Đêm Qua Anh Ở Đâu?

Chương 1



Chàng trai chơi dương cầm

Khi chuyến tàu điện ngầm rốt cuộc cũng rít lên chói tai tiến vào ga phố Franklin, Brooke lo lắng đến nôn nao. Cô nhìn đồng hồ cả chục lần mỗi phút và cố tự nhủ rằng đó chưa phải là cơn bĩ cực; Nola, cô bạn thân nhất của cô, sẽ thứ lỗi cho cô, phải thứ lỗi cho cô, dù rằng cô trễ hẹn đến mức không thể tha thứ được. Cô len lách tìm đường trong dòng hành khách đông nghẹt giờ cao điểm đang tiến ra cửa, nín thở bản năng khi chen chúc giữa đám người đó và để mình cuốn theo về phía cầu thang. Như được lên dây cót, Brooke và những người đồng hành cùng lúc rút điện thoại di động từ túi xách hoặc túi áo khoác ra, lặng lẽ đứng thành một hàng thẳng, và chẳng khác nào những xác chết nhập tràng, họ vừa bước đều như duyệt binh lên phía bên phải những bậc thang xi măng vừa vô cảm dán mắt vào màn hình điện thoại bé tẹo

“Chết tiệt!” cô nghe một phụ nữ to béo phía trên kêu lên, và ngay khắc sau cô liền biết tại sao. Không một dấu hiệu báo trước, cơn mưa quất mạnh vào người cô ngay khi cô vừa nhô người lên khỏi cầu thang. Tiết trời tối tháng Ba vừa mới hai mươi phút trước còn hơi lạnh nhưng vẫn ôn hòa bỗng chốc trở nên lạnh giá và cực kỳ u ám, những trận gió táp cơn mưa xuống làm cho việc giữ mình khô ráo trở nên bất khả thi.

“Khốn thật!” cô góp giọng vào dàn hòa âm lộn xộn của những người đang chửi thề láo nháo xung quanh trong lúc cố lôi ô từ cặp xách ra hoặc lấy báo che lên đầu mình. Vì sau giờ làm việc cô đã chạy về nhà thay quần áo nên Brooke chẳng có gì ngoài một chiếc xắc màu ngân nhũ bé xíu (và phải nói là rất xinh) để che cho mình khỏi dòng mưa xối xả.Tóc ơi, từ biệt nhé, cô thầm nghĩ trong lúc băng mình chạy qua ba dãy phố để đến nhà hàng.Ta sẽ nhớ tiếc mi, phấn mắt ạ. Rất vui khi được quen biết ngươi, đôi bốt da lộn cao cổ mới tinh lộng lẫy đã ngốn mất nửa tuần lương của ta.

Brooke ướt như chuột lột khi cô đến Sotto, một nhà hàng nhỏ khiêm tốn trong vùng, nơi cô và Nola gặp nhau vài ba lần mỗi tháng. Món mì pasta ở đây chẳng phải loại ngon nhất thành phố - thậm chí chắc còn chưa phải loại ngon nhất ở dãy phố này - mà không gian cũng chẳng có gì đặc sắc cả, nhưng Sotto có những điểm hấp dẫn khác còn quan trọng hơn: rượu vang đầy bình với giá phải chăng, bánh tiramisu ngon đến chết người, và tay chủ nhà hàng người Ý cực kỳ gợi cảm, người luôn dành chỗ bàn kín đáo nhất ở phía sau cho Brooke và Nola chỉ vì họ thường đến ăn ở đây đã từ lâu rồi.

“Chào Luca.” Brooke chào chủ nhà hàng trong lúc cô rũ chiếc áo khoác len ra khỏi vai, cố tránh vẩy nước mưa tứ phía. “Cô ấy đến chưa vậy?”.

Luca lập tức đặt tay lên điện thoại và chỉ cái bút qua vai. “Như thường lệ. Nhân dịp gì mà diện chiếc đầm gợi cảm thế cara mia (1)? Cô có muốn hong khô trước không?”

(1) Tiếng Ý: em yêu, em cưng, cưng.>

Bằng cả hai bàn tay, cô vuốt cho phẳng chiếc đầm dệt kim màu đen ngắn tay ôm khít thân hình và cầu mong Luca nói thật, rằng chiếc đầm rất gợi cảm và cô trông rất ổn. Cô đã đến mức coi chiếc đầm đó là bộ trang phục duy nhất để đi xem ca nhạc; kết hợp với giày cao gót, xăng đan hay bốt tùy thời tiết, cô diện nó đi dự hầu hết mọi buổi biểu diễn của Julian.

