Hậu Cung Chân Hoàn Truyện

Quyển 5 - Chương 22: Anh hùng đâu cứ phải mày râu



Thế là suốt mấy ngày sau đó Huyền Lăng chỉ tới thăm tôi mấy lần, phần lớn thời gian còn lại đều ở Ngọc Chiếu cung. Thân thể Từ Tiệp dư đã khỏe dần lên, ngay đến Lưu Đức nghi ở cùng cũng nhờ đó mà khá được ân sủng. Tuy Từ Tiệp dư hiện vẫn đang bị cấm túc nhưng Ngọc Chiếu cung đã khác hẳn ngày xưa, trở thành nơi các phi tần đều muốn đến nhưng chẳng dễ gì đặt chân vào được.

Hoán Bích hỏi tôi: “Tiểu thư là một trong Tam phi, lại có cái ơn cứu mạng với Từ Tiệp dư, tại sao lại không tranh thủ đi thăm Từ Tiệp dư một chút?”

Tôi đưa mắt liếc nhìn chậu hoa nhài mà Hoa phòng vừa đưa tới, chậm rãi nói: “Ta đã tặng than cho nàng ta giữa trời tuyết rơi rồi, việc gì còn phải thêu hoa trên gấm nữa, cứ để Hoàng thượng bầu bạn bên cạnh nàng ta là được rồi.”

Hoán Bích mím môi cười, nói: “Tiểu thư không biết ư? Vâng theo ý chỉ của Thái hậu, hiện giờ Huệ Quý tần đang phải ở bên Hoàng thượng cả ngày đấy!”

Tôi bất giác có chút ngạc nhiên, bèn dừng công việc thêu thùa trong tay lại. “Đây là việc từ bao giờ vậy?”

“Thân thể Từ Tiệp dư vừa mới chuyển biến tốt, Thái hậu liền kêu Huệ chủ tử phải ở bên Hoàng thượng nhiều một chút, thế là bây giờ ba người bọn họ thường xuyên ở trong Ngọc Chiếu cung nói chuyện với nhau.”

Tôi khẽ cười một tiếng, nói giọng giễu cợt: “Từ Tiệp dư hẳn nhiên là muốn được ở riêng với Hoàng thượng nhiều một chút, còn My Trang tỷ tỷ tính tình như vậy chắc cũng chẳng muôn chen vào giữa bọn họ làm gì. Thái hậu lần này dụng tâm hơi quá, thành ra tốn công tốn sức mà chẳng làm ai vừa lòng.” Rồi tôi bèn đứng dậy. “Dù sao cũng chẳng có việc gì làm, chúng ta tới Đường Lê cung thăm Huệ Quý tần một chút nào.”

Đường Lê cung vẫn thanh tịnh như xưa, mọi cảnh vật trong cung đều được giữ nguyên như thuở tôi rời đi năm nào, không có gì tăng thêm hay giảm bớt, có điều hai gốc hải đường trước Oánh Tâm điện giờ đã cao lớn xanh mướt hơn nhiều.

Tôi thầm cảm kích, xét về tình nghĩa, nhất định là tôi và My Trang thân nhau nhất trong chốn hậu cung này.

Lúc này Đường Lê cung vô cùng tĩnh lặng, chỉ có một gã thái giám đang ngồi ngủ gật nơi cửa cung. Mùa hoa hải đường và hoa lê sớm đã qua đi, những gốc cây phía sau cánh cửa giờ đây đều um tùm cành lá, xanh biếc một màu, khiến khung cảnh càng thêm phần yên ả. Chợt Bạch Linh vén tấm rèm trúc Tương Phi chậm rãi bước ra, hai mắt mơ mơ màng màng vừa đi vừa ngáp. Nhìn thấy tôi, nàng ta bất giác giật nẩy mình, vội cười nói: “Nương nương tới rồi, nương nương nhà nô tỳ đang ở bên trong đấy, người vừa mới nói là không ngủ được xong thì nương nương tới, đúng là trùng hợp.” Dứt lời bèn dẫn tôi đi vào.

My Trang lúc này đang nằm trong hậu đường của Oánh Tâm điện, tôi thấy tỷ ấy không có vẻ gì là buồn ngủ thì liền trêu chọc: “Thường ngày tỷ rõ ràng là người ham ngủ nhất, sao bây giờ lại không buồn ngủ chút nào vậy?”

My Trang thấy tôi đi vào thì tiện tay cầm lấy cây trâm dài làm bằng vàng ròng trên bàn trang điểm, quấn mái tóc lên và cố định, sau đó mới oán trách: “Người ta đang phiền lòng muốn chết đây, thế mà muội còn cứ trêu chọc.”

Tôi thấy tỷ ấy thực sự có vẻ phiền muộn, liền thu lại vẻ mặt tươi cười, trầm giọng hỏi: “Có phải là vì Thái hậu và Hoàng thượng không?”

Lúc này đang là mùa hạ nóng nực, My Trang chỉ mặc một chiếc áo ngủ may bằng lụa mềm màu đỏ, bên trên thêu những bông cúc vàng, sắc mặt đầy vẻ nôn nóng, phiền muộn. Đôi hàng lông mày dài tới tận chỗ tóc mai cau lại như vầng trăng non, tỷ ấy nhẹ nhàng cất tiếng: “Muội đã biết vậy rồi, hẳn cũng hiểu được ta đang phiền muộn điều gì.”

Tôi khẽ cười, nói với giọng trêu chọc: “Sự việc đã qua đi nhiều năm như vậy rồi, lẽ nào tỷ tỷ vẫn còn giận Hoàng thượng sao?”

