Hậu Cung Chân Hoàn Truyện

Quyển 4 - Chương 19: Tái tương phùng



Tôi khi mê khi tỉnh, quá nửa thời gian đều mơ mơ màng màng. Thế nhưng được năm ba ngày, tinh thần của tôi đã tốt dần lên, có điều, nghe Hoán Bích nói bệnh tình của Huyền Thanh ngày một trở nặng, sốt cao cả ngày.

Tôi liền hỏi Ôn Thực Sơ tại sao Huyền Thanh lại mắc bệnh nặng như vậy, hắn chỉ trả lời một cách mơ hồ, nói là còn chưa rõ lắm. Tôi cũng không có sức mà tranh luận với hắn, chỉ đành đợi bản thân lành bệnh rồi tính tiếp.

Hôm ấy tôi vừa uống thuốc xong, tinh thần khá tốt, liền ngồi tựa vào thành giường, nhắm mắt dưỡng thần. Hoán Bích ngồi im lặng bên cạnh tôi. Ngó thấy xung quanh không có ai, tôi bèn nói ra nỗi nghi hoặc mấy ngày nay của mình: “Tại sao bệnh của Vương gia đột nhiên lại nặng như vậy?”

Khuôn mặt Hoán Bích lúc này ngợp nét ưu sầu, vàng vọt mà tiều tụy, nghe tôi hỏi vậy thì hơi cau mày, đáp: “Ôn đại nhân chỉ nói mấy hôm trước Vương gia bị nhiễm phong hàn mà không nghỉ ngơi cẩn thận, trong thời gian tiểu thư bị ốm lại mấy ngày mấy đêm liền bỏ ăn bỏ giấc, khiến cơn bệnh trở nặng, trong thời gian ngắn khó mà bình phục được.”

Tôi hơi trầm ngâm, hỏi thêm: “Vậy tại sao Vương gia lại nhiễm phong hàn?”

Hoán Bích cúi đầu, đáp với giọng nhỏ như muỗi kêu: “Hôm đó Ôn đại nhân đã nói rồi, khi Vương gia tới thiền phòng thăm tiểu thư thì mặc ít quần áo quá, lại gặp đúng hôm trời lạnh…”

Tôi khẽ mỉm cười nhưng rất nhanh đã thu nụ cười lại, nhìn đăm đăm vào mắt Hoán Bích. “Đó chỉ là lời của Ôn đại nhân, ta muốn nghe muội nói thật.” Thoáng dừng một chút, tôi nói tiếp: “Hoán Bích, Ôn Thực Sơ đương nhiên có lý do để giấu ta, nhưng còn muội, chẳng lẽ muội cũng muốn giấu ta sao?”

Hoán Bích mân mê mép áo, cắn môi nhìn tôi, do dự nói: “Tiểu thư thực sự muốn biết sao?”

Từ trong lò hương, từng làn khói mỏng chậm rãi bay ra, thấp thoáng mang theo mùi thơm của quả phật thủ, khiến tinh thần người ta tỉnh táo. Tôi dường như vẫn còn ở trong giấc mộng, có một thân thể lạnh băng ôm tôi vào lòng, thân thể ấy lạnh biết mấy, tựa như băng tuyết, khiến tôi giữa lúc hôn mê nóng nực cảm thấy vô cùng dễ chịu. Tôi khẽ thở ra một hơi, nói: “Tất nhiên.”

Sau một thoáng sững sờ, Hoán Bích chậm rãi nói: “Hôm đó tiểu thư sốt cao, thân thể nóng vô cùng, còn bắt đầu nói những lời mê sảng. Nô tỳ và Cận Tịch bưng nước tuyết đến, đắp cho tiểu thư không biết bao nhiêu chiếc khăn lạnh, vậy mà vẫn chẳng ăn thua, thậm chí nước lạnh cũng đã biến thành nước ấm. Cận Tịch vội bảo nô tỳ đi mời Ôn đại nhân tới, nhưng khi đó Ôn đại nhân đang ở trong cung thăm khám cho Hồ Đức nghi, nô tỳ tất nhiên chẳng thể vào cung để mời, chỉ đành quay về. Nô tỳ nôn nóng tới mức chỉ muốn khóc, vừa khéo lúc đó Vương gia dẫn theo A Tấn quay về Thanh Lương Đài, gặp nô tỳ ở chân núi, thế là bèn cùng nô tỳ tới thiền phòng. Nhìn thấy tiểu thư như vậy, Vương gia lập tức sai A Tấn cưỡi ngựa đi mời đại phu ở Thanh Lương Đài tới, nhưng hôm đó trời đổ tuyết lớn, chặn hết cả đường đi, thành ra đại phu chẳng thể tới được. Lúc ấy tiểu thư sốt đến nỗi mặt mũi đỏ bừng, hơi thở dồn dập, bọn nô tỳ đều sợ hãi vô cùng.” Hoán Bích dừng lại một chút rồi nói tiếp: “Kỳ thực bệnh của tiểu thư chính là ở chỗ sốt cao mãi mà không hạ, không có đại phu đến khám, cũng không tìm được thuốc giảm sốt, thế là…” Nói tới đây, hai má Hoán Bích đều ửng hồng, do dự không nói tiếp nữa. Nhìn thấy cảnh này, tôi đã loáng thoáng hiểu ra điều gì đó, bất giác mặt mũi nóng bừng. Trong lúc tôi hôn mê, người mà toàn thân lạnh băng đã ôm lấy tôi kia nhất định chính là Huyền Thanh. Hoán Bích mân mê chiếc khăn trong tay, nói với giọng nhỏ như muỗi kêu: “Vương gia chỉ mặc một chiếc áo mỏng bó sát người, ra nằm trên băng tuyết, đợi sau khi toàn thân mình lạnh băng thì đi vào ôm lấy tiểu thư, cứ như vậy không biết bao nhiêu lần, rốt cuộc tiểu thư cũng đã hết sốt. Tới khi tuyết ngừng rơi, Vương gia liền bế tiểu thư đến Thanh Lương Đài, sau đó tiểu thư cứ hôn mê mãi không tỉnh, Vương gia gần như không chợp mắt chút nào, cùng Ôn đại nhân chăm sóc cho tiểu thư. Sau bao phen vất vả như vậy, dù là mình đồng da sắt cũng không chịu nổi.” Thấy tôi lặng lẽ cúi đầu, khuôn mặt đỏ bừng như sắp nhỏ máu đến nơi, Hoán Bích vội vàng giải thích: “Tiểu thư yên tâm, khi đó tiểu thư vẫn mặc quần áo.”

