp. Nhưng nó không thể điều khiển được bản thân. Nó khuỵu xuống và lõ mắt nhìn ra giữa những thanh vịn cầu thang bằng gỗ sồi.

Thầy Boldova tiến lại gần mụ phù thủy. Thầy rút cái gì đó ra khỏi túi quần và xòe bàn tay ra. Một nắm đá nhỏ nằm trong lòng bàn tay thầy, từ từ chúng bắt đầu phát sáng, và rồi, một quầng sáng đỏ bùng lên khỏi bàn tay thầy.

Billy há hốc miệng, mắt kính tuột khỏi mũi, và nó cố ráng chụp lại kịp. Hai người kia quá tập trung vào nhau nên chẳng ai chú ý tới nó.

“Cái thứ đó sẽ chẳng giúp được mày đâu, Sparks,” mụ Yolanda châm chọc. “Ollie là một thằng quỷ tọc mạch, nó phải bị trừng phạt. Và bây giờ đến lượt ta phải trừng phạt mi.”

“Để coi!”

Thầy Boldova nâng nắm tay lên và liệng mớ đá đang cháy vô mụ già. Mụ ta hét lên khi tóc và một chút quần áo xám của mụ bắt đầu bốc cháy, và rồi, bằng giọng đùng đục, ớn lạnh, mụ ta gầm lên:

“Đồ chết tiệt!”

Mụ nhìn thầy giáo trừng trừng. Trừng mắt rồi lại trừng mắt. Thầy giáo tiến một bước về phía mụ già và chúi nhủi. Thầy bước thêm một bước nữa và dừng lại. Mặt thầy trắng bợt, mắt thầy lộ vẻ hãi hùng và dại đi. Tuyệt vọng, thầy lần tay vô túi quần, lần tìm thêm đá lửa, nhưng thầy không thể rút tay ra được. Thầy không thể cử động. Xem ra thầy đã ngừng thở rồi.

“Thế sẽ dạy cho mày một bài học,” Yolanda rít lên.

Mụ vuốt vuốt tóc và phủi phủi những vết cháy xém trên váy, rồi quay gót và biến mất sau cánh cửa dẫn lên tháp nhạc, để lại thầy Boldova im lìm và cứng đờ như một bức tượng.

Thình lình, có một tiếng chít lớn, một con chuột đen nhảy ra khỏi túi quần thầy Boldova và chạy băng qua tiền sảnh. Nó bắt đầu nhảy lên các bậc thang, và khi lên hết cầu thang, nó phóng lẹ tới chỗ Billy.

“Cứu!” Con chuột la chít chít.

“Cứu! Cứu!” Nó ngước nhìn lên Billy khẩn nài. “Cứu Rembrandt!” Nó rú lên. “Cứu chủ nhân!”.

“Để tao coi,” Billy nói. Nó lượm con chuột lên và bước chầm chậm dọc theo chiếu nghỉ. Thầy dạy vẽ vẫn chưa cựa quậy. Billy chạy xuống dãy cầu thang rộng. Những hòn đá cháy nằm vương vãi khắp tiền sảnh và Billy phải bước len lỏi giữa chúng. Lúc này những hòn đá đang dần mất đi màu sắc, vài hòn đá đã ngả màu xám tro, trông xỉn như than.

Thầy Boldova hình như không trông thấy Billy. Thằng bé tóc trắng tiến lại gần hơn và nói:

“Thưa thầy, con chuột của thầy này,” nó trao Rembrandt cho thầy.

“Cái gì?” Thầy Boldova nhìn lom lom Rembrandt. “Cái gì đây?”

“Con chuột của thầy,” Billy lập lại.

“Tôi không có chuột.”

Rembrandt chít lên một tiếng não nề.

“Đúng nó là của thầy mà, tên nó là Rembrandt.”

Thầy Boldova bắt đầu nhúc nhích, nhưng rõ ràng thầy không còn là thầy nữa. Thầy quay người và bước đi về hướng ngược lại.

“Vứt nó đi!” Thầy hét. “Thảy nó vô thùng rác!”

Nếu chuột có thể ngất xỉu thì hình như Rembrandt đã xỉu rồi. Dường như thế thật, nó nằm bất động, mềm oặt. Billy nhét con chuột và dưới chiếc áo len chui đầu của nó và chạy lên phòng ngủ chung.

“Đi rồi,” con chuột lào khào khi Billy nằm kềnh ra giường.

“Cái gì đi rồi?” Billy nói. “Ý mày là thầy Boldova hả?”

“Chết,” Rembrandt nói. “Ánh sáng đi rồi.”

Billy hiểu ra ý của con chuột muốn nói gì.

“Ý mày là con người thật của thầy phải không? Linh hồn của thầy ấy?”

Rembrandt thở dài.

Billy bàng hoàng trước những gì vừa chứng kiến, đến nỗi nó không sao ngừng run lập cập được. Belle không phải là một nữ sinh gì hết, mà là một bà già, già khú khụ. Bà ta vừa thay hình đổi dạng, nhưng bà ta cũng làm cái gì đó thật kinh khủng với thầy Boldova. Belle là kẻ thôi miên, giống như Manfred Bloor.

“Hai phép thuật một lúc.”

Billy lẩm bẩm một mình. Nó nằm ngửa trên giường và nhắm mắt lại. Nó ước gì có thể về nhà và nói chuyện với ai đó. Nhưng nó không có nhà để về. Lão Ezekiel đã hứa với nó là nó sẽ được nhận làm con nuôi, nhưng cha mẹ tử tế mà lão nhắc tới đó không bao giờ tới cả.

“Nói với bà bếp trưởng,” một giọng vang lên.

Billy mở mắt ra. Con chuột đang ngồi trên ngực nó, nhìn nó chăm chăm.

“Nói với bà bếp trưởng,” con chuột nhắc lại. “Bà bếp trưởng biết rất nhiều chuyện.”

Nghe nhắc tới bà bếp trưởng, Billy chợt nhận ra nó đang đói bụng cồn cào. Nó bèn tuột khỏi giường, đút Rembrandt vào dưới lớp áo len, rời khỏi phòng ngủ chung và rón rén đi xuống lầu.

Khi ra tới tiền sảnh, nó thấy đèn đã bật sáng và những mẩu than cháy lụi đã được dọn dẹp sạch. Thật khó mà tin rằng chỉ một giờ trước thôi, nơi đây đã diễn ra một trận chiến biến hình và quăng đá lửa. Billy vội vã đi về phía sảnh ăn tối. Nhưng khi nó đi ngang qua phòng huynh trưởng thì Manfred Bloor xồ ra.

“À, mày đây rồi, Billy,” thằng huynh trưởng nói. “Trông mày lén lút vậy. Có gì xảy ra không?”

Billy lưỡng lự. Nó cảm giác sự kiện Belle biến hình là điều nó không nên nhìn thấy.

“Kh… không, thưa anh Manfred.”

“Không có gì để kể cho anh sao?”

Billy rất muốn kể về Belle và thầy Boldova, nhưng như thế nó sẽ phải nhắc tới con chuột. Mà nó thì tha thiết muốn giữ con chuột lại. Nó lắc đầu:

“Không.”

“Không? Không có tin sốt dẻo gì về Charlie Bone à?” Đôi mắt như than của Manfred nháng lên.

Không thể thôi miên Billy được. Nó đã phát hiện ra điều này ngay từ lúc mới tới học viện Bloor. Manfred đã thử lấy nó để luyện tập phép thuật kinh khủng của hắn, nhưng không bao giờ có tác dụng. Có lẽ là do con mắt đỏ đậm của nó.

“Không có gì để báo cáo cả,” nó nói.

Manfred lộ vẻ thất vọng.

“Cái gì dưới áo mày đó?”

“Bao tay của em, em thấy lạnh.”

“Xời!” Manfred dài giọng, vẻ chế nhạo.

“Hôm nay là sinh nhật em,” Billy nói.

“Tiếc quá. Anh chẳng có gì cho mày cả. Bây giờ, nếu mày có gì kể cho anh nghe, thì, à, anh có thể sẽ tìm được một ít sô-cô-la cho mày.”

Billy rất mê sô-cô-la. Mà lại là ngày sinh nhật của nó nữa. Tất cả những gì nó cần làm chỉ là kể cho Manfred những gì nó đã thấy và đưa con chuột ra. Nhưng Manfred sẽ làm gì với Rembrandt? Billy hơi rùng mình một cái và bảo.