Trên khuôn mặt vẫn luôn đoan trang của My Trang lộ ra vẻ bi thương và khinh miệt. “Giận ư? Ta cảm thấy vì y mà tức giận thực là không đáng chút nàoSự việc đã qua đi nhiều năm, nhưng bao năm nay ta vẫn luôn lẳng lặng quan sát, cảm thấy con người này càng ngày càng khiến người ta thất vọng.” Ngón tay My Trang vô tình lướt qua dây đàn, làm vang lên một tràng âm thanh trong trẻo. “Cứ nghĩ tới những việc mà y đã làm với muội, với Từ Tiệp dư, với Phó Như Kim, ta liền cảm thấy bất kể là khóc hay cười vì y thì cũng đều không đáng.” My Trang khẽ cười nhạt một tiếng, bên trong thấp thoáng vẻ hờ hững và lạnh lùng. “Như Hoàn Nhi muội chẳng hạn, liệu còn được bao nhiêu chân tình với y đây? Và muội về cung liệu có thực sự là vì y?”

Tôi đứng dậy, gần như không thể kiềm chế được nụ cười của mình. “Tỷ tỷ đã biết rõ rồi, còn phải hỏi làm gì? Muội cũng giống tỷ thôi, đều cảm thấy không đáng, duy có điều khác biệt là muội có việc còn cần đến y, trong khi đó tỷ thì chẳng có nhu cầu gì với y cả.”

My Trang cười phì một tiếng, cặp môi đỏ căng mọng tựa hai cánh hoa tươi, bên trong thấp thoáng một tia cười giễu cợt. “Ta kỳ thực cũng có việc cần đến y, chẳng qua là y không thể cho ta mà thôi!” Tỷ ấy chỉnh lại cây trâm dài có vẻ đã hơi lỏng ra, chậm rãi nói tiếp: “Hai ngày nay ta thực sự rất khó xử nhưng Thái hậu cứ bắt ta phải chen vào giữa Hoàng thượng và Từ Tiệp dư, khó chịu vô cùng. Ta thấy Từ Tiệp dư đã dành toàn bộ tình cảm cho Hoàng thượng, nhưng Hoàng thượng thì lại chỉ để tâm tới đứa bé trong bụng nàng ta mà thôi.”

Tôi tươi cười nói: “Tỷ cũng phát hiện ra tâm tư của Từ Tiệp dư rồi sao?”

“Trước đây ta chỉ cảm thấy nàng ta tính tình hiền hòa, không thích tranh sủng, sinh sự, bây giờ tới gần rồi mới biết, hóa ra tình ý của nàng ta với Hoàng thượng lại sâu sắc đến thế.” Dừng một chút, My Trang nói tiếp bằng giọng xiết nỗi bi thương: “Nhưng nàng ta dù gì cũng vẫn còn trẻ, đâu biết được sự tai hại của sáu chữ ‘tình si thác gửi nhầm nơi’ kia!”

Tình si thác gửi nhầm nơi! Sáu chữ ấy tựa như những cây kim đâm vào trái tim, nếu là trước đây, có lẽ tôi đã ôm mặt mà khóc rống lên rồi. Thế nhưng lúc này đây, cảm giác đau đớn chỉ thoáng qua trong khoảnh khắc, ngay sau đó trong tôi đã chỉ còn lại sự tê dại.

Thương tâm ư? Đúng là tôi từng đau đớn đến xé gan xé ruột, chẳng còn muốn sống. Nhưng giờ đây nỗi thương tâm đã qua rồi, không bao giờ trở lại nữa, trong lòng tôi chỉ còn lại sự dửng dưng đối với chuyện xưa mà thôi.

My Trang đưa tay gạt nhẹ chiếc lá rủ xuống trong chậu hoa lan treo trước cửa sổ, hờ hững nói: “Tình ý của Từ Tiệp dư với Hoàng thượng ta tự nhận muôn vạn lần không thể sánh bằng, do đó bất kể Thái hậu có muốn ta hầu hạ Hoàng thượng đến thế nào, ta cũng không sao thực hiện được.”

My Trang đã nói tới mức này rồi, tôi cũng không tiện nói gì thêm, thế nhưng cuối cùng vẫn không kìm được mà khuyên nhủ: “Thái hậu dù sao cũng là Thái hậu, còn là người duy nhất mà hiện giờ tỷ có thể dựa vào, chớ nên trái ý bà ta quá.”

Ánh mắt My Trang phút chốc trở nên ảm đạm, tựa như ngọn nến bị ném xuống hồ, ánh sáng nhanh chóng tắt phụt, giọng nói không mang theo chút tình cảm nào: “Muội yên tâm, ta tự có chừng mực.”

Sự chừng mực đó của My Trang đã truyền tới tai tôi vào một đêm ba ngày sau. Nếu không phải là do Lý Trường chính miệng thông báo, tôi thực khó có thể tin vào điều này. Lý Trường đã ghé tai tôi nói khẽ: “Đêm nay Hoàng thượng sẽ nghỉ tại Đường Lê cung.”

Lúc ấy tôi vừa thay một chiếc áo ngủ màu hồng thêu hình cánh bướm, đang uống bát canh Thất thúy mà Cận Tịch tự tay hầm suốt hai canh giờ. Vừa nghe Lý Trường nói vậy, tôi bất giác sững người, thiếu chút nữa không cầm chắc nổi bát canh.

Từ sau khi tôi rời cung, Đường Lê cung đã trở thành một vùng đất không lành trong mắt mọi mgười, dù sau này My Trang có dọn vào đó ở, Huyền Lăng cũng chẳng chịu đặt chân tới nửa bước, thỉnh thoảng có sủng hạnh My Trang thì cũng chỉ triệu tỷ ấy tới Nghi Nguyên điện mà thôi. Theo như lời My Trang nói, sau năm đầu tiên kể từ khi tôi rời cung, Huyền Lăng chưa từng sủng hạnh tỷ ấy lần nào, bây giờ đột nhiên nghe nói Huyền Lăng sẽ “nghỉ tại Đường Lê cung”, đừng nói là tôi, ngay đến Tiểu Doãn Tử từng hầu hạ My Trang cũng không kìm được thầm chậc lưỡi.

Lý Trường cười híp mắt, nói: “Đây là chuyện mừng của Quý tần nương nương, cũng là điều mà Thái hậu vẫn luôn mong ngóng. Vả lại, tuy trước đây Hoàng thượng không thích Đường Lê cung nhưng giờ nương nương đã về rồi, tất nhiên không còn điều kiêng kỵ gì nữa.”