Tôi hơi định thần lại, chậm rãi ngồi thẳng người dậy, nói: “Hoán Bích, muội đi lấy áo khoác của ta tới đây, chúng ta đi thăm Vương gia.”

Hoán Bích nôn nóng nói: “Tiểu thư giờ vẫn chưa lành bệnh, ra ngoài dễ bị nhiễm phong hàn lắm, nên ở yên trong phòng thì hơn!”

Tôi khẽ ho mấy tiếng, xua tay, nói: “Sao lại thế được, Vương gia có ơn lớn đối với ta, bây giờ y đang bị bệnh, ta không thể không đi thăm. Muội cũng hiểu tính khí ta rồi, không cần khuyên nữa.”

Hoán Bích thấy tôi nhất quyết muốn đi thì cũng không tiện nói gì thêm, đành lấy một chiếc áo dày mặc vào cho tôi, lại giúp tôi chải chuốt cẩn thận, đặt một chiếc lò sưởi cầm tay vào trong lòng tôi, đỡ tôi đi thẳng tới Lục Dã đường.

Nơi tôi ở cách Lục Dã đường khá xa, thân thể tôi lại đang yếu ớt, do đó cứ phải khi đi khi nghỉ, hồi lâu sau mới tới nơi. A Tấn nhìn thấy tôi thì liền cúi đầu, ủ rũ nói: “Nương tử tới rồi, Vương gia vẫn đang ngủ.”

Tôi khẽ gật đầu, thấp giọng nói: “Ta vào trong xem sao, lát nữa sẽ ra.” Rồi lại hỏi thêm: “Thái phi đã tới đây chưa?”

A Tấn lắc đầu, đáp: “Sao có thể chứ, Thái phi cả đời này không thể bước chân ra khỏi An Tê quán, việc Vương gia bị ốm đến bây giờ Thái phi vẫn chưa biết.”

Tôi khẽ gật đầu, nói: “Cứ tạm giấu cũng được, kẻo Thái phi lại lo lắng.”

Lục Dã đường rất thoáng đãng, chủ yếu chỉ có vài giá sách đóng bằng gỗ bưởi, bên trên toàn những sách là sách, trên tường treo rất nhiều loại vũ khí khác nhau. Lòng tôi thầm nảy sinh cảm giác mừng rỡ, nơi này quả là chẳng có chút dấu tích nào của nỠnhân.

Y vẫn đang ngủ, dung nhan có chút tiều tụy, trên người mặc một bộ đồ ngủ màu trắng, nơi cổ áo có những đường hoa văn hình lá liễu đơn giản. Đôi hàng lông mày của y hơi cau lại, dường như ngay cả trong giấc ngủ cũng chẳng hề vui vẻ. Ánh dương từ ngoài cửa chiếu vào, len qua bức rèm sa mỏng, đậu xuống khuôn mặt y, thấp thoáng những tia dìu dịu. Chiếc giường lớn làm bằng gỗ đàn của y ánh lên màu đen nhánh, lại càng khiến người ta cảm thấy tấm thân trong bộ đồ trắng kia tràn ngập những nét mộng ảo.

Tôi nhẹ nhàng bước tới gần y, chút ký ức mơ hồ trong lúc hôn mê lóe hiện, dường như đã là chuyện từ rất lâu rồi, một giọt nước mắt của y rơi xuống mặt tôi, mang tới cảm giác ấm áp mà ẩm ướt. Còn lần này, y nằm giữa trời băng tuyết, ôm lấy tôi giúp tôi xua đi cái nóng. Ký ức về sự nóng, lạnh đó đan xen nơi đáy lòng tôi, vì sự tồn tại của y, trái tim vốn đã hóa thành sa mạc của tôi nở rộ một bông hoa đầy sức sống.