“Thiệt tình là em có một ngày chán phèo.”

“Trường hợp của mày là bó tay. Mày có biết thế không, Billy?” Manfred nói đầy khinh miệt.

“Xin lỗi anh Manfred,” Billy tất tưởi đi xa khỏi thằng huynh trưởng.

“Anh e là anh không thể đến dự tiệc sinh nhật của mày,” Manfred hét với theo.

“Tiệc sinh nhật nào?”

Billy lầm bầm khi nó đi qua những bức chân dung, qua ba căn-tin, và xuống, xuống tuốt nhà ăn ở dưới lòng đất.

Và ở đó, nó thấy có người nhớ tới sinh nhật của nó. Một chiếc bánh kem thật lớn nằm ở cuối cái bàn để đàn. Chiếc bánh có tên Billy ở trên, bao quanh là tám ngọn nến sáng lung linh.

Billy há hốc miệng, ngạc nhiên, và ngồi xuống bên cạnh chiếc bánh. Rembrandt thò đầu ra khỏi cổ áo len của Billy, thốt lên:

“Trời! Bánh kem với đèn cầy.”

Và rồi bà bếp trưởng xuất hiện, hát bài “Chúc mừng sinh nhật” bằng giọng cao vút, run run.

“Cám ơn bà bếp trưởng,” Billy thổi nến, thầm ước một điều ước bí mật và tự cắt cho mình một lát bánh lớn.

“Ta thấy con đem theo một khách mời,” bà bếp trưởng gật đầu với Rembrandt. “Con tìm thấy nó ở đâu vậy?”

Billy nhìn vẻ mặt phúc hậu, hồng hào của bà bếp trưởng và đột nhiên nó tuôn trào tất cả: cái đuôi của May Phúc, những hòn đá lửa bay, Belle biến hình, và trận chiến kinh hoàng mà nó vừa mục kích.

Bà bếp trưởng vén vạt tạp dề lên lau vầng trán đỏ hây của mình và ngồi xuống bên cạnh Billy. Trông bà lo lắng, nhưng không hề ngạc nhiên.

“Vậy đúng mụ ta rồi,” bà lầm thầm. “Ta biết ngay là có điều không bình thường ở con bé đó. Thầy Samuel Sparks đến đây vì mục đích gì?”

“Thầy tới để kiếm cậu em nhỏ của thầy,” Billy nói với bà bếp trưởng.

“Ollie Sparks? Vậy ra thằng bé vẫn còn ở đây?” Bà bếp trưởng có vẻ rất ngạc nhiên.

“Dạ phải. Con nghe bà già nói thế. Bà ta còn bảo là không ai có thể kiếm ra cậu bé ấy.”

“Trời ơi, họ nhốt thằng bé ở đâu? Ta luôn lo lắng về nó. Bấy lâu nay nó ăn gì? Phải chi ta biết được.”

“Bà nghĩ là họ vẫn bỏ đói anh ấy à?” Billy nói.

“Ô, ta hy vọng là không, Billy. Trời ơi. Phải làm gì đây?”

Bà bếp trưởng đứng lên, vuốt lại tạp dề.

“Ta khuyên con không nên ăn hết cả chiếc bánh đó, Billy. Chừng nào con và con chuột ấy ăn thỏa thích rồi, thì ta sẽ tới và cất phần còn lại đi, để dành cho cuối tuần sau.”

Khi bà bếp trưởng đi về hướng nhà bếp, Billy nói với theo.

“Con biết mọi người nghĩ con là do thám, nhưng con sẽ không nói cho Manfred và lão Ezekiel biết về những gì con thấy đâu, con hứa.”

Bà bếp trưởng quay đầu lại và nhìn Billy.

“Ta chắc chắn là họ biết cả rồi. Về chuyện con làm do thám, ta không trách con, Billy. Một ngày nào đó con sẽ có cha mẹ như con mong ước, nếu gia đình Bloor không kiếm cho con thì ta sẽ kiếm. Nhưng ngay bây giờ, ta phải đi đây, để còn kiếm con chó tội nghiệp bị mất đuôi.”

Khi bà bếp trưởng vội vã đi hết hành lang treo đầy những bức chân dung, một luồng gió lạnh thổi vù quanh mắt cá chân của bà. Như vậy có nghĩa là cổng chính vừa được mở ra. Bà tới tiền sảnh vừa kịp lúc thấy một bóng người lách qua cánh cổng đôi, trước khi gã Weedon đóng sập cổng lại.

“Đó là ai vậy?” Bà bếp trưởng hỏi.

“Việc gì tới bà?” Gã Weedon gắt gỏng.

Bà bếp trưởng rụt vai lại và nói:

“Tôi hỏi một câu lịch sự. Điều tối thiểu ông có thể làm là đáp lại tôi một câu cho lịch sự.”

“Ốốố!” Gã Weedon móc mỉa. “ Thôi đi! Thôi đi!”

“Ông có trả lời tôi không?” Bà bếp trưởng hỏi.

“Không,” gã Weedon đóng chốt cổng lại và đi khỏi.

Bà bếp trưởng, vốn có linh cảm cực nhạy, biết rằng một nạn nhân nữa vừa mới bị đưa vô bẫy. Và từ những gì Billy kể, bà đoán ra nạn nhân đó là ai.

Và bà đoán đúng.

Thầy Boldova, tay xách va li, bước qua mảnh sân gạch và đi qua cổng vòm giữa hai ngọn tháp của Học viên Bloor. Thầy đi xuống những bậc thang tới quảng trường rải sỏi, và ở đó, ánh mắt thầy bị hút về hướng vòi phun nước hình đàn thiên nga đá ở giữa quảng trường. Thác nước ánh lên như vàng óng trong những tia nắng mặt trời cuối cùng.

Thầy Boldova nhíu mày. Tại sao mình lại ở đây? Mình định sẽ đi đâu? Mình là ai?

Một chiếc xe hơi đen đỗ xịch lại ở đầu kia quảng trường. Tài xế, một phụ nữ tóc xám, vẫy thầy Boldova. Thầy bước lại gần bà ta.

“Tôi cho anh đi nhờ được chứ?” Người phụ nữ hỏi.

“È…” Thầy Boldova gãi đầu. “Tôi không biết mình sẽ đi đâu.”

“Tôi biết,” người phụ nữ nói. “Tôi là nhà tiên tri mà. Vô đi, Samuel.”

“Tôi chưa biết…”

“Lẹ lên. Chúng ta không có cả ngày đâu,” tiếng cười của người phụ nữ lạnh tanh và rin rít. “Nhân tiện, tên tôi là Eustacia.”

Thầy Boldova giơ một bàn tay lên che ngang mắt.

Dường như không có nơi nào khác để đi. Thầy bước vòng quanh chiếc xe và leo vô ghế hành khách. Có một việc gì đó thầy phải làm tiếp theo, nhưng đó là việc gì nhỉ?

“Quên dây an toàn đi!” Bà cô Eustacia lại phá ra cười hoang dại, và chiếc xe rồ máy, vọt đi với tốc độ kinh hồn.

Trong giờ nghỉ giải lao đầu tiên, vào sáng thứ Hai, khi Charlie và Fidelio đang treo áo chùng trong phòng để áo khoác xanh da trời, thì Billy Raven vô, với một cục gì phồng lên trong áo len của nó. Chỗ phồng nhúc nhích và Charlie hỏi Billy đang giấu cái gì.

“Không có gì,” Billy bỗng đỏ mặt.

“Ê này, Billy. Không có gì là sao,” Fidelio bảo. “Nó kêu chít chít kìa”

Billy đang định chối biến thì một cái đầu chuột đen ló ra khỏi cổ áo len của nó.

“Đó là Rembrandt,” Charlie nói. “Em làm gì với nó vậy?”

Billy dẩu môi ra, rồi mấp máy:

“Thầy Boldova đưa nó cho em.”

“Anh cá là thầy không hề đưa,” Charlie nói.

Billy vụt ra khỏi phòng, chạy dọc theo hành lang ra cửa vườn, Charlie và Fidelio rượt theo.

“Được rồi, Billy,” Charlie gọi. “Bọn anh sẽ không quy tội gì em hết. Chuột vẫn hay sổng ra mà.”

Billy không dừng lại. Nó vẫn chạy cho tới khi biến mất trong biển người nhấp nhô. Cũng từ biển người ấy nhô ra hai nữ sinh chạy về phía hai thằng con trai.

“Có chuyện kinh khủng mới xảy ra.” Emma thở gấp.

