Hậu Cung Chân Hoàn Truyện

Quyển 4 - Chương 24: Tiếng sáo đêm



Khi về đến thiền phòng, nước mắt của tôi sớm đã cạn khô. Tôi không muốn để Cận Tịch và Hoán Bích biết được nỗi bi thương và sự yếu đuối của mình, dù rằng bọn họ đã loáng thoáng đoán ra một số điều.

Tôi vốn cho rằng sau khi nói ra những nỗi sợ hãi và cố kỵ đã chất chứa trong lòng bấy lâu, tâm trạng tôi sẽ nhẹ nhõm hơn, thế nhưng giờ đây ánh mắt tuyệt vọng của y thỉnh thoảng lại xuất hiện trước mắt tôi, khiến tôi cảm thấy đau đớn vô cùng, không muốn nhìn thấy, cũng không muốn nghĩ gì tới y.

Y quả nhiên đã không tới nữa, kể từ hôm đó chúng tôi không còn gặp lại nhau lần nào. Tôi cả ngày quỳ trước án hương tụng niệm kinh văn, tay lần tràng hạt, dựa vào đó để xoa dịu trái tim vốn ngợp nỗi thấp thỏm, bất an. Mùi đàn hương trong phòng ngày một nồng đậm, giữa thời điểm xuân hạ giao mùa như bây giờ, thứ mùi chẳng giống mùi hoa đó kỳ thực hoàn toàn không hợp cảnh.

Phía sau lưng, Hoán Bích và Cận Tịch cùng nhìn tôi chăm chú mà cất tiếng thở dài, hình như đã lại nặng nề hơn trước.

Mỗi ngày tôi đều đắm mình trong những cuốn kinh văn và khói hương vương vất, cho đến khi mỏi mệt mà ngủ gục. Kỳ thực con người có thể sống một cách vô tri vô giác như thế cũng không hẳn không tốt, chỉ là Huyền Thanh, tuy y không xuất hiện bên tôi nữa nhưng lại thường xuyên bước vào trong giấc mộng của tôi.

Mỗi lần nhìn thấy sắc mặt trắng bệch của tôi, Ôn Thực Sơ lại lộ vẻ xót xa vô hạn. “Muội rõ ràng đã khỏe lại rồi, tại sao bây giờ tâm trạng lại kém như thế, chẳng lẽ có điều gì bức bối hay sao?”

Hoán Bích đành đứng ra giải thích giúp tôi: “Tiểu thư ngày ngày đều ở đây tụng kinh niệm Phật, kỳ thực cũng buồn chán lắm!”

Ôn Thực Sơ thầm thở phào một hơi, khi tới chỗ tôi lần nữa, hắn còn xách theo một chiếc lồng chim, hào hứng nói: “Ta vừa mua mấy con họa my, nghe bọn chúng hót thấy hay quá, liền mang tới đây cho muội.”

Mấy con họa my đó lông màu vàng nhạt, thân hình nhỏ nhắn, tiếng hót lại trong trẻo, tôi vừa thấy đã thích, liền giữ lại nuôi trong phòng. Đám họa my này có lẽ đã được Ôn Thực Sơ cẩn thận chọn lựa, đều rất hoạt bát, cứ hót líu lo không ngừng, khiến căn phòng náo nhiệt hơn hẳn.

Tối ấy tôi ngủ muộn, đang lúc mơ màng thì loáng thoáng nghe thấy có thứ gì sắc bén đang cào soàn soạt vào song cửa sổ, phát ra những âm thanh hết sức ghê tai. Gian thiền phòng này tuy từng được sửa chữa nhưng cửa sổ đã cũ lắm rồi, không được chắc chắn lắm. Tôi trở mình ngồi dậy, thấy trong chiếc lồng chim treo trên cửa sổ, mấy con họa my đang kêu chí chóe. Tôi mơ màng thầm nghĩ: “Lũ chim này sao ồn ào thế chứ?” Sau đó liền đứng lên, lần mò đi thắp nến, miệng khẽ cất tiếng gọi: “Cận Tịch…”

“Soạt” một tiếng, lớp giấy dán cửa sổ bị cào rách. Tôi còn chưa kịp thắp nến, nương theo ánh trăng chiếu vào mà liếc mắt nhìn qua, thấy cửa sổ đã bị thủng một lỗ lớn, đám họa my trong lồng xù lông kêu ầm ĩ. Từ ngoài cửa sổ, một cái đầu lông lá thò vào, mang theo cặp mắt xanh lè vô cùng đáng sợ. Nó kêu lên “meo” một tiếng rồi lao thẳng về phía tôi, thân hình cực kỳ to lớn, còn mang theo một luồng gió tanh hôi khó ngửi. Tôi đưa tay ra đỡ theo bản năng, đồng thời kinh sợ kêu ré lên: “Mèo! Có mèo!”