Tôi ngồi xuống trước giường y, nhẹ nhàng đưa bàn tay tới, đặt lên đôi hàng lông mày của y mà xoa nhẹ. Tôi vẫn luôn mong được nhìn thấy y cười, một nụ cười chân thành, tinh nghịch, khiến trái tim vốn đã băng giá của tôi dần trở nên ấm áp. Tôi ngoảnh đầu nhìn qua bên cạnh, trên chiếc án dài dưới cửa sổ có đặt một chậu văn trúc, lá trúc biếc xanh, tú lệ vô cùng. Tôi thầm nghĩ, có lẽ chỉ có loài cây vô tình mới có thể quanh năm xanh biếc, chẳng bao giờ rơi rụng, héo tàn như vậy, còn con người lại chẳng phải cỏ cây. Tôi cứ ngồi lặng im như thế, chỉ nhìn khuôn mặt y mà không nói năng gì, nơi đáy lòng ngợp cảm giác bình yên.

Khi y tỉnh lại thì đã là một canh giờ sau đó. Đôi mắt y vừa mở ra, từ bên trong đã bừng lên những tia lửa rực rỡ của sự ngạc nhiên và vui mừng, khiến khuôn mặt vốn ảm đạm vì cơn bệnh kia sáng rực hẳn lên. Y cố gắng trở mình ngồi dậy, hỏi: “Nàng đến rồi, nàng đã khỏe lại rồi sao?”

Tôi mỉm cười, nói: “Ta có thể tự mình tới đây thăm huynh, huynh nghĩ ta đã khỏe chưa?”

Y nắm lấy bàn tay tôi. “Tay nàng còn lạnh quá!”, rồi lại hỏi: “Nàng tới bao lâu rồi?”

Tôi rụt tay về. “Mới chỉ một canh giờ thôi, thấy huynh ngủ ngon nên ta không muốn gọi huynh dậy.” Rồi tôi hỏi y: “Thanh, huynh muốn uống nước không?”

Y cơ hồ không dám tin vào tai mình, sững ra một chút mới lẩm bẩm nói: “Nàng gọi ta là gì cơ?”

Tôi chậm rãi đứng dậy, pha cho y một chén trà hoa cúc, bên khóe miệng thoáng hiện nụ cười. “Thanh, ta có thể gọi huynh như vậy không?”

“Có thể, đương nhiên là có thể rồi!” Y đột ngột ngồi thẳng người dậy, nụ cười tỏa ra trên khuôn mặt tuấn tú, rồi y nắm chặt lấy bàn tay tôi. “Hoàn Nhi, ta có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới điều này.”

Lần này thì tôi không rụt tay về, chỉ khẽ nói: “Việc trên thế gian này ai mà có thể đoán biết trước được.” Tôi đưa chén trà tới bên miệng y. “Huynh uống một hớp đi cho xuôi họng.”

Y uống một ngụm nước nhưng không vội nuốt ngay mà chỉ ngậm trong miệng, cặp mắt lặng lẽ nhìn tôi, ánh mắt chứa chan tình cảm. Giọng nói của y trầm thấp mà dịu dàng, tựa như vầng trăng sáng trên cao: “Hôm nay nàng lại mặc áo trắng rồi.”

Tôi cúi đầu, trên người tôi hôm nay đúng là một chiếc áo gấm màu trắng, bên trên còn thêu những bông hoa lê tinh xảo bằng chỉ bạc. Thoáng ngượng ngùng, tôi mỉm cười, nói: “Từ sau khi vào chùa Cam Lộ, đã lâu lắm rồi ta chưa mặc loại áo này.” Sau đó lại thấp giọng nói tiếp: “Thứ này là do Mạc đại nương mang tới cho ta, ta chỉ tiện tay cầm lấy mặc, không biết hôm nay huynh cũng mặc đồ màu trắng.”

Huyền Thanh áp tay lên bàn tay tôi, mang tới một cảm giác ấm áp khó tả. Y nói: “Ta trước giờ vẫn luôn tin tưởng vào cái gọi là tâm ý tương thông.”

Ngoài cửa sổ, gió dữ rít gào, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt. Trong phòng ấm áp như mùa xuân, tôi nhìn y cười khẽ, nơi đáy lòng tràn ngập sự vui vẻ và yên bình. Hồi lâu sau, tôi đang định gọi người vào rửa mặt cho y, chợt nghe bên ngoài vang lên tiếng bước chân hỗn loạn, rồi A Tấn vội vã chạy vào bẩm báo: “Vương gia, Hoàng thượng cùng Kính Phi nương nương và Hồ Đức nghi đang trên đường tới đây.”

Huyền Lăng! Chợt nghe nói tới y, lòng tôi tột cùng chấn động, tựa như nhìn thấy vô số tia sét rực sáng giữa trời, vang lên những tiếng đì đùng không ngớt.

Huyền Thanh cũng hơi biến sắc, hỏi: “Sao Hoàng thượng lại tới đây?”

A Tấn không ngừng nháy mắt ra hiệu cho tôi, tôi ngẩn ngơ đứng dậy, nói: “Ta ra ngoài né tránh một chút vậy.”

A Tấn vội vàng nói: “Bọn họ đang vào đây, ra ngoài là bắt gặp ngay!”