“Chuyện gì?” Bọn con trai cùng hỏi.

Trong khi Emma thở hổn hà hổn hển, Olivia nói:

“Thầy Boldova rời trường rồi.”

“Không đời nào,” Charlie sửng sốt. “Nếu đi thì thầy đã nói với tụi mình rồi.”

“Đúng mà.” Emma đã lấy lại hơi. “ Có chuyện khủng khiếp đã xảy ra với thầy. Mình biết vậy. Mình có cảm giác ghê ghê là hai đứa kia có liên quan.”

Nó nhìn qua Dorcas và Belle, đang ngồi trên bãi cỏ, thì thào với nhau.

Bị lỡ mất cuộc hẹn ở quán Cà Phê Thú Kiểng, Fidelio chẳng hiểu đầu cua tai nheo là tụi bạn nó đang nói về cái gì. Cho nên bốn đứa bạn dạo quanh vườn trong khi Charlie thuật lại tỉ mỉ mọi thứ cho Fidelio nghe. Một nhoáng sau, chúng đã có thêm Gabriel nhập bọn. Gabriel thông báo là nó vừa thấy Billy đang cho một con chuột đen ăn bánh mì nướng. Có thể nào đó là Rembrandt?

“Có lẽ,” Charlie nói. “Mà đúng là nó thật. Giờ họ nói thầy Boldova đi rồi, nhưng em nghĩ có chuyện gì đó khủng khiếp đã xảy ra với thầy.”

“Có liên quan đến con kia không?” Gabriel nói, mắt nhìn Belle xinh đẹp, tóc vàng óng, giờ đang chải những lọn tóc.

Olivia thình lình đứng sựng ngay tại chỗ.

“Nếu con nhỏ đó là người biến hình, thì sẽ khó mà biết chính xác nó đang ở đâu. Nó có thể biến ra bất kỳ người nào.”

“Hay bất kỳ cái gì,” Fidelio nói một cách ảm đạm.

Ý nghĩ này kinh khủng đến độ cả bọn im thin thít.

Tối đó, trên đường tới phòng làm bài tập về nhà, Charlie đuổi kịp Billy Raven, đang bê đầy sách.

“Em đưa Rembrandt đi cùng à? Charlie hỏi.

“Không. Em cất nó trong tủ âm tường phòng ngủ chung,” Billy nói khẽ.

“Anh nghĩ tụi mình nên kiếm cho nó một chỗ khác,” Charlie nói. “Bà giám thị sẽ nghe tiếng nó cào sột sột, ai mà biết bà ấy sẽ làm gì nếu bắt gặp một con chuột trong phòng ngủ chung.”

Billy rùng mình.

“Chắc chắn con chuột sẽ là một người bạn tốt. Nó đã kể cho em nghe nhiều chuyện mà em không biết.”

“Nó có kể cho em nghe tại sao thầy Boldova rời khỏi trường không?” Charlie hỏi.

Đôi mắt màu hồng ngọc của Billy trợn lên khỏi phía trên cặp kính. Nó nhún vai.

Bất giác Charlie nghĩ rằng Billy hẳn đã nhìn thấy những gì xảy ra với thầy giáo dạy vẽ.

“Em biết điều gì đó, phải không Billy?”

Chúng đã tới cánh cửa đen cao nghệu của phòng Nhà Vua, và mặc kệ Charlie, Billy cứ đẩy cửa bước vô. Đống sách vuột khỏi hai cánh tay nó và đổ nhào xuống sàn.

“Từ từ, Billy Raven!” Manfred quát. “Cái gì mà vội vã vậy?”

Từ chỗ ngồi của mình giữa Asa và Dorcas, Belle mỉm cười với thằng bé bạch tạng.

“Đừng khắt khe thế, Manfred. Nó còn nhỏ mà,” Belle nói.

Manfred ngạc nhiên nhìn con bé.

Khi Charlie cúi xuống giúp Billy thu lượm sách vở lên, nó nhận thấy hai tay thằng bé đang run lẩy bẩy. Billy rất sợ hãi.

Trước kia, mười hai đứa trẻ được ban phép thuật ngồi đồng đều quanh chiếc bàn tròn. Nhưng dần dần, vị trí của chúng đã thay đổi. Bây giờ thì phân thành hai nhóm rõ rệt. Manfred, Asa, Belle và Dorcas ngồi một bên vòng tròn, trong khi Tancred, Lysander, Gabriel, Emma và Charlie ngồi ở phía bên khia. Billy bị dôi ra.

“Ngồi gần anh này, Billy,” Charlie nói nhỏ.

Billy mỉm cười với nó đầy biết ơn, và đặt chồng sách kế bên Charlie.

Sau giờ học bài, Charlie đi kèm sát Billy khi chúng về phòng ngủ chung. Gabriel đuổi kịp hai đứa, và vì vẫn yêu thích thú vật, thằng này hỏi thăm xem điều gì đã xảy ra cho Rembrandt. Khi nghe nói Rembrandt bị nhốt trong tủ âm tường, nó đề nghị bọn chúng nên đem con chuột vô phòng vẽ, nơi thầy Boldova vẫn giữ con này trong một cái lồng rộng, thoáng khí.

“Nhưng em có đi thăm nó được không?” Billy hỏi. “Em không thuộc khoa hội họa.”

“Dĩ nhiên là được,” Gabriel bảo đảm với Billy. “Emma luôn ở trong phòng vẽ. Em cứ hỏi chị ấy.”

“Được,” Billy vụt lên trước.

Và khi những đứa khác về tới phòng ngủ chung thì Billy đang ngồi chờ, cùng với Rembrandt ở dưới vạt áo chùng.

Phòng vẽ ở cùng một tầng với phòng ngủ chung của bọn con trai. Đó là một không gian rộng thênh, mái trần cao, với những cửa sổ dài hướng về phía bắc, nhìn ra khu đổ nát. Những khung vẽ với giá đỡ đủ mọi tư thế dựng khắp phòng, những tấm vải bạt được xếp thành từng chồng ba hay bốn tấm dựa vô khắp các bức tường. Lồng của Rembrandt ở trong một góc, bên cạnh kho chứa màu vẽ.

Không có ai ở trong phòng vẽ, ngoại trừ Emma. Con bé đang vẽ một con chim màu trắng thật lớn, bay qua khu rừng. Nó ngừng vẽ để chỉ cho bọn con trai nơi thầy Boldova cất đồ ăn cho Rembrandt, ở cuối kho màu vẽ.

Khi con chuột đen được đặt vô một chỗ thoải mái rồi, với nước sạch và thật nhiều hạt ngũ cốc, Emma khóa cửa lồng lại.

“Mình không thể không nghĩ tới thầy Boldova,” con bé nói. “Cả khoa học đều nhớ thầy. Bồ biết đó, hình như thầy luôn đứng về phía tụi mình.”

Không một dấu hiệu báo trước, bất ngờ, nước mắt rơi lã chã trên má Billy.

“Em biết, em biết,” nó sụt sịt. “Em đã trông thấy tất cả.”

“Em đã thấy cái gì?” Charlie hỏi.

Billy quệt tay áo ngang mặt, và bằng giọng khiếp đảm, nghẹn ngào, nó thuật lại những biến cố khủng khiếp trong ngày sinh nhật thứ tám của nó: cái đuôi của May Phúc, người phụ nữ già khụ hiện ra từ thể xác của Belle, những cục than bay, và tình trạng cứng đơ đáng sợ, đột ngột giáng xuống thầy giáo dạy vẽ.

“Thầy không muốn nhận Rembrandt,” Billy nức nở. “Hình như thầy quên hết mọi thứ… Thậm chí quên luôn mình là ai.”

“Bị thôi miên rồi,” Charlie lầm bầm.

Bọn kia kinh hãi nhìn Charlie chằm chằm, và Emma bảo:

“Không gì mà Belle không thể làm được, phải không? Giờ tụi mình sẽ phải giúp Ollie như thế nào?”

“Các anh chị biết anh ấy ở đâu à?” Billy hỏi.

Charlie phân vân không biết có nên cho thằng bé biết hay không. Charlie rất tội nghiệp cho thằng bé bạch tạng này, nhưng nó đã từng là gián điệp cho Manfred. Tốt hơn là không nên cho nó biết quá nhiều thông tin, tới chừng nào cả bọn chắc chắn có thể tin được nó. Mấy đứa bạn Charlie rõ ràng cũng đi đến kết luận tương tự.