Xen lẫn trong tiếng gió, những tiếng bước chân hỗn loạn vang lên, Hoán Bích chạy tới trùm chăn lên người tôi, nôn nóng cất tiếng gọi lớn: “Cận Tịch, mau đuổi mèo ra ngoài, đừng để tiểu thư nhìn thấy nó nữa, đừng để tiểu thư nhìn thấy nó nữa!”

Tôi sợ đến nỗi toàn thân run rẩy, dường như thời gian chảy ngược, trở về thời điểm tôi tới nhà Phạm Thị lang làm khách năm nào. Nhớ lúc đó, công tử nhà họ Phạm chỉ xấp xỉ tuổi tôi, chỉ chừng bảy, tám tuổi, nhưng lại rất nghịch ngợm, trong tay bế một con mèo, thừa lúc tôi không chú ý đã nhét nó vào trong chiếc áo gấm của tôi. Lúc ấy là mùa đông, chiếc áo gấm tôi mặc rất rộng, còn được bó lại ở phần eo, con mèo sau khi chui vào không tìm được phương hướng, liền vừa cào vừa kê điên cuồng. Những tiếng “meo meo” đó nghe thật chói tai và quái dị, tựa như cơn ác mộng bao trùm lấy tôi, không cho tôi thoát ra ngoài. Lúc ấy tôi chỉ biết dùng sức mà cất tiếng gào khóc, chúng bạn bên cạnh cũng sợ hãi kêu ré lên. Thân thể lông lá của con mèo cứ liên tục bò qua bò lại, cuối cùng chỗ vạt áo trước ngực tôi cũng bị tách ra, rồi nó nhảy vọt ra ngoài. Tôi vĩnh viễn không sao quên được cảm giác khi nó thoát ra ngoài và nhảy lên vai tôi, chiếc đuôi tanh hôi đầy lông của nó quệt nhẹ qua cằm tôi, đôi mắt xanh sẫm quỷ dị hằn học nhìn tôi chằm chằm, khiến tôi của thời thơ ấu hoàn toàn mất đi sức kháng cự.

Tôi vì việc này mà ốm nặng một phen, về sau tuy những vết cào trên người đã khỏi, cũng không để lại sẹo nhưng lại sinh ra chứng sợ mèo, chỉ cần có con mèo nào tới gần là tôi sẽ sợ hãi hét toáng lên. Cũng vì vậy mà từ đó về sau, trong Chân phủ không có một con mèo nào xuất hiện.

Vậy mà giờ đây, giữa đêm hôm khuya khoắt, một con mèo lớn như thế lại đột nhiên xuất hiện, khiến tôi sợ đến nỗi suýt thì hồn lìa khỏi xác.

Tôi được Hoán Bích trùm vào trong chăn, nhưng đôi tai vẫn nghe thấy tiếng kêu đầy vẻ sợ hãi của Hoán Bích: “Con mèo này sao lại to như thế chứ?” Cận Tịch cầm gậy đập liên tục nhưng hình như lần nào cũng trượt, còn đập cả vào tường. Hơn nữa, có vẻ không chỉ có một con, mà có tới mấy con, bọn chúng cứ chạy đi chạy lại trong phòng, hung dữ kêu gào.

“Rầm” một tiếng, cánh cửa như bị ai đó đá bung ra, kế đến là những âm thanh hỗn loạn, có tiếng kêu thê thảm của lũ mèo, tiếng hô kinh ngạc của Hoán Bích, và cả lời an ủi của Cận Tịch, sau đó một người chạy đến ôm chặt lấy tôi, khẽ vỗ vào chăn mà dịu giọng nói: “Không sao rồi, không sao rồi!”

Tôi chưa hết kinh hồn, đưa tay vén chăn ra, đầu tóc rối bời. Ngước mắt lên, bắt gặp khuôn mặt Huyền Thanh, những sự yếu đuối và sợ hãi trong lòng tôi sau nháy mắt đã cuồn cuộn dâng trào, rồi tôi nắm chặt lấy cánh tay y, vùi đầu vào lòng y mà bật khóc nức nở.

Y khẽ xoa lưng tôi, dịu dàng an ủi: “Không sao rồi, là mấy con mèo rừng vào đây kiếm mồi đó thôi.”

Tôi ngoảnh đầu nhìn qua, thấy trên mặt đất la liệt xác mấy con mèo màu xám, thân hình to lớn, so với mèo nhà thì lớn hơn rất nhiều. Chiếc lồng chim đã rơi xuống đất vỡ tan, mấy con họa my bị cào lòi cả ruột, máu tươi bắn ra tung tóe. Tôi chỉ liếc qua đã sợ hãi vô cùng, toàn thân co rúm lại. Huyền Thanh nói: “Đừng sợ, đừng sợ, chúng đã chết cả rồi, không việc gì nữa rồi”, sau đó lại hơi cau mày. “Nơi này là vùng núi, sao có thể nuôi chim được. Trong núi tuy không có mãnh thú nhưng mèo rừng lại nhiều vô kể, bọn chúng thường đi thành đàn, thích nhất là ăn thịt chim, tính tình hung dữ, thân thể to lớn, thậm chí còn dám tấn công con người. Quá nửa là bọn chúng nghe thấy tiếng chim hót nên mới bị dụ đến đây săn mồi, may mà chưa ai bị làm sao.”