Lý Trường nhắc nhở như vậy lập tức khiến tôi tỉnh ngộ, hành động này của Huyền Lăng và My Trang kỳ thực một phần là do Thái hậu gợi ý bấy lâu. Lại suy nghĩ kĩ thêm, hiện giờ Từ Tiệp dư và tôi phải chuyên tâm an thai, An Lăng Dung và Quản Văn Ương một người bị ghẻ lạnh, một người bị cấm túc, bên cạnh Huyền Lăng chẳng còn ai, chính là lúc để My Trang phục hồi sự sủng ái.

Lý Trường thản nhiên nói: “Hôm nay trước lúc Hoàng thượng tới Đường Lê cung, Thái hậu còn từng triệu Huệ Quý tần tới Dinh Ninh cung nói chuyện nữa đấy.”

Lý Trường chỉ điểm tới đó là dừng, tôi đã hiểu ra, bèn cười tủm tỉm, nói: “Bản cung có việc này muốn thỉnh giáo công công, hôm nay Hoàng thượng cứ thế đến nghỉ tại Đường Lê cung, không dặn dò gì trước, Đồng sử ở Kính sự phòng liệu có bỏ sót việc ghi chép không?”

Lý Trường ngẩn ra, đột ngột vỗ đầu một cái, đứng dậy nói: “Nô tài thực hồ đồ quá chừng, không ngờ lại quên mất việc này.”

Tôi cầm chiếc thìa bạc khẽ khuấy bát canh, chậm rãi nói: “Bản cung vốn nghĩ hôm nay Hoàng thượng nghỉ tại Đường Lê cung, theo lý mà nói công công cũng nên hầu hạ ở đó mới phải, nhưng bây giờ công công lại ung dung tới đây, hẳn là do Hoàng thượng hoặc Huệ Quý tần đã có lời. Mà công công đã tới đây rồi, thường ngày lại nhiều việc, có lẽ đã quên mất việc ghi chép trong Đồng sử cũng chưa biết chừng, do đó mới nhắc nhở một câu mà thôi.”

Lý Trường vội cười trừ, nói: “Vốn là Huệ Quý tần nói không cần ai ở ngoài hầu hạ nữa, liền đuổi bọn nô tài ra ngoài. Quý tần lúc này chắc đang uống rượu với Hoàng thượng, bọn nô tài cũng tranh thủ đi làm việc riêng. May mà được nương nương nhắc nhở, bằng không nô tài đã làm lỡ việc rồi.”

Tôi bình thản nói: “Quên việc ghi chép trong Đồng sử cũng chẳng có gì quan trọng, bản cung chỉ thầm nghĩ nếu lần này tỷ tỷ may mắn mang được thai rồng, có Đồng sử làm bằng chứng sẽ tốt hơn. Bây giờ công công vì một câu nói của bản cung mà làm lớn chuyện thì thực không hay, đợi lát nữa kêu người viết thêm đôi dòng vào sách Khởi cư chú[1] là được rồi.”

[1] Tức cuốn sách chuyên ghi lại những lời nói và việc làm của Hoàng đế Trung Quốc – ND.

Lý Trường vội vàng vâng dạ, sau đó liền quay về Nghi Nguyên điện, chờ trời sáng sẽ cho kiệu đến Đường Lê cung đón Huyền Lăng lên triều.

Sau lần đó My Trang không kể gì với tôi, tôi làm bộ tình cờ hỏi Huyền Lăng thì y cũng chỉ khẽ xoa trán tôi mà cười đáp: “Hôm đó trẫm vốn uống rượu ở chỗ Huệ Quý tần, không ngờ mấy ngày vừa rồi mỏi mệt nên tửu lượng kém hẳn, mới được vài chén đã mơ mơ màng màng ngủ thiếp đi.”

Tôi cũng không suy nghĩ nhiều, suốt mấy ngày sau đó My Trang tỏ ra dửng dưng, Huyền Lăng cũng không nôn nóng, thỉnh thoảng muốn triệu My Trang tới thì My Trang lại kiếm cớ là thân thể không được khỏe để thoái thác. Cứ như thế, Huyền Lăng cho người tới mấy lần rồi liền cho qua việc này.

Tôi thầm cảm thấy thân thể của mình ngày một nặng nề, cái thai đã được hơn sáu tháng, nếu cứ ngày ngày bó bụng thế này chỉ e sẽ có hại tới thai nhi, thế là bèn kêu Hoán Bích đi mời Ôn Thực Sơ tới, chuẩn bị thương lượng đối sách với hắn.

Ôn Thực Sơ tới rất nhanh, sau khi nghe xong sự lo lắng của tôi bèn nói: “Dùng vải lụa để bó bụng dù sao cũng không phải kế lâu dài nhưng thứ nhất là nương nương bó không quá chặt, thứ hai là bó cũng đúng cách, do đó không có vấn đề gì quá lớn. Hiện giờ có thể từ từ buông lỏng ra từng chút, đợi chừng hơn nửa tháng sau mọi người sẽ dần thấy xuôi mắt hơn, không có vẻ gì là quá đột ngột.”

Tôi nhìn xuống bụng mình vẻ bối rối, khẽ thở dài một tiếng. “Không biết tại sao bản cung cứ luôn cảm thấy bụng mình có vẻ to hơn bình thường, nếu không phải như vậy thì cũng chẳng cần ngày ngày buộc bụng thế này.”

Ôn Thực Sơ thoáng lộ vẻ ngẩn ngơ, dường như tâm tư đã bay tới tận phương trời nào xa tít. Hắn rất ít khi lộ ra thần sắc như vậy trước mặt tôi, tôi đã nói xong được một lát mà hắn vẫn thẫn thờ, dường như đang suy nghĩ đến chuyện gì đó khó nói. Tôi bất giác cảm thấy có chút ngạc nhiên, bèn khẽ ho một tiếng, gọi: “Ôn đại nhân.”