“Thôi, tôi đã trễ quá rồi. Cô ấy có ca cẩm giận dỗi gì không?” Brooke vừa hỏi vừa ép những lọn tóc trên đầu với một nỗ lực hầu như vô vọng để giữ chúng khỏi nguy cơ bị xoăn tít lại tức thì.

“Cô ấy uống hết nửa bình rồi và vẫn chưa rời điện thoại di động. Cô đến đó ngay thì hơn.”

Họ hôn lên má nhau ba lần - trước đây Brooke đã phản đối hôn đủ ba cái nhưng Luca cứ một mực đòi - rồi Brooke hít một hơi sâu và cất bước về phía bàn của họ. Nola ngồi thu mình trên chiếc tràng kỷ, áo vest của cô vắt qua lưng ghế, chiếc áo len cashmere không tay màu nước biển vừa khoe ra đôi cánh tay chắc nịch vừa làm nước da màu ô liu lộng lẫy của cô nổi bật lên một cách hài hòa. Mái tóc tỉa dài đến vai của cô thật thời trang và gợi cảm, những lọn tóc nhuộm highlight vàng sáng óng dưới ánh đèn dịu của nhà hàng, và khuôn mặt trang điểm của cô trông trẻ trung tươi mát. Nhìn Nola, không ai có thể biết rằng cô vừa mới ngồi làm việc mười hai giờ đồng hồ liền tại sàn giao dịch chứng khoán, luôn miệng hò hét vào tai nghe điện đàm.

Mãi đến học kỳ hai năm cuối ở Đại học Cornell, Brooke và Nola mới quen nhau, mặc dù Brooke - giống như tất cả những người khác trong hội sinh viên - biết Nola và cảm thấy vừa sợ lại vừa bị cô nàng mê hoặc. So với những sinh viên cùng trang lứa mặc áo có mũ và đi bốt bệt, cô nàng Nola mảnh dẻ như người mẫu lại thích những đôi bốt cao gót, áo giả vest và không bao giờ buộc tóc đuôi ngựa. Cô trưởng thành từ các trường tư thục tốt nhất ở New York, London, Hong Kong và Dubai - những nơi ông bố giám đốc ngân hàng đầu tư của cô làm việc - và được hưởng sự tự do tất yếu vì là đứa con duy nhất của những bậc cha mẹ quá đỗi bận bịu.

Người ta đoán già đoán non tại sao cô đi học ở Cornell mà không phải Cambridge, Georgetown hay Sorbonne, nhưng dễ nhận thấy là cô chẳng m ấn tượng về điều đó. Trong khi những người khác còn bận đổ xô đi tham gia các hội nữ sinh, họp mặt ăn trưa tại Phòng Ivy và say sưa ở các quán bar trong khuôn viên trường đại học thì Nola lại khép kín. Cũng có những ý niệm lờ mờ về cuộc sống riêng của cô - cuộc tình nổi tiếng với giáo sư khảo cổ học, sự hiện diện thường xuyên, rồi sau đó nhanh chóng bốc hơi, của những anh chàng bí ẩn và gợi cảm trong khu học xá - nhưng chủ yếu thì Nola đến lớp, đứng đầu tất cả những môn cô học và chuồn thật nhanh về Manhattan ngay khi vừa đến chiều thứ Sáu. Khi hai cô gái thấy mình được giao đọc truyện ngắn của nhau trong môn viết sáng tác tự chọn năm cuối đại học, Brooke hoảng đến nỗi không nói nên lời. Nola, như thường lệ, không tỏ ra đặc biệt hài lòng hay khó chịu, nhưng một tuần sau đó, khi cô trả lại bài tập viết truyện ngắn đầu tiên của Brooke - tác phẩm hư cấu về một nhân vật nỗ lực thích nghi với nhiệm vụ được Tổ chức Hòa bình Mỹ giao phó tại Congo - thì bản thảo đã đầy những bình luận và gợi ý rất thâm thúy, sắc sảo. Rồi ở trang cuối cùng, sau khi nguệch ngoạc ý kiến phản hồi dài dòng và nghiêm túc của mình, Nola viết, “Tái bút: Nên chăng cân nhắc cảnh sex ở Congo?” và Brooke đã cười lăn cười lộn đến mức cô phải xin phép chạy ra khỏi lớp.