“Không, tụi anh không biết nó ở đâu,” Gabriel nói. “Anh nghĩ tụi mình nên về lại phòng ngủ chung đi, không thì bà giám thị sẽ hoạnh họe cho coi.”

Billy năn nỉ được ở lại thêm vài phút với Rembrandt, ba đứa lớn để nó ngồi chổm hổm bên lồng chuột, chít chít nhè nhẹ với con chuột đen.

Billy ở lại nói chuyện với Rembrandt lâu hơn nó dự định rất nhiều. Cuối cùng, khi nó chuồn khỏi phòng vẽ thì bà giám thị đã thông báo tắt đèn rồi.

Nó chạy gấp qua hành lang, kẹp chặt kính vô mũi, và bị ríu chân, té ngã.

“Mày vừa ở đâu đó, Billy Raven?”

Manfred bước ra từ một ngưỡng cửa, chặn đường thằng bé.

Billy sợ đến nỗi không dám nói dối, nhưng nó quyết định chỉ nói một nửa sự thật.

“Em… em vừa cho con chuột của thầy Boldova ăn,” nó nói. “Em bắt được nó ở trong hành lang.

“Anh không nghĩ mày nói thật, Billy,” Manfred lạnh lùng.

“Thật, thật mà,” Billy cuống quít.

“Anh nghĩ mày đã thấy cái gì đó, Billy. Anh nghĩ, mày đã cứu con chuột đen khi thầy giáo hội họa yêu quí đã ra đi của chúng ta bị một tai nạn nhỏ.”

“Không, không!”

Manfred quắc mắt nhìn xuống Billy.

“Mày đã thấy cái gì?”

“Em không thấy gì hết,” Billy lắp bắp, né nhìn con mắt đen thui, đầy vẻ hăm dọa của Manfred.

“Nói láo. Mày đã thấy chuyện xảy ra với ông Boldova, và mày đã nói với Charlie Bone rồi phải không?”

Billy có cảm giác bất an rằng nếu nói ra sự thật thì nó sẽ khiến Charlie gặp rắc rối.

“Không,” nó cương quyết. “Em chẳng thấy gì cả, và em cũng chẳng nói với Charlie cái gì hết.”

Manfred thở hắt ra giận dữ.

“Mày tưởng là anh sẽ rời Học viện Bloor vào cuối học kỳ này sao?”

Billy không hề nghĩ tới điều đó. Nó lắc đầu.

“Tất cả những học sinh lớn khác đều sẽ ra trường. Bây giờ là học kỳ hè. Tụi anh có nhiều bài thi phải học. Cho nên tạm thời lúc này anh đang bận, nhưng anh sẽ không rời khỏi đây đâu. Anh sẽ ở lại đây và sẽ có rất nhiều thời gian để để mắt tới mày.”

“Vâng,” Billy lí nhí.

“Cho nên, tốt hơn mày hãy nhớ là mày đang làm việc cho ai, Billy. Nếu không mày sẽ không bao giờ có được ba mẹ tử tế, dễ thương như mày muốn đâu.”

CHIM SÁO ĐÁ

Billy ngồi thừ ở đầu giường. Tất cả mọi người trong phòng ngủ chung hình như đều đã ngủ say, nhưng Billy lại chưa bao giờ thấy tỉnh táo hơn thế này. Trước cuộc trạm chán hãi hùng với Manfred, nó đã có một cuộc chuyện thú vị với Rembrandt.

Con chuột đen này đã kể về ngôi nhà đầy ắp tiếng cười và ánh sáng lấp lánh. Một ngôi nhà của sách vở, âm nhạc, và của những bức tranh, nơi trước kia từng có một gia đình hạnh phúc. Ở đó từng có một cậu bé tên là Oliver, một tài năng thổi sáo. Mọi người trông đợi cậu sẽ bộc lộ một tài phép ( thậm chí lớn hơn) như tài phép của cha và anh trai cậu, là có thể biến đá thành lửa. Nhưng cậu được gửi đi học xa và không bao giờ trở về nhà nữa.

Billy nhớ lại Ollie Sparks. Cậu này học ở khoa nhạc, và đã từng ở lại với một người bạn vào những ngày cuối tuần. Ollie là một cậu bé vô cùng tò mò, và điều này từng làm nhiều người bực bội. Ollie hay gặp rắc rối vì hay mò tới những nơi mà nó không nên tới.

Rembrandt bảo với Billy rằng Ollie vẫn còn ở trong Học viện này. Con chuột đen ngửi thấy mùi của Ollie, và đã lần kiếm ra được cậu bé sống trên một trong những căn gác mái, nhưng không thấy được Ollie, ngoại trừ một ngón chân. Ngoài ra còn có một con rắn ở trên khu vực cổ xưa của tòa nhà, một con vật màu xanh da trời dễ sợ. Nó xưa đến nỗi bộ óc của Rembrandt không thể đo lường nổi.

“Thiệt kỳ quái,” Billy lẩm bẩm một mình.

Billy tính nằm kềnh xuống giường. Nó không nghe thấy tiếng Charlie này giờ rón rén bò lại gần giường nó.

“Em đang nghĩ về con Rembrandt,” Billy thì thầm. “Nó kể với em rất nhiều điều. Em không thể hiểu hết được.”

“Cuối tuần tới em có muốn tới nhà anh và ở lại không?” Charlie hỏi. “Em có thể mang theo con chuột đen đó.”

Charlie kiễng chân trở lại giường mình, trong khi Billy chui vô mền, và ngủ một giấc ngon lành nhất từ xưa tới nay.

Trong những ngày tiếp theo, Charlie dần nhận ra Học viện coi trọng vở kịch mùa hè đến thế nào. Giờ giải lao nào cũng thấy Olivia bước đi loanh quanh sân chơi, lẩm nhẩm học phần thoại của nó. Thỉnh thoảng có Emma đi kế bên, cầm theo một tập bìa cứng chứa đầy những phông cảnh mà Manfred đã cho in ra.

Fidelio càng ngày càng dành nhiều thời gian trong phòng hòa nhạc để tập luyện nhạc nền cho vở kịch, và Charlie thấy rằng đám bạn đi cặp kè với nó trong giờ giải lao chỉ còn có Gabriel Silk và Billy Raven. Chẳng mấy chốc nó cũng nhận ra là, thông qua Rembrandt, Billy đã biết tất cả những gì có thể biết được về cậu bé vô hình. Nhưng hình như thằng bé chưa tiết lộ thông tin này cho Manfred. Như vậy có nghĩa là bây giờ có thể tin cậy được Billy? Có một bữa, Billy thậm chí còn đề nghị là nó sẽ đi kiếm Ollie.

“Ban đêm em được phép đi thăm lão Ezekiel Bloor,” Billy nói. “Vì vậy nếu em bị bắt gặp thì bà giám thị cũng không ngạc nhiên.”

“Anh không thích như vậy, Billy,” Charlie thú nhận. “Bà giám thị có thể sẽ trừng phạt em rất đích đáng.”

“Ngoài ra, còn có một con trăn đang rình mò ở đâu đó,” Gabriel thêm. “ Tụi này không muốn có hai thằng bé vô hình bị nhốt trên gác mái.”

“Chắc con trăn đó đã quấn cái đuôi của May Phúc,” Billy nói, vẻ tư lự. “Rembrandt nói rằng con trăn này xưa tới nỗi nó không thể đo lường được.”

“Chuột không hiểu thời gian,” Gabriel nói, vẻ hiểu biết.

“Em cũng không chắc mình có hiểu không?” Charlie lẩm bẩm.

Nó vừa tính vô bên trong tòa nhà khi hết giờ giải lao thì Olivia chụp lấy tay áo nó.

“Chờ chút, Charlie” Olivia la lên. “Tụi tớ có chút chuyện muốn nói với đằng ấy.”

Charlie nấn ná ở lại, trong khi Billy và Gabriel bị cuốn đi cùng với đám đông học trò đang ùa vô tiền sảnh.

“Gì vậy? Coi chừng tụi mình bị trễ giờ học kèn trumpet bây giờ.”

“Tối nay mình sẽ đi ra ngoài, để kiếm căn phòng tụi mình đã gặp Ollie,” Emma nói nhỏ. “Và mình phải đi một mình.”

“Bồ tính sẽ bay à?”

Emma gật đầu.