Huyền Thanh nhanh chóng bình tĩnh trở lại, trầm giọng nói: “Sau giường của ta có một bức bình phong, nàng mau tới đó tránh tạm một lát đi.”

Tôi không nói gì thêm, lập tức đến nấp sau bức bình phong. Vừa mới đứng vững, tôi đã loáng thoáng nghe thấy tiếng châu ngọc va vào nhau, lại ngửi thấy mùi phấn son vương vất, rồi một giọng nam phóng khoáng cất lên: “Lục đệ lần này bị bệnh, thành ra không còn ai đàm luận chuyện thi họa với trẫm nữa rồi.” Giọng nói ấy vẫn quen thuộc như xưa, đột ngột vang lên khiến thân thể tôi sau nháy mắt đã trở nên lạnh ngắt. Cái lạnh ấy khiến tôi nhớ lại lần gặp mặt cuối cùng với y trong Đường Lê cung, tâm trạng quyết liệt hôm đó sau nháy mắt đã trào dâng trong ký ức. Bàn tay tôi bám vào bức bình phong, cảm thấy chua xót và đau đầu đến khó tả.

Lúc này A Tấn đã đỡ Huyền Thanh đứng dậy hành lễ. “Hoàng thượng vạn tuế kim an.”

Huyền Lăng đưa tay đỡ lấy y, cười nói: “Đã bị bệnh rồi, còn để ý tới lễ số làm gì.”

Giọng Kính Phi tôi vừa nghe đã nhận ra ngay, nhưng sau khi nàng ta chào hỏi Huyền Thanh, tôi lại nghe thấy một giọng nữ hết sức ngọt ngào khác: “Vương gia an hảo.”

Huyền Thanh khẽ ho hai tiếng, cười nói: “Hôm nay hoàng huynh tâm trạng tốt thật, không ngờ lại mang theo cả Hồ Đức nghi ra ngoài. Chỉ là sao hoàng huynh lại đột nhiên nghĩ tới thần đệ vậy?”

Huyền Lăng đáp: “Đợi mãi tuyết mới tan, hôm nay thời tiết lại đẹp, bọn họ cả ngày ở trong cung cũng thấy bí bức. Ta nghe nói đệ bị bệnh, liền đưa bọn họ tới thăm đệ.” Y chăm chú nhìn Huyền Thanh một lát rồi nói tiếp: “Sắc mặt vẫn còn nhợt nhạt, có điều tinh thần lại rất tốt, cứ như vừa gặp chuyện mừng rất lớn vậy”, rồi lại ngoảnh đầu quay sang nói với Hồ Đức nghi: “Uẩn Dung, hôm nay nàng câu nệ lễ tiết quá, trước đây gặp mặt còn gọi một tiếng ‘lục biểu ca’, bây giờ thì lại chẳng nói năng gì nữa rồi.”

Hồ Đức nghi che miệng cười, nói: “Hoàng thượng đang trêu thần thiếp đấy sao. Bây giờ thần thiếp là phi tần của Hoàng thượng, khi gặp Lục Vương gia tất nhiên phải chú ý giữ lễ quân thần, sao còn có thể giống như trước đây được.”

Kính Phi cười tủm tỉm, nói: “Hồ muội muội hiểu chuyện như vậy mà Hoàng thượng còn nói muội ấy câu nệ lễ tiết, đúng là đã đổ oan cho người tốt rồi.”

Chợt một giọng trẻ con ngọt ngào, non nớt vang lên: “Nghe nói lục hoàng thúc bị bệnh, Lung Nguyệt đặc biệt tới đây thỉnh an hoàng thúc.”

Nghe thấy giọng nói ấy, thân thể tôi run lẩy bẩy, toàn bộ tâm thần đều bị hút đi, không kìm được nhìn ra phía ngoài. Bức bình phong trước mặt được ghép thành từ bốn phiến gỗ điêu khắc hình hoa anh thảo, ở bốn góc đều có những chỗ chạm rộng chừng năm tấc. Tôi cẩn thận giữ chặt mép áo, thò đầu ra nhìn, ánh mắt lập tức bắt gặp một đứa bé tầm một, hai tuổi, đang được Kính Phi bế trong lòng, trên đầu là hai búi tóc tròn xoe được tô điểm bằng hai viên minh châu, phía dưới mặc một chiếc áo gấm thêu hoa màu hồng, trên khuôn mặt trái xoan nhỏ xinh là một đôi mắt tròn xoe, đen láy, đáng yêu vô cùng.

Vừa mới nhìn thoáng qua, máu huyết toàn thân tôi đã trở nên sôi sục, cho dù trước đây chưa từng nhìn thấy tranh vẽ Lung Nguyệt, chỉ dựa vào cái nhìn này thôi, tôi cũng sẽ biết ngay đây nhất định là con gái mình. Đôi hàng lông mày kia, cái mắt, cái mũi kia, không có chỗ nào là không giống tôi, duy chỉ có đường nét dưới cằm là giống với Huyền Lăng.

Tôi nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch, càng lúc càng dồn dập, tựa như bất cứ lúc nào cũng có thể nhảy ra khỏi lồng ngực. Đây chính là Lung Nguyệt, Lung Nguyệt mà tôi hằng nhung nhớ bao đêm. Lòng tôi thầm thổn thức, cơ hồ muốn bật khóc thành tiếng.