Sau giờ học Nola mời Brooke tới quán cà phê nhỏ xíu xiu ở tầng hầm của một trong các tòa học đường, nơi bạn bè Brooke chưa bao giờ lai vãng, và chỉ vài tuần sau đó Brooke đã đi New York với Nola vào các dịp nghỉ cuối tuần. Thậm chí sau chừng ấy năm ròng Nola vẫn tuyệt vời không lời nào tả xiết, song nhờ những cuối tuần đó mà Brooke biết rằng cô bạn mình nức nở khóc khi xem bản tin về những người lính trở về sau cuộc chiến, thầm bị ám ảnh rằng một ngày kia phải có một hàng rào cọc trắng hoàn hảo ở vùng ngoại ô mặc dù ngoài mặt tỏ ra nhạo báng điều đó, và có một nỗi sợ vô lý đối với những con chó xù nhỏ (Walter, con chó của Brooke, không nằm trong diện này).

“Tuyệt, tuyệt lắm. Không, tôi nghĩ rằng ngồi ở quán bar cũng ổn rồi,” Nola vừa nói chuyện điện thoại vừa đảo mắt nhìn Brooke. “Thôi, khỏi cần đặt chỗ ăn tối trước, cứ để tùy cơ ứng biến. Đồng ý, nghe hay đấy. Hẹn gặp anh lúc đó nhé.” Cô gập điện thoại đánh tách và lập tức chộp lấy bình rượu vang đỏ, rót một ly nữa cho mình trước khi nhớ ra Brooke và cũng rót một ly cho bạn.

“Cậu có giận tớ không?” Brooke hỏi trong lúc xếp áo khoác lên ghế sát chỗ ngồi và ném cây dù ướt nhẹp xuống gầm bàn. Cô uống rượu vang một hơi thật dài và thích thú cảm nhận vị rượu trôi qua

“Vì sao? Chỉ vì tớ ngồi đây một mình đã ba mươi phút rồi á?”

“Tớ biết, tớ biết, thành thực xin lỗi nhé. Một ngày làm việc cực nhọc khủng khiếp. Hai nhân viên nghiên cứu dinh dưỡng chính thức cáo ốm hôm nay - mà nếu cậu hỏi thì tớ cho là rất đáng ngờ - và những người còn lại chúng tớ phải cáng đáng cả phần việc của họ. Dĩ nhiên nếu chúng mình gặp nhau ở gần khu nhà tớ thì có lẽ tớ đã đến được đúng giờ...”

Nola giơ tay lên chặn lại. “Hiểu rồi. Tớ cảm kích vì cậu lặn lội đến tận đây. Ăn tối ở Midtown West thật chẳng thích thú gì.”

“Cậu vừa nói chuyện với ai vậy? Daniel phải không?”

“Daniel á?” Nola có vẻ rối trí. Cô nhìn chằm chằm lên trần nhà vẻ như cố vắt óc ra. “Daniel, Daniel... Ồ! Không phải, tớ thôi hắn rồi. Đầu tuần trước tớ đưa hắn đến dự một sự kiện ở chỗ làm và hắn kỳ cục lắm. Cực chuối. Không, đó là chuyện sắp xếp kế hoạch buổi hẹn hò qua trang hẹn hò Match.com ngày mai. Buổi hẹn thứ hai trong tuần này. Sao mà tớ lại thành kẻ thảm hại đến thế nhỉ?” Cô thở dài.

“Thôi xin đi. Cậu làm gì đến nỗi...”

“Không, thật đấy mà. Thật thảm hại khi tớ đã gần ba chục cái xuân xanh mà vẫn coi cậu bạn trai thời đại học là mối tình ‘có thực’ duy nhất. Còn thảm hại hơn nữa khi tớ là thành viên của một loạt trang web hẹn hò và đi chơi với bọn đàn ông trên tất cả mấy trang đó. Nhưng thảm nhất - gần như không thể tha thứ được - là tớ mới háo hức làm sao khi thú nhận điều này với bất kỳ ai lắng nghe.

Brooke hớp một ngụm nữa. “Tớ đâu phải là ‘bất kỳ ai lắng nghe’.”

“Cậu biết tớ ngụ ý gì,” Nola nói. “Nếu cậu là người duy nhất chia sẻ bí mật về sự bẽ bàng của tớ, thì tớ còn có thể chịu được. Đằng này cứ như là tớ trở nên chai sạn với…”

“Dùng từ đắt đấy.”