“Mình sẽ nhìn từ bên ngoài nhìn vô. Hoặc mình có thể bay vô nếu có một cửa sổ nào đó để mở. Mình nghĩ mình chưa cứu Ollie được ngay đâu. Mình chỉ muốn cho cậu ấy biết rằng tụi mình vẫn đang cố gắng thôi.”

“Trời tối lắm,” Charlie ngại ngùng. “Làm sao bồ thấy đường.”

“Bọn này sẽ xong xuôi trước khi đèn tắt,” Olivia thì thào. “Tớ nghĩ ý đó hay tuyệt đấy. Nhưng phải bảo đảm cho bọn này có một cửa sổ để mở ở trên lầu của bọn này cho Emma quay trở về. Đằng ấy có làm được vậy không? Charlie? Belle ngủ sát ngay bên tớ. Con đó sẽ đóng hết cửa sổ phòng ngủ chung lại ngay nếu tớ mở ra. Nó canh chừng tớ như diều hâu vậy.”

Rồi con bé liếc nhìn Emma.

“Ừm, có lẽ không phải như diều hâu, mà còn hơn cả rắn độc… Việc quái gì phải bực mình đồ rắn độc.”

Charlie cười toét. Nụ cười của nó tắt ngay khi Asa nhìn ra phía chúng và nạt nộ.

“Ba đứa bay đang làm gì đó? Coi bộ tụi bay thư thả quá hả. Tụi bay sẽ trễ giờ học nếu không chịu lẹ lẹ lên.”

Ba người bạn nhảy tót vô tiền sảnh và rẽ ra, mỗi đứa lao về phòng để áo khoác của khoa mình. Charlie ráng chạy tới lớp kèn sáo của thầy Paltry ngay trước khi ông thầy già này vô tới, ca cẩm về tất cả những công việc thầy phải làm thêm cho vở kịch của trường.

“Trò chả cần phải lo lắng làm gì, Charlie Bone,” thầy Paltry bảo. “Phải mất bao nhiêu năm nữa trò mới mong đạt tới tiêu chuẩn chơi cho dàn nhạc của trường.” Ông xuống giọng nói thêm, “Chắc chắn là không bao giờ đạt được.”

Charlie chỉ nhe răng cười. Chơi kèn trumpet không phải là một trong những mối ưu tiên của nó.

Trước bữa tối hôm đó, Charlie gặp Gabriel và Fidelio đang ra khỏi phòng hòa nhạc. Khi nó kể cho hai thằng nghe sứ mệnh sắp tới của Emma, chúng rất sốt sắng đòi giúp. Fidelio đề nghị cả bọn hãy mở toang tất tần tật các cửa sổ nào có thể, nhưng Charlie lo như thế là quá lộ liễu. Bà giám thị Yewbeam và các phụ tá chắc chắn sẽ đi quanh tòa nhà, kiểm tra tất cả mọi cửa sổ.”

“Em chỉ cần các anh che chắn cho em khi em rời phòng ngủ chung,” Charlie bảo. “Cứ nói là em đang ở trong nhà tắm gì đó.”

“Bà giám thị không bao giờ tin tôi lấy một lời,” Gabriel ca cẩm. “ Nhưng tụi này sẽ cố hết sức.”

Charlie chờ cho đến khi tiếng chuông đồng hồ nhà thờ lớn điểm nửa đêm. m thanh mười hai tiếng chuông ấy không lúc nào không khiến nó lạnh toát sống lưng. Chính vào tiếng gõ thứ mười hai, cách đây tám năm, ba Lyell của nó đã bị đẩy vô một trạng thái hôn mê mà ông không thể nào tỉnh dậy được. Manfred Bloor đã làm việc đó. Dù lúc ấy hắn còn nhỏ xíu, nhưng đã có quyền năng rất lớn. Chiếc xe hơi của ba Lyell được kiếm ra dưới đáy một hầm đá sâu, và tất cả mọi người đều tin rằng ông đã chết, nhưng Charlie biết rằng điều đó không đúng. Nội Bone đã xóa sạch mọi hình ảnh về ba nó, và Charlie không thể nhớ ông như thế nào, nhưng nó tin chắc, một ngày nào đó, nó sẽ dùng tài phép của mình để kiếm ra ba Lyell và đánh thức ông dậy. Đồng thời nó sẽ làm hết sức mình để ngăn không cho gia đình Bloor tác oai tác quái và hủy hoại cuộc sống của mọi người nữa. 0Charlie ra khỏi giường và khẽ đi ra cửa. Trong hành lang tối thui tối mù, và nó phải đi men theo tường cho đến khi tới được cầu thang dẫn lên khu phòng ngủ chung của nữ.

Những bậc thang cũ mục rung lên cọt kẹt, cho dù Charlie đã leo bằng những đầu ngón chân. Khi lên tới đầu cầu thang, Charlie thở phào một cái và chạy lẹ tới khoảnh ánh sáng le lói phát ra từ một cửa sổ nhỏ. Nó mở cửa sổ đó ra, đủ rộng cho một con chim nhỏ bay lọt vô. Nhưng nó vừa mới dợm quay trở lại cầu thang thì một bóng đen đập vô mắt nó. Bóng đen lướt ra khỏi khoảng tối từ phía kia của cửa sổ, và Charlie sững sờ đến nỗi không bước đi được.

“Bạn đang làm gì thế?”

Giọng nói này là của một trong những người cuối cùng mà Charlie muốn gặp.

“Belle!” Nó nói. “Tôi không thể ngủ được. Nên tôi quyết định đi dạo một chút.”

“Ở trên lầu của con gái?” Belle tiến lại gần hơn, và Charlie có thể thấy đốm sáng trong đôi mắt thay đổi kinh khủng của Belle.

“Có nghĩ gì đâu,” Charlie làu bàu.

“Chậc chậc. Cửa sổ mở toang thế này. Hèn chi mà lạnh quá chừng.” Belle đóng sầm cửa sổ và chốt lại. “Tốt hơn nên trở về giường trước khi Manfred bắt gặp bạn.”

“À, ừ.”

Charlie bước trở lại cầu thang. Khi nó ngoái lại nhìn, Belle vẫn còn đứng đó. Nó cần phải kiếm một cửa sổ ít gây nghi ngờ hơn mới được.

Tới phòng vẽ, Charlie nghĩ. Lúc kiếm đường lên cầu thang đã khó rồi, nhưng quay trở xuống thậm chí còn khó hơn. Charlie ước gì nó còn cây đèn pin mà bà bếp trưởng cho nó hồi học kỳ trước. Bà giám thị Yewbeam đã tịch thu cây đèn rồi. Chắc chắn bà ta đang giữ nó ở Ngách Tối, Charlie nghĩ. Còn khuya mới có cơ may lấy lại được cây đèn khỏi nơi đó.

Cuối cùng, nó cũng kiếm ra đúng cửa và lẻn vô phòng vẽ. Nếu không có ánh sao nhợt nhạt luồn qua những cửa sổ dài, chắc hẳn Charlie đã đâm sầm vô một đống giá vẽ rồi. Quả tình, nó đã kịp đi vòng qua đống giá vẽ, hướng ra cửa sổ. Tại đây, Charlie nhận ra là chỉ có thể mở được cái khung nhỏ, nằm tuốt trên cùng của mỗi cửa sổ. Nhưng nó không tài nào với tới được cao đến như vậy.

Ở một góc xa, có một cầu thang xoáy trôn óc dẫn xuống phòng điêu khắc. Hy vọng sẽ kiếm được một cửa sổ dễ mở hơn dưới đó, Charlie mò mẩm đi giữa những giá đỡ và những thùng màu vẽ, và nó vừa tính đi xuống thì chợt nghe thấy một tiếng soạt, rồi một tiếng chít. Nó nhận ra hình hài đen đen của Rembrandt, đang đứng nhổng trên những thanh lồng.

“Không sao đâu, Rembrandt, tao đây mà.”

Charlie ước gì nó có thể nói được ngôn ngữ chuột giống như Billy. Nhưng Rembrandt có vẻ nhận ra giọng nói của Charlie và trở lại tỉ mẩn rỉa mấy hạt lúa mì.

Charlie nhón chân đi xuống những bậc thang xoáy ốc bằng thép, lạnh băng. Khi xuống đến chân cầu thang, nó nghe có tiếng búa gõ và nhận thấy có đốm sáng nhỏ xíu phát ra từ một góc xa. Có người nào khác ở trong phòng điêu khắc! Charlie tê cứng người. Thầy Mason, thầy giáo dạy điêu khắc, là một người lạnh lùng. Đáng lý ra Charlie phải không ngạc nhiên khi thấy thầy làm việc vào giữa khuya mới phải.