Lung Nguyệt, tôi muốn được bế Lung Nguyệt của tôi biết bao, nó đáng yêu quá chừng. Thế nhưng, tôi không thể ra ngoài, sao tôi có thể ra ngoài được đây? Tôi nắm chặt lấy bức bình phong, cố kìm nén những giọt nước mắt có thể trào ra bất cứ lúc nào.

Phía bên ngoài, Huyền Thanh đưa tay tới, cười nói: “Lung Nguyệt tới rồi à, lại đây hoàng thúc bế một chút nào.”

Tôi hiểu ý của Huyền Thanh, với vị trí của y bây giờ, tôi có thể nhìn thấy Lung Nguyệt rõ nhất. Thế nhưng Lung Nguyệt lại cười hì hì, nói: “Hoàng thúc đang bị ốm, Lung Nguyệt không tiện quấy rầy hoàng thúc.” Nói rồi nó lại bám vào người Kính Phi mà ngọ nguậy liên tục, chẳng chịu ở yên.

Huyền Lăng cười rộ, nói: “Nha đầu này tinh quái lắm, biết đệ bị ốm không chịu để đệ bế, còn giả bộ nói rằng sợ quấy rầy đệ. Tính cách này thật giống hệt mẫu phi của nó.”

Huyền Lăng vừa dứt lời, mọi người đều đồng loạt im lặng, người mà Huyền Lăng nói tới tất nhiên không phải là Kính Phi. Nhưng Hồ Đức nghi rất nhanh đã tươi cười, cất tiếng: “Phải rồi, mọi người đừng thấy Kính Phi tỷ tỷ thường ngày ít nói mà nhầm, nếu xét về sự thông minh, tinh quái, tỷ ấy không thua kém ai đâu, đại trí nhược ngu chính là nói tới những người như vậy. Cũng chỉ có Hoàng thượng mới hiểu được sự thông minh của tỷ tỷ, do đó lại càng thương yêu tỷ tỷ và Lung Nguyệt Công chúa hơn.”

Những lời này của Hồ Đức nghi khiến bầu không khí căng thẳng lập tức tan biến, Huyền Lăng vỗ tay cười rộ: “Vẫn là Uẩn Dung biết nói chuyện.” Dứt lời liền vòng tay qua vai nàng ta, kéo nàng ta lại gần.

Hồ Đức nghi yêu kiều nói: “Phải rồi, Uẩn Dung là phi tử của Hoàng thượng, cũng là biểu muội của Hoàng thượng, tất nhiên hiểu Hoàng thượng hơn người ngoài một chút.”

Kính Phi đứng bên cạnh, khẽ nở nụ cười. “Hoàng thượng thương yêu Hồ muội muội như vậy quả nhiên là có lý do, nghe nói năm sau muội muội sẽ được thăng lên làm dung hoa đấy.”

Hồ Đức nghi tươi cười, nói: “Kính Phi tỷ tỷ nói đùa rồi. Kính Phi tỷ tỷ có Lung Nguyệt Công chúa thông minh lanh lợi, sao muội so sánh được.”

Kính Phi cười, nói: “Muội muội có Hòa Mục Công chúa, tuy còn nhỏ nhưng đã đáng yêu vô cùng, thực sự rất giống muội muội, sau này lớn lên ắt cũng là một mỹ nhân.”

Trong lúc Kính Phi và Hồ Đức nghi vui vẻ nói cười, tôi nhìn Hồ Đức nghi chăm chú. Chỉ thấy nàng ta có khuôn mặt tròn trắng nõn, cặp mắt to lấp lánh có thần, đôi bờ môi đỏ như son, thân hình yêu kiều, nhỏ nhắn, trên người là một chiếc áo gấm màu đỏ được thêu những đường hoa văn phức tạp, nơi vạt áo còn đính đầy những viên châu ngọc long lanh, phía dưới mặc một chiếc váy lụa màu hồng, lại càng tôn lên vẻ kiều diễm. Nơi búi tóc bới kiểu nghênh xuân của nàng ta có cài một cây trâm trân châu bát bảo vô cùng bắt mắt, lại được điểm xuyết bằng đủ loại ngọc ngà, trông xa hoa, quý phái vô cùng, khiến Kính Phi trong bộ đồ gấm màu lam thêu hình hoa mai bên cạnh bị lu mờ hẳn. Có điều, cho dù Hồ Đức nghi thân thế hiển hách, dung mạo mỹ miều nhưng cũng có chỗ kém, có lẽ Kính Phi đã nắm rõ được điều này, do đó mới có thể tươi cười, ung dung như vậy.

Huyền Lăng lúc này đang hỏi Huyền Thanh tại sao lại mắc bệnh, việc chữa trị tiến hành tới đâu rồi. Huyền Thanh nhất nhất trả lời. Huyền Lăng lại nói: “Đệ đã lâu không vào cung rồi, làm trẫm thấy phiền muộn quá. Không có đệ, ngay đến một người để nói chuyện về thi từ ca phú, trẫm cũng chẳng có, nếu năm xưa nàng ấy không…” Nói tới đây, thần sắc Huyền Lăng hơi biến đổi, lập tức ngừng lời, không nói gì thêm.