Hoán Bích lẩm bẩm nói: “Bọn nô tỳ không biết ở đây có mèo rừng, đều là tại Ôn đại nhân, đang yên đang lành lại mang họa my tới. Nói là để tiểu thư nghe hót cho vui tai, nhưng thành ra lại là dụ mèo rừng tới đây.”

Cận Tịch thở phào một hơi. “May mà Vương gia tới kịp thời, bằng không bọn nô tỳ không biết phải làm sao, vừa rồi nô tỳ cũng sợ phát khiếp, nào đã từng thấy con mèo nào to như vậy. Nói ra thì đúng là Ôn đại nhân có lòng tốt nhưng việc làm chẳng ra sao.” Dứt lời, nàng ta liền đi kiếm một chiếc túi vải lớn, bỏ xác mèo và xác họa my vào trong, mang đi vứt rồi lại cùng Hoán Bích cọ rửa sạch căn phòng.

Hoán Bích và Cận Tịch đều ở đây, tôi cảm thấy rất xấu hổ, vội chỉnh lại đầu tóc, ngồi xuống, cất giọng nghi hoặc: “Hôm nay may mà có Vương gia, nhưng sao giờ này mà Vương gia còn ở gần đây vậy?”

Trên khuôn mặt y thoáng lộ nét lo âu. “Nàng không muốn gặp ta, ta chỉ đành lén đến đây thăm nàng thôi. Hơn một tháng nay, nàng đều gần tới canh hai mới ngủ, chẳng trách sắc mặt lại nhợt nhạt thế này.”

Tôi sững người. “Không ngờ ta lại chẳng hay biết gì.”

Y khẽ nở nụ cười, nói với giọng chua chát khó tả: “Nếu ta cố ý không muốn để nàng phát hiện, nàng làm sao biết ta đang ở ngay bên ngoài được.”

Tôi ngây ngốc đáp: “Vậy, sau khi ta không từ mà biệt ở Thanh Lương Đài, có phải Vương gia vẫn thường như vậy không?”

Y cúi đầu không nói, thế nhưng nhìn vẻ mặt kia tôi đã đoán ra đáp án. Trái tim tôi đập thình thịch từng hồi, trông y lúc này vô cùng tiều tụy, hai mắt đều thâm quầng, chắc hẳn ngủ không đủ giấc, hoàn toàn chẳng còn dáng vẻ của một thiếu niên phong lưu, tuấn tú, dịu dàng như ngọc thuở nào. Tôi khẽ buông tiếng thở dài. “Vương gia việc gì phải khổ thế chứ?”

Y ưỡn thẳng người lên, mỉm cười, nói: “Ta không khổ chút nào, chỉ là phải thấy nàng ngủ rồi ta mới yên tâm đi được.”

Trên vai áo y còn ướt đẫm dấu sương đêm, tôi hơi cau mày, khẽ nói: “Lời này thì đúng là nói dối rồi. Nếu sau khi ta ngủ Vương gia sẽ đi ngay thì tại sao bây giờ Vương gia vẫn còn ở đây?”

Y thở dài than: “Nàng cớ gì mà phải thông minh như thế chứ, cứ coi như ta tham ngắm cảnh đêm là được rồi”, sau đó lại áy náy nói: “Hôm nay là ta không tốt, tự dưng lại ngủ gật, do đó mới khiến nàng phải chịu cơn kinh hãi. Thấy nàng nuôi họa my, ta nhất thời cũng không nghĩ đến việc sẽ dụ mèo rừng tới.”

Lòng tôi thầm máy động nhưng lại chỉ có thể đáp lại bằng sự lặng im, hồi lâu sau mới cất giọng thê lương: “Vương gia thân phận cao quý, việc gì phải tự làm khổ mình như vậy?”

Y gượng cười một tiếng, vẻ mặt càng trở nên tiều tụy. “Đối với ta, có thể đứng bên ngoài nhìn ánh đèn hắt ra từ cửa sổ phòng nàng đã là điều an ủi lớn nhất rồi.”

Lòng tôi xao động từng cơn, tựa như có muôn vàn ngọn sóng đang trào dâng không ngớt. Sau một thoáng im lặng, tôi đẩy tay y ra, khẽ nói: “Ta đã không việc gì rồi, xin Vương gia hãy quay về ngủ đi, bây giờ chắc đã phải canh ba rồi đấy!”

Ánh mắt y trong veo như dòng nước suối, cứ thế chăm chú nhìn tôi không chớp. Trái tim tôi cơ hồ ngừng đập, đôi mắt không hiểu sao lại không thể né tránh y, chỉ biết lặng lẽ nhìn lại.

Hồi lâu sau, y đứng dậy, nói: “Vậy nàng nghỉ ngơi đi, đừng nghĩ tới chuyện đêm nay nữa.”