Một giọng nói vang lên:

“Ai đó?” Và một tia sáng chĩa về phía Charlie. “Charlie hả? Em làm gì ở đây?”

“A…Ai đó?” Charlie hoảng hồn.

“Anh đây, Tancred. Có cả Lysander ở đây nữa.”

“Phùùù!”

Charlie bước tới chỗ phát ra ánh sáng. Nó thấy Lysander đang ngồi bên cạnh một khúc gỗ, trong khi Tancred đứng phía sau, tay cầm đèn pin. Cả hai đều mặc áo chùng xanh lá cây khoác ra ngoài bộ đồ ngủ.

“Các anh đang làm gì thế?” Charlie hỏi.

Lysander giải thích là nó đang thí nghiệm.

“Gabriel có nói cho anh biết về Ollie Sparks,” nó nói. Nghĩ coi, nếu anh… ừm… khắc một bức tượng giống như Ollie, thì anh có thể gọi hồn xin tổ tiên của anh và cho cậu bé vô hình ấy một cơ thể… Hiểu chưa?”

Charlie không hiểu. Nó không thể hiểu Lysander đang nói về cái gì.

“Anh có biết Ollie trông như thế nào không?”

“Biết chứ,” Lysander nói. “Anh nhớ thằng bé này rất rõ. Một cậu bé dễ thương, nhưng hay tọc mạch. Quá tọc mạch. Anh có thể trông thấy nó rõ như mới hôm qua.”

“Sander làm được mà,” Tancred nói, vẻ thán phục. “Nó có thể nhớ như in từng chi tiết. Nó sẽ đẽo mẩu gỗ này cho đến khi trông hệt như thật, tới mức em thấy như đang thở vậy.”

“Vậy à?”

Khúc gỗ đã rõ hình một cậu bé, tuy nhiên, Charlie chưa hiểu cái tượng này sẽ giúp Ollie kiểu gì. Tài phép của anh Lysander quả là tuyệt chiêu nếu anh ấy có thể biến một khúc gỗ thành một người sống, hít thở được. Nhưng Ollie thật thì đang bị kẹt trên gác mái. Thêm một Ollie nữa thì sẽ làm được gì cho Ollie kia?

“Chúng ta không cần tới hai Ollie,” Charlie bảo.

Lysander giải thích rằng một khi tổ tiên tâm linh của nó trông thấy một hình hài giống hệt Ollie, thì họ có thể phả vô cậu bé vô hình kia một hình hài và linh hồn. Tức là, họ có thể làm cho Ollie hữu hình trở lại.

“Chao!” Charlie thốt lên. “Tuyệt thật!”

“Nào, bây giờ thì tụi anh hỏi tại sao em lại ở đây?” Tancred nói.

“Tối nay Emma sẽ ra ngoài,” Charlie kể với hai anh lớn. “Các anh biết đó… nó sẽ bay đi kiếm phòng của Ollie, để báo cho Ollie biết là chúng ta vẫn đang cố tìm cách cứu nó.”

“Tốt hơn hãy khoan nói cho nó biết về thầy B.,” Tancred cảnh báo.

“Phải,” Charlie tán thành. “Có điều Emma không thể trở lại qua những gác mái cũ kỹ đó. Nó sẽ lạc trong đêm tối mất. Cho nên em đang tìm cách để một cửa sổ mở.”

Rồi nó kể cho hai anh lớn về Belle.

“Hừm.”

Tancred nhìn những ô cửa sổ. Chúng cũng hệt một kiểu như những cửa sổ ở trong phòng vẽ, chỉ những khoảnh nhỏ ở trên cùng mới có thể mở được, và vào lúc này tất cả đều đóng chặt lại.

“Thỉnh thoảng thầy Mason mở chúng ra bằng một cây sào,” Tancred nói. “Nhưng ở đây không có sào.”

Cậu bé tóc vàng, cao lớn liền sải bước quanh phòng, Charlie có thể cảm nhận có một luồng gió xoáy quanh bàn chân Tancred. Những mẩu gỗ, mảnh giấy, những mẩu đất sét và những cái đục nhỏ bắt đầu lăn đi và xê dịch trên sàn nhà lót ván.

“Coi chừng, Tanc!” Lysander nhắc.

“Rồi, rồi. Mình sẽ chú ý,” Tancred nói. “Bắt đầu nào!”

Kiếm được một khoảng trống ở giữa phòng, Tancred quay tròn, áo chùng của nó xòe ra, quay tít như một bánh xe màu xanh là cây. Charlie nhìn, ngây ra trước những hạt bụi xoay tít, thấm đẫm ánh sao, cho tới khi thân hình quay tròn của Tancred thình lình ngừng lại. Tancred giơ một cánh tay cao lên, chỉ vô đỉnh cửa sổ, và một luồng gió lạnh buốt phóng vuột khỏi những ngón tay nó, xé không khí lướt tới. Rồi một tiếng “rắc” thật sắc, một tấm kính rớt ra. Nó rớt gọn gàng xuống vạt áo chùng đang tung lên của Tancred.

“Thấy sao?” Tancred nói, đầy tự hào.

“Tuyệt diệu,” Lysander bảo.

“Lạ lùng,” Charlie suýt xoa.

Tancred giấu tấm kính bể vô một đống ván dựng ở bức tường cuối phòng.

“Thầy Mason sẽ không phát hiện ra đâu,” nó nói.

Charlie nhìn lên khung cửa sổ trống rỗng.

“Phải chi tụi mình nhìn thấy Emma,” nó lầm bầm. “Em chưa bao giờ thấy nó bay hoặc thậm chí lúc biến thành chim.”

“Có những điều nên làm trong bí mật thì tốt hơn,” Lysander nói vẻ huyền bí. “Thôi, tụi mình nên thu dọn và trở về ngủ đi, không thì sáng mai sẽ không thể mở mắt ra được.”

Tancred cầm đèn pin dẫn đường leo lên cầu thang thép xoáy ốc, và đi qua phòng vẽ. Phòng ngủ chung của Charlie ở quãng giữa hành lang này. Với giọng thì thào “Chúc ngủ ngon,” hai anh lớn đi về phòng ngủ chung của họ ở cuối hành lang.

Vào lúc đó, Emma đang ở một cửa sổ trong hành lang bên ngoài phòng ngủ chung của nó. Trước khi bay đi, con bé đã phải trải qua những khoảnh khắc sợ hãi đến kinh khủng. Nó không bao giờ chắc được cánh tay mình có trở thành cánh không, hoặc đôi cánh có nâng được mình lên khỏi mặt đất hay không. Nó phải nhắm nghiền mắt lại và nghĩ về một con chim, sau đó phải tin vào chính mình và vào tổ tiên đã ban cho mình tài phép kỳ lạ này.

Tối nay, Emma chọn hình hài một con chim sáo đá. Được một cái tủ đựng chén dĩa che kín đáo, con bé bắt đầu nhăn quắt lại và teo rút đi, nhỏ dần, nhỏ dần, trong khi những sợi lông bóng mượt lăn tăn dần phủ khắp cơ thể. Emma ngậm mẩu giấy gởi cho Ollie vô miệng, và khi việc biến hình đã hoàn tất, nó nâng cánh lên. Nhưng đúng lúc nó bay vụt qua cửa sổ thì có ai đó khoác áo ngủ nhờn nhợt bước về phía nó. Emma lao vô bầu trời đầy sao ngay khi cửa sổ đóng lại đánh sầm phía sau lưng.

Emma cố không nghĩ tới chuyện sẽ trở về như thế nào, mà chỉ tập trung vô việc kiếm căn phòng gác mái nơi Ollie Sparks bị giam hãm. Đã hai lần nó bay vòng quanh tòa nhà dữ tợn, buồn thảm, thỉnh thoảng đậu lên một rìa cửa sổ, một trán tường hay một máng xối dưới mái nhà. Nhưng những căn phòng đen ngòm bên trong các cửa sổ của tầng gác mái nhỏ xíu chẳng để lộ thứ gì. Không thấy một ngọn đèn, cũng không thấy một bóng đen, không thấy giường nhàu nhì, không thấy hũ mứt hay ngón chân hồng.