“Cảm ơn. Từ này sáng nay ở trên cuốn lịch mỗi-ngày- một-từ (2) của tớ. Thế đây, quả thật là tớ đã chai sạn với nỗi nhục ấy đến mức tớ chẳng màng giấu giếm gì thêm nữa. Mới hôm qua đây thôi tớ đã bỏ ra mười lăm phút ròng gắng giải thích cho một trong những ông phó tổng giám đốc quan trọng nhất của tập đoàn Goldman Sachs về sự khác nhau giữa đàn ông trên trang Match và đàn ông trên trang Nerve. Thật không thể thương được.”

(2) Cuốn lịch mỗi ngày có viết một từ với đầy đủ ngữ nghĩa, cách phát âm, v.v.

“Thế câu chuyện với anh chàng ngày mai thế nào?” Brooke hỏi, cố thay đổi chủ đề. Theo dõi tình trạng bạn trai của Nola từ tuần này sang tuần khác là việc bất khả thi. Không chỉ vì chẳng biết tuần này cô đi với anh nào - tự nó đã là một câu hỏi khó - mà còn vì không hiểu giờ cô đang tha thiết muốn có một anh bạn trai để sống ổn định hay cô đã lạicăm ghét gắn kết với người khác mà chỉ muốn sống độc thân, xả láng và ngủ lang chạ. Tình hình thay đổi thường xuyên, không có gì báo trước, làm cho Brooke phải cố gắng liên tục để nhớ xem anh chàng tuần này “mới tuyệt làm sao” hay “là cả một thảm họa”.

Nola cụp hàng mi xuống và bĩu đôi môi tô son bóng theo cái cách nũng nịu đặc trưng của cô, vẻ như muốn nói, “Em nhạy cảm,” “Em ngọt ngào,” và “Em muốn được yêu mê đắm” cùng một lúc. Rõ là cô đang chuẩn bị trả lời tràng giang đại hải cho câu hỏi

“Hãy dùng mánh đó với bọn đàn ông. Với tớ thì chả nhằm nhò gì đâu,” Brooke nói dối. Nola không đẹp theo kiểu truyền thống, nhưng điều đó chẳng mấy quan trọng. Cô kết hợp mọi thứ ở mình mới kiều mị làm sao, và ở cô toát ra một vẻ tự tin đến mức cả đàn ông lẫn đàn bà đều bị mê hoặc.

“Chàng này có vẻ hứa hẹn,” cô trầm ngâm nói. “Tớ chắc rằng từ giờ đến lúc anh chàng bộc lộ cái tính nào đó không thể thương nổi chỉ là vấn đề thời gian, nhưng hiện giờ tớ nghĩ là chàng hoàn hảo.”

“Vậy chàng là người thế nào?” Brooke hối thúc.

“Hừm, xem nào. Chàng từng tham gia đội đua trượt tuyết ở trường đại học, vì vậy mà lúc đầu tớ mới click vào xem thông tin của chàng trên mạng, và chàng còn làm huấn luyện viên hai mùa nữa cơ đấy, đầu tiên là ở Park City và sau đó ở Zermatt.”

“Đoạn này thì hết sảy.”

Nola gật đầu. “Ừ. Chàng chỉ cao chừng mét tám, dáng khỏe mạnh - chí ít thì chàng tự nhận là thế - tóc vàng màu cát và đôi mắt xanh màu lá cây. Chàng mới chuyển về thành phố này vài tháng trước và chưa quen biết ai mấy.”

“Cậu sẽ làm tình trạng đó thay đổi thôi.”

“Ừ, tớ tin là thế...” Nola bĩu môi. “Nhưng...”

“Có vấn đề gì vậy?” Brooke rót rượu vào cả hai chiếc ly rồi gật đầu với bồi bàn khi anh ta hỏi họ có muốn gọi những m họ thường ăn không.

“Ờ, vấn đề là công ăn việc làm. Chàng nói nghề nghiệp của chàng là ‘nghệ sĩ’.” Cô phát âm từ này nghe cứ như đang nói “kẻ làm phim khiêu dâm” vậy.

“Thế thì sao?”

“Sao với trăng gì nữa? Đó là cái quái gì mới được chứ.Nghệ sĩ?”

“Ừm, tớ nghĩ là nó có nhiều nghĩa lắm. Họa sĩ, điêu khắc gia, nhạc sĩ, diễn viên, văn...”