Tôi ngoan ngoãn gật đầu. “Được!”

Y đưa tay tới định gài lại góc chăn cho tôi, tôi vội ngăn lại. “Để ta tự làm được rồi.”

Y gượng cười chua chát, tựa như bông hoa lau đang không ngừng lay động giữa làn gió mùa thu. “Lần trước ta gài góc chăn cho nàng còn là ở Thanh Lương Đài.” Y dừng lại một chút, trong mắt thấp thoáng một tia khẩn cầu. “Đã lâu lắm không làm như vậy rồi, hãy để ta giúp nàng một lần nữa đi. Lần sau, e là chẳng còn cơ hội nữa.”

Cảm giác chua xót trào dâng, tôi không đành lòng cự tuyệt y thêm nữa, để mặc y giúp tôi cẩn thận gài lại góc chăn. Rồi y khẽ nói: “Ban đêm cẩn thận đừng để cảm lạnh, sắc mặt nàng kém quá!”

Tôi khẽ gật đầu, lại thấy trong mắt y đầy vẻ quyến luyến, thế là không dám nhìn tiếp nữa, quay đầu qua hướng khác, nhắm mắt lại.

Kể từ hôm ấy, những cơn bóng đè của tôi bắt đầu trở nên nghiêm trọng. Dù không có sự quấy nhiễu của mèo rừng nhưng chuyện hồi nhỏ và cặp mắt xanh lè của mèo rừng đêm đó lại đi vào giấc mộng của tôi, thường khiến tôi sợ đến nỗi kêu ré lên và giật mình bừng tỉnh giữa đêm khuya vắng lặng.

Hoán Bích và Cận Tịch bầu bạn kề bên vẫn chẳng ích gì, sự sợ hãi khiến tôi hằng đêm không sao ngủ nổi.

Chính lúc này, tiếng sáo đã vang lên, liền thành một dải, miên man không dứt. Cho dù chẳng nghiêng tai lắng nghe, tôi cũng biết ngay đó là tiếng sáo của Trường tương thủ. Những âm thanh tròn trịa cao vang được làn gió đêm đưa tới, lọt vào tai tôi hết sức rõ ràng. Tôi ôm chăn ngồi đó, cảm thấy sự sợ hãi và bất an đã hoàn toàn lắng xuống, còn tiếng sáo kia lại giống như dòng suối mát lành giữa nơi rừng núi, chầm chậm chảy vào trái tim tôi.

Hoán Bích đứng dậy, đi mở cửa sổ, khẽ nói: “Hẳn là Vương gia đang thổi sáo!”

Tôi lẩm bẩm: “Muội cũng nghe ra rồi sao?”

Hoán Bích hơi nhếch khóe môi, nở nụ cười hờ hững. “Chỉ có tiếng sáo của Vương gia mới chứa chan tình cảm thế này thôi!” Lúc này, bóng dáng Hoán Bích chừng như đã hòa vào giữa ánh trăng, giọng nói rất nhẹ nhàng: “Đêm nay, chẳng biết Vương gia sẽ thổi sáo đến canh mấy nữa.”

Tình cảm bên trong, ngay đến Hoán Bích cũng nghe ra.

Tôi tựa người vào tường, thấy ánh trăng chiếu vào hệt như những bông hoa lê trắng lóa, bất giác nghĩ tới cảnh y đứng thổi sáo dưới trăng, sau khi im lặng hồi lâu, rốt cuộc không kìm được mà rơi lệ.

Đêm ấy, tôi lại đi vào giấc ngủ trong tiếng sáo du dương của Huyền Thanh. Vậy mà thứ khiến tôi giật mình bừng tỉnh không phải là ác mộng mà là cơn mưa rào đột nhiên kéo tới bên ngoài cửa sổ.

Trong dịp giữa hè, những cơn mưa rào bất chợt thế này kỳ thực không phải điều gì đặc biệt.

Giữa cơn mưa rào, từng làn gió dữ mang theo hơi nước lùa thẳng vào phòng qua ô cửa sổ khép hờ. Cận Tịch giật mình bừng tỉnh, vội chạy tới đóng cửa sổ cẩn thận, lại thấy tôi đang ngồi thẫn thờ bên giường, liền lẳng lặng ngồi xuống cạnh tôi.

Ánh nến không ngừng đung đưa trước mắt, một cơn mưa dữ dội nặng nề trút xuống nhân gian, cuốn trôi hết những thứ tanh hôi nơi trần thế. Trong tiếng mưa rơi, sấm giật, tiếng sáo kia vẫn da diết vang lên, chừng như không bao giờ dứt.

Trái tim tôi như bị ai đó cào mạnh, trong lòng ngợp nỗi mong chờ, rằng tiếng sáo kia mau mau dừng lại, mau mau dừng lại!

Huyền Thanh, muội xin huynh đấy, đừng lo lắng việc muội ngủ có được ngon không nữa, mưa to thế này, huynh mau về đi!