Vì vậy, Emma bay thấp xuống bên dưới tầng gác mái, và ở đây nó trông thấy vài thứ: một căn phòng thắp nến, nơi có một lão già được một núi gối đệm chống đỡ, ngồi chìm trong một chiếc giường bốn cọc. Trước kia Emma đã trông thấy gương mặt khô héo, đáng sợ này rồi, lúc nó cũng bị giam giữ trên gác mái. Lão Ezekiel Bloof lúc này đang đội một cái nón ngủ ôm sát đầu, mặc áo ngủ nhung đen cẩn những hạt đen bóng. Lão bật cười một mình khi một ngón tay xương xẩu của lão lần khắp một trang sách khổng lồ. Emma vội bay đi.

Ở tầng lầu bên dưới nữa, Emma thấy bà giám thị Lucretia Yewbeam, choàng áo ngủ màu tím, đang chải mớ tóc dài màu xám trắng. Và xa hơn một chút, Emma nhận ra Manfred Bloor, mặc áo dài đen, mái tóc đen xõa khỏi đuôi ngựa, lòa xòa vài lọn quanh mặt hắn. Hắn đang quay lưng lại cửa sổ, nhưng Emma có thể thấy hình phản chiếu của hắn trong chiếc gương dài mà hắn đang nhìn vô chằm chằm. Và rồi, hắn trông thấy Emma.

Manfred chỉ trông thấy một con sáo đá, đậu trên gờ cửa sổ bên ngoài phòng hắn. Nhưng hắn dòm trừng trừng vô hình phản chiếu của con chim và rồi quay ngoắt lại. Emma bay vụt đi, tim nó đánh loạn xạ. Nó há mỏ ra và thét lên một tiếng kêu sợ hãi. Và mẩu giấy bị cuốn theo gió, trôi đi mất.

Hắn biết đó là mình, Emma nghĩ. Hắn đã thấy mẩu giấy. Bây giờ hắn sẽ làm gì?

SỰ TRỞ VỀ CỦA ÔNG CẬU PATON

Sáng hôm sau, Charlie nghĩ mình là đứa cuối cùng xuống ăn sáng, nhưng khi đang vội vàng đi qua những bức chân dung, nó nghe có tiếng ai đó nặng nề bước đằng sau. Nó quay lại và thấy Emma, mặt tái nhợt và mắt thiếu ngủ. Trong khi Charlie chờ con bé đuổi kịp mình, một người nữa xuất hiện. Đó là Olivia. Còn ai mà mang giày vàng chóe với vớ đen nữa? Đó là một trong những mốt quần áo quái chiêu mà bọn khoa kịch không hiểu sao lại rất ưa chuộng.

Olivia đang lăn đi trong tư thế lệch hẳn qua một bên, rất lạ. Con bé giơ một bàn chân trong chiếc giày vàng lên.

“Của mẹ tớ đó. Hy vọng mẹ không nổi tam bành lên.”

Emma ngó xăm xoi chiếc giày và ngáp.

“Tối qua bồ xoay xở thế nào?” Charlie hỏi.

Emma nhăn mặt. “Không sao kiếm được cửa sổ phòng Ollie. Tất cả cửa nào cũng giống cửa nào. Mình làm rớt tờ giấy rồi.”

“Tờ giấy nào?” Olivia hỏi. “Đằng ấy có hé răng về mẩu giấy nào đâu.”

“Mình mang đi để đưa cho Ollie. Nhưng tất cả các cửa sổ gác mái đều đóng.”

“Mang nó ở trong…?”

Charlie tính nói là “mỏ” nhưng không nói ra được.

“Miệng,” Emma đáp, thảy cho nó một cái nhìn thật tức cười.

“Bồ có kiếm ra cửa sổ phía trên phòng điêu khắc không? Charlie nói khẽ.

“Cuối cùng cũng kiếm ra được. Cám ơn nhé.” Emma lại ngáp cái nữa.

“Đó là nhờ anh Tancred.”

Chúng đã tới nhà ăn lớn, ở đây chúng phải tách ra, mỗi đứa đi về phía bàn ăn của khoe mình. Charlie nhận thấy Emma phải ngồi sát bên Belle. Nó thấy lo lắng cho bạn. Giả sử ai đó kiếm ra tờ giấy Emma viết thì sao? Nếu gia đình Bloor biết Emma đang cố tìm cách cứu Ollie, thì ai mà biết họ có thể sẽ làm gì.

Mình mừng là nó biết bay, Charlie nghĩ.

Ngồi kế bên, Fidelio vừa làm xong muỗng cháo yến mạch cuối cùng của nó.

“Chắc chắn là có việc xảy ra mà anh cần phải biết, Charlie,” nó nói. “m nhạc chiếm hết cuộc sống của anh rồi, nhưng anh vẫn muốn biết việc gì xảy ra với tất cả mọi người.”

“Chủ nhật này anh tới quán Cà Phê Thú Kiểng đi,” Charlie nói. “Tất cả đều sẽ tới đó. Có khi còn có cả anh Tancred và Lysander nữa.”

Nó nhận thấy Billy đang dòm nó từ phía bàn đối diện.

“Và cả Billy,” nó thêm.

“Billy?” Fidelio hạ thấp giọng. “Vậy có khôn ngoan không?”

Charlie nhún vai. “Em nghĩ nó đang đổi chiều, anh hiểu em nói gì rồi đó.”

“Ừm” Fidelio nói.

Giờ nghỉ giải lao đầu tiên, trong khi những đứa khác đang tập tành cho vở kịch, Charlie giúp Emma kiếm mẩu giấy mà con bé đã làm rớt. Charlie vừa mới hé nhìn vô bụi cây bên cạnh cửa vườn thì Belle và Dorcas bước lại gần.

“Tôi không biết là bạn quan tâm đến nghề làm vườn đấy, Charlie,” Belle lên tiếng.

“Nghề gì?” Charlie hỏi.

“Thôi bỏ. Bạn đang kiếm gì đó?”

“Không kiếm gì cả.”

Charlie đút hai tay vô túi quần và bước đi khỏi. Nó nhóng tìm Tancred và Lysander nhưng chẳng thấy hai anh đâu. Có lẽ Lysander tranh thủ đẽo tượng. Cả Billy cũng biệt dạng, nhưng thằng bé còn có con chuột đen để cho ăn và vỗ về.

Một vài phút trước khi hết giờ giải lao, Charlie gặp Emma. Con bé vẫn chưa kiếm ra tờ giấy.

“Mình chắc là nó đã bay vô trong cái sân gạch rồi,” Emma nói.

Đây là tin xấu. Không đứa trẻ nào có thể ra ngoài đó được, một khi cổng chính đã đóng lại sáng thứ Hai.

“Mẩu giấy ghi cái gì vậy?” Charlie hỏi.

Emma cắn môi:

“Đừng mất hy vọng, Ollie. Chúng tôi không quên bạn đâu. E.”

“E? Chỉ E thôi à? Charlie nói. “Vậy thì có gì đáng lo đâu?”

“E tức là Emma,” Emma rầu rĩ. “Họ sẽ biết cho coi.”

“Thôi thì mình cứ hy vọng là họ không kiếm ra nó,” Charlie nói.

Tiết học tiếp theo của Charlie là tiết lịch sử, và như thường lệ, nó thấy khó mà tập trung được. Hên mà thầy Pope không hỏi nó câu nào. Xem ra thầy đã hết đường trông cậy vô nó – mà như vậy cũng được, bởi vì cùng một lúc nó còn phải vật lộn với nhiều vấn đề khác, và không có cái nào trong số đó liên quan tới Napoleon.

Vậy thì, đó là gì? Rõ ràng là gia đình Bloor, và Belle nữa, dĩ nhiên rồi. Nhưng gã Weedon, người làm vườn cũng là một kẻ rầy rà, không đáng tin cậy. Và bà giám thị, bà cô Lucretia của Charlie cũng rõ là kẻ thù. Những giáo viên còn lại thì sao? Thật khó đoán. Phải chi có ông cậu Paton để mà trò chuyện, nhưng Ông cậu vẫn biệt vô âm tín.

Charlie chưa kịp nghĩ cho ra đầu ra cuối thì buổi học đã hết, và thầy Pope đang quát om lên:

“Một bài học nữa vừa trôi qua trước mặt trò đấy, Charlie Bone. Ngay sáng thứ Hai tới sẽ có bài kiểm tra về những chiến dịch của Napoleon. Nếu trò không làm được hơn bảy mươi phần trăm thì trò sẽ bị cấm túc.