Nola đưa tay lên trán. “Xin cậu. Nó chỉ có một nghĩa duy nhất và cả hai chúng ta đều biết nghĩa đó: thất nghiệp.”

“Thời này ai mà chả thất nghiệp. Khá là hợp mốt đấy chứ.”

“Ồ, thôi đi. Tớ có thể chấp nhận chuyện thất nghiệp vì suy thoái kinh tế. Nhưng mà một nghệ sĩ à? Khó tiêu hóa lắm.”

“Nola! Thật vớ vẩn. Có ối người - đầy ra đây, hàng vạn, chắc phải đến hàng triệu - những người kiếm sống bằng nghệ thuật. Ý tớ là, xem Julian kìa. Anh ấy là một nhạc sĩ. Chả lẽ tớ lại tuyệt đối không nên giao du với anh ấy?”

Nola mở miệng định nói gì đó rồi lại thôi. Một khoảng lặng đầy lúng túng.

“Cậu định nói gì?” Brooke hỏi.

“Có gì đâu, chẳng có gì cả. Cậu nói đúng đó.”

“Không phải. Cậu đã định nói gì đó? Cứ nói toạc ra đi.”

Nola xoay xoay cuống đế ly rượu vang, trông cô có vẻ như chỉ muốn độn thổ khỏi đây cho rồi. “Tớ không có ý bảo Julian không thực sự tài năng, nhưng...”

“Nhưng sao?” Brooke nghiêng người lại gần đến nỗi Nola buộc phải nhìn vào mắt cô.

“Nhưng tớ không dám chắc rằng tớ có thể gọi anh ấy là một ‘nhạc sĩ’. Hồi mới gặp cậu anh ấy chỉ là phụ tá cho ai đó. Và đến giờ thì cậu vẫn đang phải nuôi anh ấy.”

“Ừ thì đúng anh ấy mới chỉ là thực tập sinh khi bọn tớ mới gặp nhau,” Brooke nói mà chẳng buồn che giấu sự bực bội. “Anh ấy thực tập tại hãng Sony để học hỏi về ngành công nghiệp âm nhạc, tìm hiểu xem nó hoạt động ra sao. Và cậu biết gì không? Chính nhờ những mối quan hệ anh ấy đã gây dựng ở đó mà ban đầu người ta mới chú ý đến anh ấy. Nếu anh ấy không đến đây hằng ngày và cố gắng làm cho mình thành người không thể thiếu được thì cậu nghĩ là ông trưởng Ban Phát triển Tài năng có thể bỏ ra những hai giờ đồng hồ quý giá để xem anh ấy biểu diễn ư?”

“Tớ biết. Chỉ là...”

“Sao cậu có thể nói rằng anh ấy ăn không ngồi rồi được? Có phải đó chính là điều cậu nghĩ không? Không biết cậu có nhận thấy điều này không, nhưng anh ấy đã dành cả tám tháng vừa qua nhốt mình trong một phòng thu âm tại Midtown để làm một album. Nhân tiện, phải nói là đó không phải một việc phù phiếm đâu nhé; hãng Sony đã ký hợp đồng với anh ấy với tư cách một nghệ sĩ - cũng chính là cái từ nghệ sĩ đó đó - và tạm ứng trước cho anh ấy hẳn hoi nhé. Nếu cậu không coi đó là một công việc đích thực thì tớ còn biết nói gì hơn với cậu nữa.”

Nola giơ hai tay lên đầu hàng và cúi đầu xuống. “Phải, tất nhiên rồi. Cậu nói rất phải.”

“Nghe giọng cậu không mấy tin tưởng.” Brooke bắt đầu cắn móng ngón tay cái. Mọi niềm khuây khỏa mà cô cảm nhận nhờ rượu vang đã hoàn toàn tan bi

Nola dùng nĩa gảy gót món xa lát. “Ừ thì chẳng phải là họ vẫn mời mọc ký kết, ờ, hàng đống hợp đồng thu âm với bất kỳ người nào hé lộ một chút xíu tài năng đó sao, vì biết rằng chỉ cần một người thành công lớn là đủ để trang trải chi phí cho tất cả những kẻ thất bại tầm thường kia phải không?”

Brooke ngạc nhiên vì sự hiểu biết của cô bạn về ngành âm nhạc. Julian luôn diễn giải chính cái lý thuyết đó khi anh khiêm tốn nói về hợp đồng thu âm của mình và cố gắng, theo như lời anh nói, “kiềm chế ảo tưởng” về ý nghĩa đích thực của hợp đồng đó. Dù sao chăng nữa, những lời này theo một cách nào đó nghe lại cay nghiệt hơn khi qua miệng Nola.