Tới lúc này hắn mới giật mình tỉnh táo trở lại, hai má bất giác ửng hồng, sau một hồi lúng túng mới do dự nói: “Vi thần có một việc này suy nghĩ đã lâu mà vẫn không biết có nên nói với nương nương hay không.”

Tôi thấy sắc mặt hắn nặng nề, trái tim không kìm được hơi trầm xuống, cất giọng khàn khàn: “Đại nhân cứ nói đi, có phải thai nhi xảy ra vấn đề gì rồi không?”

Ôn Thực Sơ vội xua tay lia lịa, nói: “Không không không, đây kỳ thực là một việc mừng.” Dừng một chút hắn mới lại tiếp: “Cái thai trong bụng nương nương là thai sinh đôi.”

Tôi bất giác sững người, chẳng nói nổi một lời, có cảm giác như một quả bóng bị người ta ấn xuống đáy nước, sau đó đột ngột nẩy lên, trong lòng tràn ngập một niềm vui khó tả. Mãi hồi lâu sau tôi mới tỉnh táo trở lại, bèn run giọng hỏi: “Đại nhân không gạt bản cung đấy chứ?”

Ôn Thực Sơ lắc đầu, nói: “Vi thần hầu hạ trong cung đã bao năm nay, đối với việc này vẫn còn có thể nắm chắc được.” Khuôn mặt hắn vẫn nguyên vẻ thấp thỏm, bất an như vừa rồi. “Có điều, việc này nương nương chớ nên để người ngoài biết thì hơn.”

Tôi lập tức hiểu ra, nếu người ngoài biết được tôi đang mang thai sinh đôi, chỉ e sẽ càng chú ý, đến lúc đó lại không kìm được mà ra tay hại tôi cũng chưa biết chừng.

Hoán Bích đứng kế bên hơi cau mày, nói: “Tiểu thư mới về cung chưa lâu, trong cung địch bạn khó phân, nếu phao tin này ra ngoài rất có thể sẽ có kẻ tự chui đầu vào lưới.”

Tôi chỉ đưa mắt liếc qua, không nói năng gì, chậm rãi phe phẩy cây quạt tròn trong tay nhưng Ôn Thực Sơ nghe xong thì lại hơi biến sắc, trầm giọng nói: “Bích cô nương nói vậy là sai rồi, cách thức mà cô nương nói là sử dụng hiểm chiêu, có thể sẽ có hiệu quả nhưng rốt cuộc cái thai trong bụng nương nương quan trọng hay phân rõ địch ta quan trọng đây?”

Ôn Thực Sơ nói vẻ nôn nóng, hoàn toàn chẳng còn bộ dạng hiền hòa, đôn hậu thường ngày. Hoán Bích biết mình lỡ lời, bèn cúi gằm mặt không dám nói gì thêm.

Từ ngoài điện, mấy làn hương hoa thơm phức bay vào, tôi chậm rãi cất tiếng: “Phân rõ địch ra đương nhiên rất quan trọng, bằng không có khác nào treo mình nơi vách đá, chẳng biết phải ứng phó ra sao. Có điều, nếu phải dùng cái thai này làm mồi nhử, bản cung quyết không bao giờ chấp nhận, và muốn phân rõ địch ta cũng chưa hẳn đã cần dùng biện pháp nguy hiểm này.” Khóe môi tôi hơi nhếch lên, tạo thành một đường cong mềm mại. “Việc này bản cung tự có tính toán.”

Hôm ấy thời tiết rất tốt, cái nóng nực của mùa hè đã bị cơn mưa rào đột nhiên kéo tới xua đi hết, trong không khí vẫn còn đọng lại sự thanh tân trong trẻo của những giọt nước mưa và mùi hương hoa ngọt ngào nồng đậm chỉ có trong mùa hè. Tôi thay một chiếc áo lụa mỏng màu tím, bên trên thêu hình những ánh mây ngũ sắc, lại kèm theo chiếc váy dài màu đỏ phía dưới, trên đầu cài một cây trâm tròn đính trân châu, sau đó ngồi kiệu tới Di Ninh cung thỉnh an Thái hậu.

Di Ninh cung lúc này yên ắng vô cùng, thỉnh thoảng mới có mấy tiếng nói cười vọng ra, chính là Huyền Lăng đang trò chuyện với Thái hậu.

Trông thần sắc Thái hậu hôm nay khỏe khoắn hơn nhiều, Huyền Lăng thì chỉ mặc một chiếc áo dài màu ngó sen kèm theo chiếc áo chẽn màu trắng bên trong, dáng vẻ ung dung tự đắc. Cũng khó trách y lại vui vẻ, hiện giờ cái thai của Từ Tiệp dư đã ổn định, y coi như bớt được một mối tâm sự lớn trong lòng.

Tôi thướt tha hành lễ, đoạn cười nói: “Khí sắc Thái hậu đúng là càng ngày càng tốt hơn rồi.”

Thái hậu vội vàng kêu tôi đứng dậy rồi mỉm cười quay sang nói với Huyền Lăng: “Đứa bé Hoàn Phi này đúng là quy củ quá, ai gia đã nói bao nhiêu lần là đang có thai khỏi cần hành lễ, vậy mà nó cứ không nghe.”

Huyền Lăng mặt mày tươi tắn nhìn tôi cười, nói: “Lòng hiếu thảo của Hoàn Phi với mẫu hậu cũng giống như nhi thần vậy.” Y quan sát tôi một chút, thoáng lộ vẻ ngạc nhiên: “Bụng nàng hình như lại to hơn rồi.”

Tôi bất giác ửng hồng hai má, thẹn thùng cúi đầu. Thái hậu cũng dừng ánh mắt lại nơi bụng tôi, mỉm cười nói: “Bụng của Hoàn Phi đúng là có hơi to so với những người bình thường có thai được gần năm tháng.”

Tôi khẽ cười một tiếng, nói giọng nhỏ như muỗi kêu: “Thái y nói, trong bụng thần thiếp có lẽ là một cặp thai song sinh.”

Huyền Lăng gần như không dám tin vào tai mình, mừng rỡ thốt lên: “Hoàn Hoàn, nàng nói thật ư?”