Tôi rất muốn nhìn xem thần sắc y lúc này thế nào, thế nhưng lại bị thân thể Huyền Thanh chắn mất, chỉ nhìn thấy được một góc áo màu vàng của y. Thứ màu vàng tươi đó tôi chỉ vừa thoáng liếc qua đã cảm thấy gai mắt vô cùng, vội cúi xuống. Huyền Thanh nói: “Năm xưa, khi Thuần Nguyên hoàng tẩu vào cung, thần đệ thường xuyên thấy hoàng huynh và hoàng tẩu đàm luận về thi từ ca phú, còn cùng ca hát. Lúc đó thần đệ mới chỉ năm, sáu tuổi, vừa hiểu được một chút chuyện đời, thực là vô cùng ngưỡng mộ.”

Huyền Lăng thẫn thờ một lát, cất tiếng cảm khái: “Về sau, cũng chỉ có Chân thị là còn trò chuyện được với trẫm vài câu, chỉ đáng tiếc, nàng ta quá không biết điều.”

Lúc này Lung Nguyệt đang nghịch một quả cầu thêu, nghe thế bèn tò mò hỏi: “Mẫu phi, Chân thị là ai vậy?”

Kính Phi thầm khó xử, chẳng biết trả lời ra sao, đành nhìn qua phía Huyền Lăng. Huyền Lăng bế Lung Nguyệt lại, hôn lên trán nó một cái, cười nói: “Là một người mà con không quen. Đừng hỏi nữa, bảo mẫu phi bế con đi.”

Lòng tôi bỗng dưng nghẹn lại, Lung Nguyệt, nó chưa từng biết tới sự tồn tại của người mẹ ruột tôi đây. Nó có nhiều mẫu phi như thế, phụ hoàng của nó có nhiều phi tần như thế, vậy mà lại cố ý giấu giếm nó, không để nó biết tới sự tồn tại của tôi. Khi con gái ruột của tôi hỏi về tôi, tôi lại chỉ là một người xa lạ. Dù có một ngày tôi và nó đi sát qua nhau, tôi rốt cuộc cũng chỉ là một người qua đường, cả đời này đều như người dưng nước lã.

Hồ Đức nghi làm bộ giận dỗi nói: “Thì ra Hoàng thượng chê bọn thiếp ngu dốt, không biết nói chuyện, Kính Phi tỷ tỷ xưa nay vốn rộng lượng nhưng thần thiếp thì tức giận rồi đấy.”

Huyền Lăng cào nhẹ lên mũi nàng ta một cái, cười nói: “Xem nàng kìa, lại làm nũng rồi!”, sau đó quay sang nói với Huyền Thanh: “Đây là lần đầu tiên trẫm tới Thanh Lương Đài của đệ, vốn nghe nói nó rất tuyệt, hôm nay tới rồi mới biết quả nhiên không sai. Mà càng thú hơn là nó được xây trên đỉnh núi, có thể nhìn khắp núi non xung quanh, thu hết phong cảnh vào trong mắt.”

Huyền Thanh cười, nói: “Nếu Hoàng huynh thích, cứ thường xuyên tới đây chơi là được.”

Huyền Lăng thở dài, than: “Trẫm đâu có được cái phúc như vậy, muốn ra ngoài một chuyến cũng chẳng dễ gì, bị cặp mắt của bao nhiêu ngôn quan nhìn chằm chằm vào đấy”, nói rồi lại cười rộ. “Thanh Lương Đài của đệ tốt thì tốt thật, chỉ là còn thiếu một vị nữ chủ nhân. Lần trước tiểu thư nhà Bái Quốc công vào cung, trẫm và Thái hậu đều thấy rất tốt, thế mà đệ lại kiếm cớ khước từ, việc này đành cho qua. Có điều, đệ quả thực đã không còn nhỏ nữa, cũng tới lúc phải lập chính phi rồi.”

Huyền Thanh mỉm cười, nói: “Việc này đâu thể tùy tiện được. Nếu có người vừa ý, thần đệ nhất định sẽ lập tức đưa nàng về làm nữ chủ nhân của Thanh Lương Đài, cả đời yêu thương.”

Huyền Lăng nói: “Đệ tự có chủ ý của mình cũng tốt, việc chung thân đại sự dù gì cũng phải thận trọng. Bây giờ đã qua quãng thời gian nóng bỏng nhất rồi, đệ cứ từ từ mà lựa chọn.” Kế đó lại tủm tỉm cười, nói với giọng trêu chọc: “Nếu đệ thích, ta sẽ chọn lấy vài người trong số các tú nữ lần tới cho đệ.”

Huyền Thanh chỉ khẽ cười hờ hững. “Hoàng huynh nói đùa rồi!”

Huyền Lăng ngáp dài một cái, nói: “Sắc trời cũng không còn sớm nữa, trẫm phải quay về phê duyệt tấu chương. Lục đệ, đệ hãy nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho tốt nhé!”

Huyền Thanh vội đứng dậy định đi tiễn, Huyền Lăng ngăn lại, cười nói: “Không cần, đệ hãy nghỉ ngơi cho lành bệnh đi đã”, sau đó liền dẫn theo Kính Phi và Hồ Đức nghi rời đi, chẳng bao lâu sau thì hút bóng.