Cận Tịch liếc mắt nhìn tôi, ôn tồn cất tiếng: “Nương tử đang lo lắng điều gì sao?”

Tôi nhất thời không che giấu nổi tâm trạng bất an của mình, thấp giọng đáp: “Ngươi nghe xem, tiếng sáo kia vẫn chưa dừng.”

Cận Tịch thở dài một hơi, vuốt phẳng lại mép áo của mình, nói: “Thật là đáng thương, bên ngoài mưa to như thế, ngâm nước mưa giờ này dễ bị ốm lắm.”

“Mưa to như thế…” Tôi khẽ lẩm bẩm, lòng sợ hãi vô cùng, còn thấy hết sức lo lắng.

Ánh mắt Cận Tịch tựa như tia chớp sáng lòa bên ngoài cửa sổ, chiếu rọi khắp căn phòng. Nàng ta nghiêm túc nói: “Có mấy lời này bấy lâu nay nô tỳ vẫn không dám nói, nhưng bây giờ thấy nương tử như vậy, thực đã đến lúc không thể không nói rồi!” Cận Tịch khẽ nắm lấy bàn tay tôi, trong giọng nói nghiêm túc toát ra một vẻ dịu dàng và thương yêu vô hạn: “Nương tử, việc quá khứ đều đã qua rồi. Nương tử tiều tụy thế này vừa là giày vò bản thân mà cũng là giày vò Vương gia. Bao năm nay nô tỳ đã thấy rõ cả, Vương gia nghĩa nặng tình sâu, là một người có thể gửi gắm được.”

Giữa bầu trời đêm mờ mịt, sấm rung chớp giật đì đùng, khiến người ta tê dại cả hai tai, nhưng tiếng sáo vẫn du dương vang vọng, khiến lòng tôi nổi sóng từng cơn.

Hoán Bích tuy cũng có khuyên can hay ngăn cản nhưng trước giờ chưa từng có ai nói ra những lời thẳng thắn với tôi thế này.

Mưa vẫn rơi như trút, Cận Tịch thấy tôi chỉ lặng im ngơ ngẩn, liền khẽ mỉm cười. “Trước đây, khi còn ở trong cung, nô tỳ cũng rất thích nghe kịch, có một khúc Tư phm là nghe quen tai nhất, đằng nào bây giờ nương tử cũng không buồn ngủ, chi bằng để nô tỳ hát cho nương tử nghe giải sầu.”

Lòng tôi đang tê dại, đâu còn tâm trạng để ý xem Cận Tịch định hát gì, để mặc cho nàng ta vừa vỗ tay làm nhịp vừa hát: “Gã đánh mắt nhìn tôi, tôi đưa mắt liếc gã. Gã và tôi, tôi và gã, hai bên xiết nỗi nhớ nhung. Oan gia! Làm sao để thành được mối nhân duyên? Hãy chết trước điện Diêm Vương, để ông ta lấy chày ra giã, lấy cưa ra cắt, lấy cối ra xay, lại bỏ vào chảo dầu mà chiên mà rán. Úi chao, để mặc ông ta! Chỉ thấy người sống chịu tội, nào từng thấy ma quỷ mang cùm! Úi chao, để mặc ông ta. Lửa cháy ngang mày, hãy nhìn trước mắt. Lửa cháy ngang mày, hãy nhìn trước mắt[1].”

[1] Đây là một phần của phân đoạn Tư phàm trong vở Nghiệt hải ký, thuộc dòng Côn khúc. Phân đoạn Tư phàm này chỉ có một nhân vật là ni cô Sắc Không, cô này vào chùa từ nhỏ, tuổi vừa đôi tám, không chịu nổi cuộc sống cô đơn trong chùa, khao khát được trải nghiệm tình yêu nam nữ nơi trần tục, sau một phen đấu tranh tư tưởng kịch liệt cuối cùng đã trốn khỏi chùa và chạy xuống núi. Trích đoạn bên trên thể hiện khát khao về tình yêu cùng những sự đấu tranh trong tư tưởng của Sắc Không – ND.

Dường như có một tia chớp màu tím xanh lóe lên giữa bầu trời, khiến lòng tôi bỗng nhiên rực sáng. Cận Tịch đột ngột mở cửa sổ ra, tôi nhìn thấy bên ngoài sân vô số bông tịch nhan đã lặng lẽ rơi rụng trong màn mưa gió bập bùng.

Lòng tôi chấn động tột cùng, từng dòng máu nóng không ngớt cuộn dâng, miệng thầm lẩm bẩm: “Lửa cháy ngang mày, hãy nhìn trước mắt. Lửa cháy ngang mày, hãy nhìn trước mắt.”

Tôi đột nhiên đứng dậy, cất bước chạy nhanh ra ngoài. Hoán Bích không biết đã thức giấc tự bao giờ, nôn nóng gọi với theo: “Tiểu thư, sao lại không mang ô thế?”