Tôi cả thẹn, lại càng cúi đầu thấp hơn, lí nhí nói: “Là Ôn thái y chẩn đoán như vậy, thần thiếp không dám nói bừa.”

Thái hậu nở một nụ cười hết mực hiền từ. “Ôn thái y là người thành thực, y thuật cũng giỏi, chắc hẳn không có nhầm lẫn gì đâu.”

Huyền Lăng mừng rỡ xoa tay liên tiếp, dường như không biết nên nói gì mới phải, hai mắt lấp lánh ánh sáng, lộ ra những tia rực rỡ như cầu vồng. Rồi cuối cùng y cũng không kìm được nỗi mừng vui mà bật thốt lên: “Đây thực là một chuyện mừng to lớn, ta phải chiêu cáo thiên hạ mới được!”

Tôi vội vàng quỳ xuống: “Thần thiếp với tấm thân hèn mọn này có thể trở lại hầu hạ Hoàng thượng đã là điều may mắn tột cùng, đâu dám vì cái thai trong bụng mà được chiêu cáo thiên hạ. Huống chi đây tuy là thai song sinh nhưng cũng phải là hoàng tử mới tốt, nhược bằng chỉ là công chúa thì đâu thể nối dài huyết mạch cho Hoàng thượng, như thế việc gì phải chiêu cáo thiên hạ. Do đó, niềm vinh hạnh này thần thiếp muôn vạn lần không dám nhận.”

Nghe thấy những lời khước từ uyển chuyển ấy, Huyền Lăng trầm ngâm không nói gì, khóe mắt tôi liếc thấy Thái hậu lộ vẻ tán thưởng, bất giác thấy yên tâm hơn nhiều. “Thần thiếp vừa mới về cung, không muốn vì việc của bản thân mà làm nảy sinh rắc rối, cũng mong có thể yên ổn dưỡng thai, tránh sự phiền phức vì những phen chúc tụng. Do đó…” Tôi dừng lại một chút rồi mới tiếp: “Trước khi thần thiếp sinh nở, hy vọng không có người thứ tư nào biết về cái thai song sinh này.”

Tôi đã khéo léo thể hiện nỗi lo lắng của mình qua lời nói, Thái hậu hết sức lõi đời, tất nhiên hiểu cả, liền nói: “Nếu lục cung đều biết thì sẽ chẳng có lợi gì cho việc an thai của Hoàn Phi, đợi sau này sinh nở xong xuôi thì tất thảy tự khắc rõ ràng, không cần phải nôn nóng nhất thời làm gì.”

Huyền Lăng cười nói: “Mẫu hậu và Hoàn Phi đều đã nói vậy rồi, nhi thần tất nhiên không có dị nghị gì nữa. Có điều, nhi thần cảm thấy đây là việc mừng hết sức lớn lao, nếu không có ai chung vui thì thực là quá đáng tiếc.”

Tôi hít một hơi thật sâu, chậm rãi nói: “Nếu sự thực đúng như lời thái y nói, Hoàng thượng còn lo rằng sau này không có ngày vui ư? Nếu Hoàng thượng thực sự muốn chia sẻ niềm vui của mình, chi bằng hãy nhân dịp này mà xóa bỏ lệnh cấm túc cho Từ Tiệp dư.”

Huyền Lăng nghe vậy, quả nhiên lộ vẻ bất ngờ. “Nàng nói sao cơ?”

Tôi trịnh trọng quỳ xuống, cung kính nói: “Thần thiếp dùng thân phận một trong Tam phi, kính xin Hoàng thượng xóa bỏ lệnh cấm túc cho Từ Tiệp dư. Từ Tiệp dư hiện mang thai rồng, vì bị cấm túc nên tâm trạng mới u uất để rồi ngã bệnh, thiếu chút nữa chẳng giữ nổi cái thai. Vì cơ nghiệp muôn đời của Đại Chu, xin Hoàng thượng hãy bỏ lệnh cấm túc cho Từ Tiệp dư để tránh điều bất trắc.”

Trên khuôn mặt tuấn tú của Huyền Lăng thoáng qua một tia lo lắng, giọng nói hơi mang theo ý trách móc: “Nguy Nguyệt Yến xung nguyệt là điềm báo chẳng lành, mẫu hậu và Hoàng hậu lần lượt đổ bệnh chính là ứng với điềm báo này, sao trẫm có thể vì một đứa bé còn chưa ra đời mà bỏ mặc sự an nguy của mẫu hậu được.” Trong đôi mày rậm hơi cau lại của y thấp thoáng vẻ bất mãn. “Hoàn Hoàn, nàng xưa nay vẫn luôn hiếu thảo với mẫu hậu cơ mà.”

“Đúng thế, Thái hậu là bậc mẫu nghi thiên hạ, thân phận cao quý tột cùng, quyết không thể vì người nào hay việc nào mà làm điều gì tổn hại tới Thái hậu. Nhưng thần thiếp thấy hôm nay khí sắc Thái hậu đã tốt hơn nhiều, phượng thể đã dần an khang, do đó mới dám có lời như vậy. Cứ như suy nghĩ của thần thiếp, thiên tượng biến ảo không ngừng, chưa biết chừng điềm chẳng lành sớm đã qua đi. Hoàng thượng có thể hỏi lại Khâm Thiên giám xem, nếu vận hạn thực sự đã hết, Từ Tiệp dư không còn xung khắc với Thái hậu và Hoàng hậu nữa, tới lúc đó chúng ta xóa bỏ lệnh cấm túc cũng chưa muộn.”

Huyền Lăng trầm ngâm im lặng nhưng Thái hậu đã lộ nét cười mỉm, chậm rãi nói: “Nghe Hoàn Phi khẩn cầu như vậy, ai gia cũng muốn xem xem Khâm Thiên giám nói thế nào, chẳng lẽ vận hạn thực sự mãi vẫn chẳng chịu lui sao?”

Huyền Lăng vội cười nói: “Mẫu hậu đã mở lời như vậy, nhi thần sẽ lập tức cho triệu quan Tư nghi của Khâm Thiên giám tới đây hỏi thử cho mẫu hậu được yên tâm.”