Huyền Thanh bước tới cầm lấy bàn tay tôi, dịu giọng nói: “Y đi rồi!”

Tôi khẽ “ừm” một tiếng, rốt cuộc không kìm được nữa, để những giọt nước mắt lã chã rơi.

Y khẽ xoa lưng tôi, nhẹ nhàng an ủi: “Cho dù hoàng huynh không chịu thừa nhận nhưng nàng rốt cuộc vẫn là mẹ đẻ của Lung Nguyệt, đây là điều không ai có thể thay đổi.”

Tự nơi đáy lòng tôi, sự đau thương và mềm yếu không ngớt trào dâng, tựa như tơ tằm, chậm rãi quấn lấy trái tim tôi, quấn rất chặt, khiến tôi cơ hồ không thể thở nổi. Một lát sau, tôi ngẩng lên, đẩy tay y ra, khẽ lắc đầu, nói: “Lung Nguyệt không biết cũng tốt, một người mẹ như ta sẽ là nỗi sỉ nhục của nó.”

Huyền Thanh hơi cau mày. “Nói bậy! Có một người mẹ hết lòng hết dạ vì con như nàng là niềm kiêu ngạo lớn nhất của nó.”

Tôi thở dài, than: “Có biết hay không cũng không quan trọng, chỉ cần nó sống tốt là được, như thế ta cũng yên tâm.” Tôi đưa tay lau nước mắt, khẽ gọi y: “Vương gia…”

Y sững người. “Hoàn Nhi, sao nàng không gọi tên ta nữa?”

Tôi cúi đầu, đưa mắt nhìn chậu văn trúc xanh biếc, hờ hững nói: “Vừa rồi gọi tên Vương gia là sơ suất của Mạc Sầu. Mạc Sầu vô ý phạm lỗi, mong Vương gia lượng thứ, ngoài ra xin Vương gia hãy xưng hô với ta như trước.” Tôi cố tình nói vậy, muốn vạch rõ ranh giới giữa tôi và y, kỳ thực khoảng cách giữa hai chúng tôi há chỉ là một trời một vực. Tôi khó khăn lắm mới thoát khỏi cuộc sống nơi hoàng cung, sao có thể tùy tiện dính dáng đến một người tới từ nơi cung đình như y được. Sự cầm lòng không đặng đó của tôi quyết không thể xuất hiện thêm lần nữa.

Sự sững sờ và chấn động của Huyền Thanh không hề giảm bớt, khuôn mặt còn bị bao phủ bởi một tầng nghi hoặc. “Là vì hoàng huynh sao?”

Tôi khẽ lắc đầu, ôm chặt chiếc lò sưởi cầm tay, dựa vào một chút hơi ấm từ đó để giúp mình không gục ngã. “Hoàng thượng bất ngờ tới đây chỉ khiến ta tỉnh táo trở lại mà thôi. Vừa rồi ta nhất thời hồ đồ, do đó mới quên mất tôn ti mà mạo phạm tới Vương gia.”

Y cau mày, cười gượng, nói: “Y trước giờ chưa từng tới Thanh Lương Đài, ta cũng không ngờ y lại đột nhiên tới như vậy. Nhưng y bỗng dưng nổi hứng tới đây, với ta, với nàng đều là…”

“Việc trên thế gian này ai mà có thể đoán biết trước được.” Tôi chậm rãi cúi đầu, cẩn thận giấu đi giọt lệ nơi khóe mắt, nói với giọng vô hồn.

Y vẫn mỉm cười nhưng trong mắt lại tràn đầy nét thê lương. “Vừa rồi khi nói những lời này, nàng không như vậy.” Câu nói này vừa rồi tôi quả có nói qua, bên trong ẩn chứa sự ấm áp và mong chờ, bởi sau khi thân thể khỏe lại, trái tim vốn phủ bụi lâu ngày của tôi cũng đã mở ra. Thế nhưng sau khi Huyền Lăng tới, tôi đột nhiên phát hiện giờ đang là mùa đông giá lạnh tột cùng, tâm cảnh cũng hoàn toàn khác với trước đó.

Tôi nắm chặt chiếc váy màu trắng mình đang mặc, cảm giác như thể đang nắm một khối tuyết lạnh băng. “Vương gia đã tin vào cái gọi là tâm ý tương thông, vậy lúc này nhất định cũng hiểu được tâm tư của ta, hà tất phải để ta nói nhiều thêm nữa.” Sự lạnh lùng lại một lần nữa dựng lên cho tôi một bức tường vững chãi, chặn đứng mọi sự quan tâm và tình cảm của y. Tôi bằng lòng sống trong sự lạnh lẽo này. Huyền Lăng, y giống như một chậu nước lạnh giội xuống giấc mộng đẹp của tôi, khiến tôi toàn thân băng giá.