Tôi ngoảnh đầu lại, nở một nụ cười tươi rạng rỡ. “Không cần đâu”, rồi bèn xách váy vội vã chạy đi.

Phía sau lưng, dường như Hoán Bích đang cất tiếng thở dài với Cận Tịch. “Tiểu thư rốt cuộc đã ra ngoài rồi.”

Bên ngoài trời, những hạt mưa rơi ào ào không ngớt, tựa vô số cây roi quất lên người tôi, mang tới cảm giác đau nhói. Quần áo tôi mặc trên người đều đã ướt nhẹp, dính sát vào người, đôi mắt thì bị nước mưa làm nhòe đi, mái tóc cũng trở nên rối loạn. Gió mưa không ngừng cản bước chân tôi, một tia sét lớn đánh gãy một cành cây ở nơi cao tít nhưng tôi vẫn chẳng để tâm, cũng không hề cảm thấy mệt. Bao nhiêu năm nay, bất kể khi đứng giữa những bông hoa lê trắng như tuyết ở Đường Lê cung hay khi tụng kinh niệm Phật giữa làn khói hương vương vất trong thiền phòng, tâm trạng tôi chưa từng thư thái như hôm nay.

Tôi chạy vút đi, tựa một chú chim vừa được chắp lại cho đôi cánh, đang bay về hướng tiếng sáo phát ra. Y ở nơi nào, nơi đó chính là đích đến của tôi.

Giữa màn mưa đêm, y đứng bên vách đá trong bộ quần áo màu trắng phất phơ, như vừa bước ra từ trong sấm sét, cây sáo đặt kề bên môi, nhẹ nhàng thổi những âm thanh du dương, trong trẻo.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi không sao kìm nén được những giọt nước mắt của mình, đôi chân vội chạy đi, nhào thẳng vào lòng y.

Nước mưa chảy xuống từ trên khuôn mặt y. Y ôm tôi trong lòng, cơ hồ không thể tin nổi, lẩm bẩm nói: “Hoàn Nhi… Là nàng đó sao?”

Tôi gật đầu thật mạnh, lại quàng tay qua cổ y, vừa rơi nước mắt vừa cười nói: “Là muội. Muội tới rồi đây.”

Y chừng như vẫn không dám tin, đôi mắt mở to nhìn tôi chằm chặp. Đột nhiên, y cởi áo ngoài của mình ra, khoác lên người tôi, giận dữ nói: “Nàng điên rồi! Giờ đang mưa to như vậy mà nàng còn chạy ra ngoài, không biết lo cho thân thể của mình sao?”

Tôi cắn chặt môi, trừng mắt nhìn y, nghẹn ngào nói: “Rõ ràng là huynh không lo lắng cho thân thể của mình, mưa to như vậy mà còn đứng đây thổi sáo như một kẻ điên.”

Y kéo đầu tôi tựa vào sát ngực y, thở dài nói: “Nàng trước giờ vốn sợ nhất là sấm sét mà.”

Tiếng tim đập của y vang vào tai tôi không ngớt, cách một lớp áo ướt nhẹp, nhiệt độ cơ thể y vẫn lẳng lặng truyền tới thân thể tôi.

Trong lòng trào dâng vô số tình cảm ngọt ngào, tôi nép sát đầu vào ngực y, thấp giọng nói: “Chỉ cần có huynh ở bên, muội không sợ gì nữa.”

Y dường như không nghe rõ, ngẩn ngơ hỏi: “Gì cơ?”

Nước mưa làm bốc lên vô số làn hơi nước trắng lóa, che mờ khuôn mặt của y. Lúc này lòng tôi đã trở nên tột cùng kiên định, kiếp này vất vả bao phen, những chuyện xưa cũ chất chồng làm thể xác và tinh thần tôi đều sụp đổ, thế nhưng giữa lúc lòng dạ nguội lạnh, rốt cuộc vẫn có thứ gì đó mà tôi không thể buông bỏ, một mực đi kiếm tìm.

Tôi ngẩng lên nhìn y chăm chú, chậm rãi nói từng từ: “Thanh, chỉ cần có huynh ở bên, muội không sợ gì nữa. Do đó, muội mong huynh mãi ở bên muội.”

Giữa màn đêm mờ mịt, những hạt mưa rào rào rơi xuống hoa lá cỏ cây, khiến mùi thơm thanh tân của hoa cỏ lan tỏa khắp chốn. Y chăm chú nhìn tôi, trong mắt chỉ có duy nhất bóng dáng của tôi, kèm theo đó là vô số tình cảm vừa dịu dàng vừa ghi tâm khắc cốt. Trên khuôn mặt y là một nỗi mừng vui vô hạn, y dang tay ôm chặt lấy tôi, chặt vô cùng, ngay đến xương cốt tôi cũng loáng thoáng truyền tới cảm giác đau đớn. Lúc này đây, tôi có cảm giác như đang ở trong giấc mộng, duy có chút đớn đau kia là khiến tôi biết rằng y quả thực đang ôm tôi, làm lòng tôi hết sức ngọt ngào. Y mừng rỡ như muốn phát điên, trầm giọng nói: “Chỉ cần nàng bằng lòng, ta sẽ vĩnh viễn ở bên cạnh nàng, không bao giờ rời xa.”