Chỉ chừng một tuần trà sao, người của Khâm Thiên giám đã tới, Huyền Lăng thoáng lộ vẻ ngạc nhiên. “Tại sao lại là ngươi?”

Người vừa tới cúi đầu, cung kính đáp: “Vi thần là Phó Tư nghi của Khâm Thiên giám, bái kiến Hoàng thượng. Vì Tư nghi hiện đang đau bụng, không thể diện thánh, do đó mới sai vi thần tới gặp Hoàng thượng và Thái hậu.” Dứt lời, hắn liền lùi lại ba bước, khấu lạy lần nữa.

Huyền Lăng khẽ cười, nói: “Ngươi đúng là rất hiểu quy củ đấy. Lần này trẫm triệu ngươi tới là muốn hỏi ngươi về điềm báo Nguy Nguyệt Yến xung nguyệt khi trước, thời gian qua thiên tượng có chút biến hóa nào không?”

Phó Tư nghi nói: “Thiên tượng biến hóa là chủ những điềm hung cát nơi nhân gian. Có câu rằng hành sự tại nhân, thành sự tại thiên, tuy thiên tượng không dễ dàng thay đổi nhưng con người cũng có thể làm ảnh hưởng tới thiên tượng phần nào.”

Huyền Lăng chăm chú lắng nghe một lát rồi mới hỏi: “Vậy ngươi nói đi, hiện giờ thiên tượng thế nào rồi?”

Phó Tư nghi cung kính đáp: “Nguy Nguyệt Yến xung nguyệt là thiên tượng từ mấy tháng trước, trong thời gian này phong thủy biến chuyển, nhật nguyệt xoay vần, ánh sáng của sao Nguy Nguyệt Yến đã yếu hẳn đi, thấp thoáng còn có thể thấy những tia màu tím, chính là điềm lành, còn điềm xung nguyệt thì đã qua đi. Theo như vi thần thấy, hiện đã không còn gì đáng ngại nữa, bằng không Thái hậu sao có thể an khang ngồi trên ghế phượng nghe vi thần bẩm báo thế này.”

Huyền Lăng còn chưa tin hẳn. “Nếu sự thực đúng như lời ngươi nói, tại sao tới giờ Hoàng hậu vẫn chưa khỏi bệnh, còn Tư nghi của Khâm Thiên giám thì chẳng sớm bẩm rõ việc này với trẫm?”

Phó Tư nghi thưa: “Nguy Nguyệt Yến xung nguyệt, nguyệt chủ âm, chính là chỉ nữ tử tôn quý nhất trong thiên hạ, mà người đó chỉ có thể là Thái hậu chứ không phải ai khác, do đó theo vi thần thấy, Thái hậu mới là người chủ nguyệt. Còn Hoàng hậu tuy cũng thuộc nguyệt, nhưng chuyện sinh lão bệnh tử là lẽ thường tình của chốn nhân gian, tuy một phần do thiên tượng ước thúc nhưng phụ thuộc vào con người nhiều hơn. Hiện giờ thiên tượng an lành, Thái hậu khỏi bệnh, qua đó đủ thấy bệnh của Hoàng hậu nương nương chẳng phải do thiên tượng gây ra, vi thần cũng chẳng có cách nào. Còn về việc tại sao Tư nghi của Khâm Thiên giám không sớm bẩm báo, chắc Hoàng thượng đã nghe qua câu thân ở vị trí nào thì lo việc ở vị trí đó rồi. Chỉ khi nào thiên tượng chẳng lành Hoàng thượng mới cần cậy nhờ đến Khâm Thiên giám, rồi Tư nghi mới có bổng lộc để lĩnh, có uy thế để nở mặt nở mày. Nhược bằng thiên tượng lúc nào cũng yên bình, Hoàng thượng há lại buồn nhớ tới Khâm Thiên giám, khi ấy các quan viên Khâm Thiên giám ắt sẽ đều khốn khổ vô cùng.”

Phó Tư nghi nói năng khiêm nhường lễ độ, thế nhưng lời lẽ lại rất có chiều sâu, khiến người ta phải trầm ngâm suy nghĩ. Huyền Lăng mỉm cười, nói: “Ngươi dường như rất hiểu đạo lý đã làm quan thì chẳng thể ngay thẳng thì phải?”

Phó Tư nghi trả lời một cách ngắn gọn nhưng vẫn không chút thất lễ: “Vi thần có hiểu nhưng lại không cho như thế là đúng.”

Huyền Lăng khẽ cười tủm tỉm, một tia tán thưởng lộ ra nơi khóe miệng nhưng y không nói gì mà chỉ nhìn Thái hậu. Thái hậu cười nói: “Ai gia đã lâu không hỏi tới việc triều chính, Hoàng thượng cứ nhìn ai gia mà cười như thế làm gì?”

Huyền Lăng liếc mắt về phía khuôn mặt có vẻ không kiêu ngạo, không khúm núm của Phó Tư nghi, nhẹ nhàng cất tiếng: “Nhi thần cảm thấy người này chỉ làm một viên Phó Tư nghi thì đúng là đáng tiếc.”

Thái hậu khẽ cười điềm đạm nhưng sắc mặt lại có vẻ hơi mỏi mệt. “Hoàng thượng biết quý trọng nhân tài như thế thực là tốt quá rồi!” Sau đó ngoảnh đầu nhìn qua phía tôi, nụ cười bên khóe miệng tựa đầm nước trong veo sâu thẳm. “Chi bằng Hoàng thượng thử hỏi ý Hoàn Phi xem sao, Hoàng thượng trước giờ vẫn luôn khen Hoàn Phi tài năng xuất chúng cơ mà.”

Huyền Lăng đưa mắt nhìn tôi, mỉm cười nói: “Hoàn Hoàn, nàng cũng thử nói xem sao đi!”