Nơi khóe miệng Huyền Thanh ngợp đầy một nét cười chua chát. “Ta cơ hồ đã hận hoàng huynh, nếu y không tới…”

Tôi cắt ngang lời y, giọng nói tột cùng lạnh lẽo, tựa như ngọn gió núi mùa này, dù mặt trời có rực rỡ thế nào cũng không làm nó ấm áp lên được: “Dù y tới hay không, có một số giấc mộng, đến cuối cùng vẫn phải tỉnh lại.” Thấy Huyền Thanh đi chân trần trên đất, tôi không khỏi thầm xót xa, vội nói: “Vương gia còn chưa lành bệnh, nên nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng cho tốt đi, Mạc Sầu xin cáo từ trước.” Tôi chỉnh lại quần áo, lẳng lặng rời đi.

Phía sau lưng tôi, y trầm giọng cất tiếng, tuy âm trầm nhưng kiên định: “Ta biết, vừa rồi ngọn gió trong lòng nàng đã thổi về phía ta. Dù chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng ta cũng vui vẻ vô cùng. Ta sẽ đợi nàng, đợi ngọn gió trong lòng nàng lại thổi về phía ta lần nữa. Chỉ cần nàng bằng lòng, ta sẽ mãi đi bên cạnh nàng, chỉ cần nàng ngoảnh đầu là lập tức có thể nhìn thấy.”

Tôi bất giác dừng chân, lòng thầm mềm lại, cơ hồ muốn rơi nước mắt, thế nhưng khi mở miệng thì lại nói: “Vương gia có để tâm tới vị biểu muội Hồ Đức nghi đó không?”

Y ngạc nhiên hỏi: “Sao cơ?”

Tôi bình tĩnh nói: “Nếu Vương gia để tâm, xin hãy nhắc Hồ Đức nghi một tiếng, trong hậu cung, bất cứ người nào cũng chớ nên tỏ ra rằng mình rất hiểu Hoàng thượng, ít nhất như thế cũng sẽ khiến Hoàng thượng phản cảm, mà điều này thì không hay chút nào.”

Huyền Thanh thoáng sững người, ngay sau đó bèn nói: “Ta sẽ tìm cách nhắc nhở muội ấy.”

Tôi hờ hững cất tiếng: “Với tính cách của Hồ Đức nghi, chưa chắc đã chịu nghe lời khuyên của Vương gia, Vương gia chỉ cần tận lực là được rồi.” Dứt lời, tôi bèn xoay người rời đi.

Huyền Thanh gọi Hoán Bích vào, nói: “Chỗ ở của nàng bây giờ thực không tiện lắm, ta đã sai người quét dọn Tiêu Nhàn quán cho nàng ở rồi. Nàng… Nương tử nếu có thời gian rảnh, hãy tới đó xem có vừa ý không.”

Tôi khom người, nói: “Vương gia đang bị ốm mà còn hao tâm tổn sức vì ta như vậy, thực khiến ta áy náy vô cùng. Kỳ thực ở chỗ nào cũng như nhau cả thôi.”

Sắc mặt y lúc này trắng nhợt như chiếc áo trên người y. “Nàng cứ đi xem có thích không đã.” Y đã có thịnh tình như vậy, tôi biết phải thoái thác thế nào đây? Tôi không biết phải nói gì, chỉ cúi đầu im lặng, chậm rãi cất bước ra ngoài.

Ngoài Lục Dã đường, ánh dương rạng rỡ, giữa mùa đông thật hiếm khi thời tiết tốt thế này. Trong khoảnh khắc được ánh dương chiếu lên người, tôi cơ hồ có cảm giác như đã sang kiếp khác, còn bao nhiêu chuyện vừa rồi đều chỉ là một giấc mộng Nam Kha.

Hoán Bích cẩn thận đỡ tôi về, lại hâm nóng thuốc cho tôi uống, khi vị đắng chát của thảo dược bao trùm đầu lưỡi, tôi mới có cảm giác đã quay về hiện thực.

Hoán Bích khẽ nói: “Vừa rồi Hoàng thượng đã tới đây.”

“Ừm!”

Hoán Bích dè dặt hỏi: “Tiểu thư gặp Hoàng thượng rồi sao?”

Vị đắng chát của thảo dược ngưng đọng nơi đầu lưỡi, không sao xua tan đi được. “Không!”

Hoán Bích dường như thở phào một hơi, lại xoa ngực, nói: “Vậy thì tốt. Vừa rồi thấy Hoàng thượng đi vào Lục Dã đường, nô tỳ thực sự đã toát mồ hôi hột, may mà không có việc gì xảy ra.” Hoán Bích nói xong liền đặt một quả mơ ngâm đường vào miệng tôi, nói: “Thuốc này đắng quá, tiểu thư ăn tạm quả mơ đi cho đỡ khó chịu.”

Tôi ngậm quả mơ trong miệng, sau khi im lặng một lát liền lẩm bẩm: “Cố tình không gặp, tất nhiên sẽ không phải gặp.”

Hoán Bích nói: “Vậy đứa bé mà Kính Phi nương nương bế có phải là Lung Nguyệt Công chúa của chúng ta…”

Tôi cắt ngang lời Hoán Bích: “Hoán Bích, ta mệt rồi!” Sau đó liền uể oải nằm xuống, lúc này tôi chỉ muốn ngủ một giấc thật say, quên đi tất cả mọi chuyện trên đời.

Hoán Bích không dám nói thêm, đắp chăn cho tôi rồi lặng lẽ rời đi.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.