Ánh mắt của y ấm áp mà kiên định, mang tới cho tôi niềm hạnh phúc mà tôi khao khát đã lâu. Xuyên qua những hạt nước mưa và nước mắt, tôi và y chăm chú nhìn nhau, cảm thấy có nhìn thế nào cũng không đủ. Thì ra khoảng cách giữa hai trái tim có thể gần đến thế, mà cũng có thể xa xôi biết bao, khoảng cách gần xa thế nào đều chỉ do một ý niệm mà ra.

Đôi bờ môi lạnh giá của y dán sát lên trán tôi. “Hoàn Nhi, nếu nàng còn chưa chịu nói với ta, còn né tránh ta, chỉ e ta sẽ phát điên lên mất.”

Tôi thoáng ngẩn người, thẹn thùng nói: “Chẳng lẽ những lời muội muốn nói với huynh, huynh đã biết cả rồi sao?”

Toàn thân y lúc này giống như một viên ngọc minh châu lấp lánh, tỏa ra những tia sáng ấm áp giữa màn đêm giá lạnh. “Đồ ngốc, nàng nghĩ ta ngốc như vậy sao, nàng thích ta, chẳng lẽ ta lại không nhìn ra được. Đừng nói là ta, chỉ sợ ngay đến Cận Tịch và Hoán Bích cũng đều đã nhìn ra rồi. Nhưng ta thương nàng, không đành lòng thấy nàng tự giày vò bản thân như thế.”

Tôi thổn thức: “Thanh, trong lòng muội, thực sự có rất nhiều điều không thể và không dám.”

Y hơi hé đôi bờ môi cong cong mềm mại của mình. “Hoàn Nhi, nàng có tâm ý này với ta từ bao giờ vậy?”

Tôi khẽ lắc đầu, thành thực đáp: “Muội cũng không biết nữa.” Sau khi cẩn thận ngẫm nghĩ một hồi lại nói thêm: “Có thể là lúc ở Thanh Lương Đài, cũng có thể là lúc ở bên bờ sông, mà cũng có thể là… sớm hơn nữa, từ sau lần muội bị sẩy thai, huynh dùng tiếng sáo gọi muội ra ngoài Đường Lê cung giúp muội vơi bớt tâm sự.” Tôi thở dài. “Thanh, muội không biết là từ bao giờ, vì bấy lâu nay trong những lúc mà muội cần nhất, huynh luôn là người đưa tay kéo muội, không để muội ngã xuống.”

Y lắc đầu, trong mắt ánh lên muôn vàn tia sáng rực rỡ. “Không quan trọng, mọi việc đều không quan trọng. Điều quan trọng là bây giờ nàng đang ở trong lòng ta, nói với ta những lời như vậy. Hoàn Nhi, ta chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”

Mưa dần ngừng rơi, thỉnh thoảng lại có một hạt nước từ trên cành cây rơi xuống, chảy vào trong cổ áo của tôi, mang tới cảm giác mát lạnh. Mười ngón tay y và mười ngón tay tôi đan chặt vào nhau, dường như mọi nỗi mừng vui và cảm kích đều đã nằm trong hai đôi tay này rồi.

Phía đằng đông, sắc trời dần hửng sáng, ánh bình minh ló dạng mang theo màu xanh nhạt hiền hòa. Giữa bầu không khí ẩm ướt, những lời nói của y nhẹ nhàng vang lên bên tai tôi, tựa làn gió cuối xuân dìu dịu: “Trong lòng nàng, ta là người như thế nào đây?”

Tôi suy nghĩ một chút, tất cả tình ý trong lòng cuối cùng đã hóa thành mười sáu chữ: “Dịu dàng như ngọc, sừng sững như tùng. Phi phàm trác tuyệt, thế gian độc nhất[2]. Trong lòng muội, huynh là người ‘thế gian độc nhất’.”

[2] Trích từ Bạch Thạch Lang khúc, một bài thơ Nhạc phủ. Trong đó Bạch Thạch Lang là tên của thủy thần, bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của vị nam thần này. Nguyên văn Hán Việt: Tích thạch như ngọc, liệt tùng như thúy. Lang diễm độc tuyệt, thế vô kỳ nhị – ND.

Y áp trán vào trán tôi, khẽ cười, nói: “Đây là lời tán dương nam thần trong thơ từ cổ, ta không được như thế đâu.”

Tôi mỉm cười không nói, hỏi ngược lại y: “Vậy muội thì sao, trong lòng huynh muội là người như thế nào?”

Y suy nghĩ một chút, cuối cùng trả lời một cách trịnh trọng: “Trong lòng ta, muội chính là cả bầu trời.”