Tôi hơi khom người, nghiêm túc nói: “Thần thiếp thấy trong sách cổ có lời rằng ‘tẫn kê tư thần, duy gia chi tác[2]’, thần thiếp chỉ là hạng đàn bà, sao dám tùy tiện đàm luận chuyện triều chính trước mặt Hoàng thượng. Hơn nữa, Hoàng thượng là chủ nhân của thiên hạ, việc thưởng phạt quan viên trong lòng sớm đã có định đoạt rồi. Thần thiếp có thể phân ưu với Hoàng thượng nơi hậu cung nhưng quyết không dám lạm bàn đến việc ở tiền triều.”

[2] Câu này được ghi lại trong sách Tân Đường thư, nghĩa đen là con gà mái ngáy gọi bình minh, ấy là cái điềm nhà tan cửa nát. Ý chỉ việc đàn bà mà tiếm quyền thì âm dương điên đảo, sớm muộn gì cũng làm cho xã tắc bại vong – ND.

Tôi nói với giọng chân thành khẩn thiết, Huyền Lăng nghe rồi không tỏ thái độ gì, Thái hậu cũng chỉ mỉm cười bình thản.

Phó Tư nghi hơi cúi đầu, ngẫm nghĩ một chút rồi mới nói: “Vi thần có lời này không biết có nên nói hay không.”

Huyền Lăng cười bảo: “Ngươi cứ nói trẫm nghe thử xem.”

“Vận hạn của Thái hậu tuy đã hết nhưng theo thần quan sát, hai sao Tinh Mộc Ngạn và Quỷ Kim Dương trong chòm Chu Tước đều có vẻ bị lu mờ, đây vốn là hai ngôi sao gở, chủ về điềm kinh sợ, do đó sẽ có nhiều sự chẳng lành, mọi việc mong cầu đều bất lợi. Chòm Chu Tước chủ về phương nam, ứng với phía nam Thượng Lâm uyển, xin thứ cho vi thần lắm miệng hỏi một câu, không biết có vị nương nương hay tiểu chủ nào trong tên của song thân có mộc, gần đây lại phải chịu cơn kinh sợ không?”

Huyền Lăng hơi cau mày, trầm ngâm hồi lâu rồi mới nói: “Cung điện ở phía nam Thượng Lâm uyển có không ít, các cung như Trường Dương, Trường Xuân, Trường Hòa, Tiên Đô, Doanh Thọ đều ở đó cả. Có điều trong tên của song thân có mộc… An Bỉ Hòe… mẫu thân của nàng ấy hình như tên là… Lâm Tú.”

Tôi bất giác hơi biến sắc mặt. “Phụ thân của An muội muội tên là An Bỉ Hòe không sai, còn về tên của mẫu thân muội ấy, ngay đến thần thiếp và My tỷ tỷ cũng không biết.”

Thái hậu vẫn giữ nguyên vẻ thản nhiên, bàn tay lặng lẽ lần tràng hạt, hờ hững nói: “Cơn kinh sợ mà thị phải chịu gần đây còn nhỏ hay sao?” Sau đó lại đưa mắt nhìn Phó Tư nghi, hỏi: “Ngươi mau nói đi, phải làm như thế nào?”

Phó Tư nghi khấu đầu thưa: “Đây cũng không phải vấn đề gì nghiêm trọng, chỉ là tướng tinh bất lợi, e sẽ sinh việc chẳng lành, cứ nên tĩnh tu là tốt nhất.”

Thái hậu khẽ gật đầu, nói: “Thị đúng là nên đóng cửa xem xét lại bản thân một chút rồi.”

Vừa khéo lúc này Phương Nhược dâng đồ điểm tâm lên, nghe vậy liền ngạc nhiên nói: “Hoàng hậu mắc bệnh lâu ngày, nghe nói bấy lâu nay vẫn luôn là An Quý tần ở bên hầu hạ. Người mắc bệnh vốn đã hao tổn khí âm, An Quý tần lại gặp lúc tinh tướng chẳng lành, không biết có gây ra sự xung khắc gì không đây?”

Huyền Lăng do dự nói: “Từ khi Hoàng hậu đổ bệnh tới giờ, An Quý tần quả đúng là người hầu hạ nhiều nhất.” Y suy nghĩ một chút rồi lại tiếp: “Thế này đi, tạm thời không cho phép nàng ấy vào cung của Hoàng hậu, bắt đóng cửa tĩnh tu mấy ngày là được rồi.” Rồi Huyền Lăng nhìn qua phía Phó Tư nghi. “Đã có người bị đau bụng, vậy ngươi hãy nắm chức Tư nghi của Khâm Thiên giám luôn đi.” Sau đó lại hỏi: “Trẫm còn chưa biết tên của ngươi là gì đấy?”

“Dạ, thần tên Quý Duy Sinh.” Y dõng dạc trả lời, kế đó liền cúi đầu cung kính cáo lui.

Tôi khẽ cười một tiếng, thầm ghi nhớ cái tên này. Thái hậu xua tay một cái, nói với Tôn cô cô: “Đi đốt chút đàn hương đi, ta ngửi mùi thảo dược suốt mấy tháng nay, đã sắp biến thành thảo dược đến nơi rồi.”

Tôn cô cô y lời đi lấy một nén đàn hương ra thắp, từng làn khói mỏng thoang thoảng hương thơm lững lờ bay ra, tựa như tấm lưới vô hình bao bọc người ta vào giữa.

Thái hậu cất giọng hiền từ, nhưng ở giữa gian điện trống trải nghe có chút không chân thực: “Khâm Thiên giám cũng đã nói là không sao rồi, vậy Hoàng thượng hãy bỏ lệnh cấm túc cho Từ Tiệp dư đi, hy vọng nàng ta có thể yên tâm sinh nở, tăng thêm thành viên cho hoàng thất.” Sau đó, bà ta vẫy tay gọi tôi lại, hờ hững hỏi: “Tại sao tự dưng lại nghĩ tới việc cầu xin cho Từ Tiệp dư thế?”