Quai hàm Charlie trễ xuống. Điều này có nghĩa là toàn bộ thời gian cuối tuần sẽ phung phí vô việc học thuộc những ngày tháng năm. Nó gom sách vở và âu sầu bước ra khỏi phòng học lịch sử.

Bọn trẻ khác cũng phải đối mặt với cùng một vấn đề. Tin tức về những bài kiểm tra nổi lên khắp nới. Rõ ràng các thầy cô đều đang trong cơn sốt kiểm tra. Có rất ít những gương mặt hoan hỉ trong bữa ăn tối hôm đó.

“Chắc tụi mình không tới được quán Cà Phê Thú Kiểng quá,” Gabriel nói, ngó lom lom một cách ủ dột vô món xúp của mình.

“Em không nghĩ vậy,” Charlie nói.

Billy chồm qua bàn:

“Em vẫn về nhà anh được chứ?” Nó khẩn khoản.

Charlie không có lòng dạ nào mà từ chối thằng bé.

“Dĩ nhiên. Em có thể kiểm tra ngày tháng năm giúp anh.”

Billy rạng rỡ:

“Nhất trí.”

Vào thứ Sáu, Charlie nghe tin về tiến triển trong công việc điêu khắc của Lysander. Nó và Emma bị cuốn vô dòng trẻ nít tất tả lao về những phòng ngủ chung để thu dọn túi xách như thường lệ. Bất chấp những bài kiểm tra đang treo trên đầu, tiếng rì rào vui sướng vẫn vỡ òa. Không ai còn chán nản khi trước mắt có tới hai ngày và ba đêm tự do, đáng mong đợi. Những cầu thang được bước hai bậc một, những hành lang tối rộn vang những bước chân cập rập cùng tiếng nói cười hớn hở.

“Tối qua mình trông thấy bức tượng rồi,” Emma thì thào với Charlie. “Tuyệt không thể chê được, y hệt như một cậu bé thật. Anh Lysander vừa bắt đầu sơn. Chỉ còn vài ngày nữa thôi là tất cả đã sẵn sàng.”

“Làm sao anh ấy giấu nó bí mật được?” Charlie hỏi.

“Ban ngày anh ấy chỉ việc phủ một tấm vải lên. Thầy Marson không bao giờ để ý tới. Thầy quá mải mê với tác phẩm điêu khắc của thầy rồi mà.”

“Belle ở khoa hội họa,” Charlie lo ngại.

“Không cần phải nhắc. Nhưng theo như mình biết thì nó chưa trông thấy bức tượng.”

Chúng rẽ ra ở một chân cầu thang khác, và Charlie đi kiếm Billy.

Đúng là Belle chưa trông thấy tác phẩm của Lysander, nhưng con nhỏ đã cảm giác được là có bức tượng. Đơn giản là nó đang chờ thời cơ thôi. Ngay khi tất cả bọn trẻ đã leo hết lên xe buýt trường, Belle đi vô phòng điêu khắc. Thầy Marson đang hí húi đẽo một tảng đá ở bên cửa sổ. Thầy thậm chí còn không trông thấy Belle. Nó bước tới tấm trải màu trắng, trùm kín cái gì đó có kích thước cỡ bằng người nó. Belle lật tấm vải ra. Một thằng bé đứng sựng ngay trước mặt nó. Không hẳn là một thằng bé, nhưng có cái gì đó giống đến nỗi khó tin đó không phải là người thật.

Thằng bé có mái tóc nâu, mắt xanh thẳm. Miệng hơi nhỏ và cái mũi cũng nhỏ, một cái mũi ưa tọc mạch. Thằng bé mặc áo chùng xanh da trời. Theo như Belle thấy, thì quần áo dưới áo chùng lại chưa được sơn. Giầy và quần là màu gỗ sáng.

“Ra thế,” Belle lẩm bẩm. “Trò chơi của bọn chúng đây.”

Charlie và Billy xuống xe buýt ở cuối đường Filbert. Rembrandt đã ngủ say dưới chiếc áo len của Billy, nhưng rõ ràng là nó đang gặp ác mộng. Thân hình nó cứ co giật và kêu chít chít trong khi ngủ. Billy đoán rằng con chuột đen bị tổn thương ghê gớm vì bị thầy Boldova khước từ.

“Em sẽ phải đền bù cho nó đấy, Billy,” Charlie nói. “Bây giờ em là người bạn thân thiết nhất của nó.”

Billy lộ vẻ ngạc nhiên lẫn vui mừng:

“Em cũng nghĩ thế.”

“Anh sợ là mẹ anh không biết em tới,” Charlie báo cho nó. “Mẹ anh đi làm suốt ngày thứ Bảy và mãi bốn giờ mới về nhà.”

“Không sao,” Billy vui sướng nói.

“Mẹ có để lại cho tụi mình nhiều đồ ăn.”

“Tốt. Em có thể cho Rembrandt một ít không?”

“Dĩ nhiên. Đừng để bà nội anh trông thấy nó. Bà căm ghét thú vật lắm. Chắc chắn bà sẽ giết nó đấy.”

“Ối,” Billy sợ hãi.

Còn khoản hai mươi bước nữa thì về tới nhà, Charlie chợt nhận thấy có một chiếc xe hơi đậu bên lề đường bên ngoài căn số 9. Nhìn màu xe thì có thể bảo nó là màu đen. Nhưng nhìn kỹ lại nó không phải đen. Chắc hẳn là nó màu xanh đậm, nhưng lại lấm đầy bùn với bụi tro… Hình như nó bị rỉ sét nữa? Hay là chiếc xe này đã bị nhấn chìm trong lửa? Thanh cản bị cong vẹo và kính chắn gió vỡ tan.

“Trông như xe từ địa ngục,” Billy nhận xét.

“Hoặc đã đi qua địa ngục,” Charlie nói. “ Nó là xe của Ông cậu anh đấy.”

Hai thằng bé phóng suốt con đường Filbert. Khi chúng tới căn số 9, Charlie lao huỳnh huỵch lên những bậc cấp và bươn vô nhà. Billy thận trọng theo sau.

“Không có ai ở nhà,” từ trong bếp, Charlie la lớn.

Billy nhìn Charlie băng qua hành lang và bắt đầu leo lên lầu.

“Em ở đây nha?” Billy rụt rè hỏi.

“Không. Không sao đâu. Lên đây đi.”

Charlie không muốn đi vô phòng Ông cậu một mình. Tấm biển XIN ĐỪNG QUẤY RẦY nằm chỏng chơ dưới đất, tay nắm bị vẹo cong gần như bẹp oặt lại, cứ như ai đó đã nắm rị lấy nó để tựa vô. Những dấu hiệu báo điềm gở đến nỗi Charlie không biết phải làm gì, nó nên gõ cửa hay cứ thế bước vô?

“Em thì em gõ cửa,” Billy khuyên.

Charlie gõ. Một lần. Hai lần. Ba lần.

Không có động tĩnh gì bên trong căn phòng.

Charlie nín thở, mở cửa và bước vô. Billy chỉ đặt một chân vô trong, và đứng chờ, tay nó nắm lấy con chuột đen.

Thứ đầu tiên mà Charlie nhìn thấy là cây gậy phép, nó nằm trên bàn viết của Ông cậu Paton. Chiếc gậy trước kia thanh mảnh, trắng ngà, giờ hầu như không thể nhận ra được, nhưng Charlie nhận ra nó nhờ kích thước và cái đầu bịt bạc bị lõm. Phần lớn còn lại của cây gậy bị cháy đen thành than và đen thui.

“Chuyện gì xảy ra vậy?” Nó lẩm bẩm.

Rất chậm, nó quay đầu về phía chiếc giường và ở đó, Ông cậu của nó, toàn thân một màu đen, đang nằm sóng sượt bên trên tấm trải giường, ông cao đến nỗi đôi bàn chân trong đôi giày bám đầy tro của ông thõng ra ngoài.

Gương mặt bên dưới những vệt bồ hóng của Ông cậu Paton lại trắng bợt như người chết. Tệ hơn cả, mái tóc vốn đen nhánh giờ đã chuyển thành màu xám tro.

“Ông ấy chết rồi hả?” Billy thì thào.

“Không.”

Charlie gằn giọng đáp, nhưng quả tình, nó cũng không chắc. Nó chạm vô vai Ông cậu. Không có phản ứng.

“Ông cậu Paton,” nó gọi nhỏ và rồi gấp gáp hơn, “Làm ơn đi, Ông cậu Paton, nếu có thể thì tỉnh dậy đi.”

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.