“Một ‘chút xíu tài năng’ ư?” Brooke chỉ có thể thì thào những lòi này. “Có phải cậu nghĩ rằng anh ấy chỉ là thế không?”

“Tất nhiên không phải là tớ nghĩ rằng anh ấy chỉ là thế. Đừng có vận vào mình như thế chứ. Là bạn của cậu nên tớ khó mà ngồi nhìn cậu tự giết mình khi làm quần quật để hỗ trợ anh ấy đã bao nhiêu năm nay. Đặc biệt là khi cơ hội mong manh đến nỗi chẳng biết có nên cơm nên cháo gì không.”

“Thôi được, tớ cảm kích vì cậu quan tâm tới hạnh phúc của tớ, nhưng cậu nên biết rằng đó là tớ tự nguyện nhận thêm công việc tư vấn ở trường tư thục để trang trải cho cuộc sống của bọn tớ. Tớ không phung phí lòng tốt của mình đâu, tớ làm như vậy vì tớ thực sự tin tưởng vào bản thân anh ấy cũng như tài năng của anh ấy, và tớ biết - thậm chí ngay cả khi dường như không ai tin điều này - rằng anh ấy có một sự nghiệp rạng rỡ ở phía trước.”

Brooke đã sung sướng ngây ngất đến khó tả - thậm chí có thể còn hơn cả Julian nữa - khi mà tám tháng trước, anh gọi cho cô báo tin về lời mời đầu tiên của hãng Sony. Hai trăm năm mươi ngàn đô la là khoản tiền lớn hơn thu nhập cả hai kiếm được suốt năm năm trước đó, và Julian có thể thoải mái dùng số tiền đó làm những gì anh muốn. Khi ấy làm sao cô tiên đoán được rằng dòng tiền ồ ạt bơm về đó sẽ làm họ ngập trong nợ nần sâu, hơn cả mức nợ của họ lúc bây giờ? Từ khoản tạm ứng này, Julian phải thanh toán chi phí phòng thu, thuê các nhà sản xuất và kỹ thuật viên âm thanh cao giá cũng như trang trải toàn bộ chi phí trang thiết bị, chi phí đi lại và chi phí cho ban nhạc trợ diễn. Chỉ trong vài tháng ngắn ngủi khoản tiền đã tiêu tan, khi họ còn chưa kịp tiêu dù chỉ một đồng đô la lẻ để trả tiền thuê nhà, tiền điện nước sinh hoạt, hoặc thậm chí một bữa ăn nhân ngày kỷ niệm nào đó. Và một khi toàn bộ khoản kinh phí đó đã được dùng để giúp Julian tạo danh tiếng cho mình, thì thật vô nghĩa nếu không theo đuổi kế hoạch này đến cùng. Họ đã tiêu thêm ba mươi ngàn đô la tiền túi - là toàn bộ số tiền họ dành dụm được, dự tính là khoản đặt cọc để mua một căn hộ - và mỗi ngày họ càng đốt nhiều tiền hơn. Phần đáng sợ nhất trong toàn bộ câu chuyện này chính là điều mà Nola vừa thốt ra một cách tàn nhẫn: cơ hội để Julian thành công sau khi tiêu tốn chừng ấy thời gian và tiền bạc - dù là có tên tuổi của hãng Sony làm chỗ dựa - hầu như chỉ là con số không.

“Tớ đủ hy vọng anh ấy biết rằng anh ấy may mắn biết bao khi có được người vợ như cậu,” lúc này Nola nói với giọng mềm mỏng hơn. “Tớ có thể đoan chắc với cậu rằng tớ sẽ chẳng thể giúp đỡ cảm thông được đến mức đó. Hẳn là vì thế mà số tớ cứ độc thân suốt đời...”

May sao món mì của họ đã tới và câu chuyện chuyển sang những chủ đề an toàn hơn: nước xốt thịt gây béo ra sao, Nola có nên yêu cầu tăng lương ở chỗ làm hay không, Brooke ghét bố mẹ chồng đến mức nào. Khi Brooke ra hiệu thanh toán mà không gọi thêm món bánh tiramisu tráng miệng hoặc thậm chí chỉ một cốc cà phê, Nola có vẻ lo lắng.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.