“Lấy mình xét người, thần thiếp thực sự cầm lòng không đặng.” Tôi thoáng đắn đo một chút rồi bèn nói ra tâm tư của bản thân: “Từ Tiệp dư cũng đang mang thai như thần thiếp, thần thiếp không đành lòng nhìn muội ấy phải chịu nỗi khổ tinh thần như vậy. Mà nếu lòng người mẹ không thoải mái thì sao đứa bé trong bụng có thể khỏe mạnh được. Nếu bây giờ người bị cấm túc là thần thiếp, trong lòng thần thiếp nhất định cũng đầy nỗi bất an.”

Trong khi nói, tôi hơi nghiêng đầu nhìn qua bên cạnh, mé tây tẩm điện của Di Ninh cung trồng toàn những gốc chuối biếc xanh, những tàu lá chuối to lớn được các tiểu thái giám giội nước lau rửa sạch sẽ, trông lại càng thêm xanh mướt. Dưới bụi chuối có mấy con hạc đầu đỏ đang đứng nhởn nhơ tránh nắng, trong đó có hai con hạc nhỏ chừng như vừa mới ra đời không lâu, bộ lông vũ trên người trắng muốt và mềm mại, đáng yêu vô cùng. Nhìn thấy người, bọn chúng cũng không hề tỏ ra sợ hãi, chỉ ung dung bước qua bên cạnh mấy bước, tựa hồ đã quen với sự xuất hiện của con người.

Thái hậu nhìn theo hướng ánh mắt tôi, cũng bất giác lộ vẻ chấn động. Thời gian cứ thế lặng lẽ trôi, tôi gần như có thể nghe thấy tiếng tim đập của mình, liền nhẩm đếm, dường như bỏ sót mất vài nhịp. Thái hậu rốt cuộc đã mỉm cười, nơi đáy mắt cũng là một nét cười đầy thâm ý, rồi bà ta nói với Huyền Lăng: “Hoàn Phi không lạm bàn việc triều chính, đức hạnh vẹn toàn, ai gia lấy làm vui mừng lắm.”

Tôi vội vàng quỳ xuống thưa: “Thái hậu quá lời, thần thiếp thẹn không dám nhận.”

Thái hậu lệnh cho Tôn cô cô: “Mau đỡ Hoàn Phi ngồi xuống.” Sau đó liền nắm lấy bàn tay tôi, ôn tồn nói: “Ai gia vốn thấy con tuy thông minh nhưng sự nền nã thì không so được với Huệ Quý tần. Từ sau khi con về cung, ai gia vẫn luôn lẳng lặng quan sát, con phạt nhẹ để răn đe Tường Tần, vì sự an nguy của Từ Tiệp dư mà đội mưa cầu kiến ai gia, không can dự vào việc triều chính, dám cất lời thẳng thắn cầu xin thay Từ Tiệp dư, thực là vô cùng đáng quý. Xem ra ánh mắt của Hoàng thượng không sai chút nào, con rất xứng với sự ủng ái mà Hoàng thượng dành cho con.”

Tôi cúi đầu lộ vẻ thẹn thùng, nói: “Thần thiếp may được hưởng hoàng ân, không khi nào dám quên.”

Thái hậu lại càng tỏ ra hài lòng: “Mấy năm nay ở chùa Cam Lộ đúng là đã khiến con trưởng thành hơn rồi.” Sau đó lại nhìn Huyền Lăng, nói giọng trách cứ: “Bên cạnh Hoàng thượng nên có thêm các phi tần hiền đức như Hoàn Phi và Huệ Quý tần, chứ không phải hạng như An thị và Diệp thị. Mà trong việc Dương Phương nghi ngày đó Hoàng thượng quan tâm quá nên đâm loạn, có hơi hấp tấp, nếu suy xét kĩ càng thì có thể nhận ra ngay Dương Phương nghi chưa chắc đã là loại người lòng dạ thâm độc như thế.” Sắc mặt Thái hậu dần trở nên trịnh trọng. “Mối họa Phó Như Kim ai gia không muốn thấy lại nữa, Dương Phương nghi có phải chết oan hay không ai gia cũng không tính toán thêm làm gì, Hoàng thượng sau này nhớ chú ý một chút là được.”

“Nhi thần cũng không thực sự muốn giết Mộng Sinh, chẳng qua chỉ định cho nàng ấy một bài học rồi sau này điều tra kĩ càng. Ai ngờ nàng ấy lại nông nổi như vậy, nhi thần cũng thấy vô cùng đáng tiếc.” Nơi khóe mắt thoáng hiện vẻ áy náy, Huyền Lăng cúi đầu nói tiếp: “Nhi thần xin ghi nhớ kĩ lời dạy bảo của mẫu hậu.”

Thái hậu khẽ thở dài. “Con phải ghi nhớ cho kĩ mới được, chỉ nói miệng thôi thì không ích gì đâu.”

Chiếc áo màu ngó sen của Huyền Lăng bị một cơn gió mát từ ngoài điện thổi vào làm tung bay lất phất, y tươi cười nói: “Nhi thần đã có một phi tử hiền đức thế này rồi, những người không ra gì mà mẫu hậu vừa mới nói tới đều chẳng có gì đáng kể cả.”

Trò chuyện thêm mấy câu, thấy thời gian đã không còn sớm nữa, tôi và Huyền Lăng liền đứng dậy cáo từ rời đi.

Trong khoảnh khắc xoay người lại, tôi liếc thấy Phương Nhược đứng phía sau rèm đang khẽ mỉm cười, liền đáp lại bằng một nụ cười hiểu ý.

Nếu không có Phương Nhược thì sao tôi biết được Thái hậu kỳ thực cũng mang lòng thương xót Từ Tiệp dư. Mà nếu không có những việc này, sao tôi có thể trở thành một phi tử hiền đức trong mắt Thái hậu để rồi được bà ta tán dương và thương yêu như thế.

Cũng giống như My Trang vậy, có Thái hậu đứng phía sau rồi, sự an toàn và địa vị của tôi coi như đã tạm thời được đảm bảo.

Nghĩ tới đây, tôi đưa mắt nhìn bầu trời trong xanh thăm thẳm, khẽ nở một nụ cười thư thái.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.