Tôi còn chưa kịp nhấm nháp thâm ý trong lời y, nước mắt đã tuôn rơi, trong lòng tràn ngập nỗi mừng vui khó miêu tả bằng lời, tựa vô số bông hoa đột nhiên cùng nở rộ, tạo thành một mảng trắng lóa thuần khiết, không dính bụi trần. Niềm vui ấy còn giống như vầng trăng vằng vặc treo giữa trời đêm, xua tan những mảng tối đen vô tận trong lòng, khiến cuộc sống của tôi bước sang một trang hoàn toàn mới.

“Bầu trời của huynh?” Tôi khẽ lẩm bẩm, cơ hồ không dám tin.

Giọng nói của y chắc nịch như tảng đá đã sừng sững trên đỉnh núi cao suốt ngàn năm: “Đúng thế, ta có được nàng tức là đã có được tất cả. Nếu nàng không ở bên, mọi sự phồn hoa gấm vóc với ta thực chỉ là hư ảo mà thôi.” Giọng y chợt trở nên đờ đẫn: “Hoàn Nhi, vì có nàng nên bất kể trước đây đã phải mất đi bao nhiêu, ta vẫn cảm thấy rất đáng giá.”

Tôi thấp giọng nghẹn ngào, lại khẽ lắc đầu, nói: “Muội kỳ thực không tốt như huynh nói đâu. Muội là phế phi của đương kim Hoàng đế, bây giờ đã vào cửa Phật, lại là con gái của tội thần, còn từng sinh được một đứa con gái nữa. Trong khi đó, huynh có thể lựa chọn vô số tiểu thư khuê các, còn có một tiền đồ gấm vóc trước mặt, thực không cần phải ở cùng người như muội làm gì…”

Y đưa bàn tay ấm áp lên giữ môi tôi, không cho tôi nói tiếp, sau đó lại dùng sức ôm chặt tôi vào lòng. “Trong lòng ta, nàng là người tốt nhất. Hoàn Nhi, nàng phải tin vào điều này.”

Tôi khẽ gật đầu. “Muội biết chứ, và trong lòng muội, huynh cũng là người tốt nhất.” Một nụ cười mỉm dần xuất hiện trên khóe môi y, rực rỡ tựa bông hoa nhỏ đang nở rộ.

Vòng tay của y rộng lớn mà ấm áp, như một bầu trời xanh biếc bao la. Tôi được y ôm trong lòng, cảm giác cứ như một cánh chim vốn luôn nằm trong tổ ngắm nhìn bầu trời nay rốt cuộc đã được vỗ cánh bay lên tầng không mà mình hằng khát vọng bấy lâu, mọi mối tâm sự nặng nề đều được buông xuống, niềm vui như biển mây bát ngát xung quanh, cả thể xác lẫn tinh thần đều trở nên nhẹ nhõm.

Tôi khẽ nói: “Thanh, cũng bởi vì có huynh, bất kể trước đây đã phải chịu bao nỗi gian nan, uất ức, muội cũng không còn điều gì oán hận.”

Thời gian dần trôi, trời rốt cuộc đã sáng hẳn. Ánh bình minh nơi chân trời rực rỡ tựa gấm hoa, tôi chưa từng phát hiện, thì ra ánh bình minh có thể đẹp đến mức khiến người ta phải tán thán thế này.

Khi Huyền Thanh đưa tôi về thiền phòng, Cận Tịch và Hoán Bích đã chờ sẵn bên ngoài, nhìn thấy tôi và y dắt tay nhau, lập tức đều hiểu ra điều gì.

Cận Tịch cất lời trêu chọc: “Trước khi trời sáng, mưa đã ngừng rơi, không ngờ nương tử còn bị cơn mưa ngăn cản đến bây giờ.”

Hoán Bích lặng im một lát rồi mới nói: “Hôm qua tiểu thư ngâm nước mưa bên ngoài, tới bây giờ mới về, chắc đã đói rồi. Cơm canh đã được nấu xong xuôi, tiểu thư và Vương gia mau vào ăn tạm một chút đi.”

Tôi cười bảo: “Ta không đói lắm, bây giờ chỉ cảm thấy mệt thôi.”

Huyền Thanh nói: “Suốt đêm không ngủ, nàng mau đi ngủ một lát đi.”

Tôi khẽ gật đầu, dịu dàng nói: “Huynh cũng đi ngủ sớm một chút, hai mắt đều thâm quầng cả rồi kìa.”

Y nắm lấy bàn tay tôi rồi lại quay sang cười nói với Hoán Bích: “Ta giao tiểu thư nhà cô cho cô đấy nhé!”

Hoán Bích khẽ nở nụ cười. “Vương gia đã dặn, nô tỳ đâu dám không dốc sức.”

Dõi theo bóng dáng đầy vẻ lưu luyến của y tới khi khuất hẳn, tôi ngáp dài một cái, cơn buồn ngủ trào lên, chạy vào phòng vùi đầu xuống chiếc gối mềm mại, đắm mình vào giấc mộng ngọt ngào.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.