Hậu Cung Chân Hoàn Truyện

Quyển 6 - Chương 3: Nếu gió đông hiểu ý



Sau bữa trưa, bên ngoài vang lên tiếng lá cây bị gió thổi đung đưa xào xạc, Huyền Lăng đã rảo bước đi vào. Hoán Bích vội vàng đỡ tôi bước tới nghênh đón, tôi vì đang có thai nên khi gặp riêng Huyền Lăng thì chỉ cần hơi khom người một chút mà thôi. Y đưa tay ra đỡ lấy cánh tay tôi, mỉm cười nói: “Nàng đang mang thai đi lại không tiện, sau này không cần phải tới trước cửa cung nghênh đón nữa đâu.”

Lý Trường mắc tội bị giam cầm, đã không còn ở bên hầu hạ Huyền Lăng nữa, đổi lại thành đồ đệ của Lý Trường là Tiểu Hạ Tử tay cầm phất trần đi theo phía sau. Tôi âm thầm kinh hãi, Hoàng hậu không làm gì thì thôi, một khi ra tay thì đúng là như sấm rung chớp giật. Tôi làm bộ như không nhìn thấy, cùng Huyền Lăng dắt tay nhau đi vào nội điện.

Tiểu Hạ Tử mới lần đầu làm công việc này nên không tránh khỏi có chút sơ suất, khi cúi đầu bước đi thiếu chút nữa va vào Huyền Lăng. Huyền Lăng xoay người lộ vẻ không vui, cau mày trách mắng: “Ngươi nhìn sư phụ ngươi làm việc cũng không phải mới một hai ngày, sao đến lượt bản thân thì lại tay chân vụng về như thế hả?”

Tôi thấy Tiểu Hạ Tử vành mắt đỏ hoe, chắc hẳn là vừa mới khóc vì việc của sư phụ hắn, vội vàng cười, nói: “Tiểu Hạ Tử mới được mấy tuổi chứ, Hoàng thượng tức giận với gã làm gì? Chỉ cần rèn giũa thêm một thời gian nữa là tự khắc sẽ ổn thôi.”

Tiểu Hạ Tử lúng túng lùi về phía sau hai bước, thiếu chút nữa lại vấp vào người tiểu thái giám sau lưng. Huyền Lăng càng thêm không vui, nói: “Không còn Lý Trường, đám người này cứ như mất hết lề lối vậy, chẳng làm được việc gì ra hồn... Nói ra thì thực là đáng giận, nước ở Nghi Nguyên điện trước đây vốn đều nóng bảy phần, bây giờ không phải lạnh quá thì là nóng quá, sách trên giá sách vốn đều dùng lá phong để đánh dấu trang, đám người này thì hay lắm, không ngờ lại thay bằng lá long não. Lá long não dày như thế, lại còn có mùi hăng, sao có thể kẹp vào trong sách được? Thực đúng là một đám hồ đồ.”

“Một đàn ngựa tốt cũng cần có một con ngựa già quen đường chỉ dẫn mới có thể đi lại yên ổn, huống chi đám người này xưa nay vốn chỉ nghe lệnh làm việc. Hiện giờ Lý Trường phạm lỗi bị giam cầm, bọn họ tất nhiên chẳng khác gì một đàn nhặng không đầu đã mất hết phương hướng.” Tôi mím môi cười khẽ, đưa tay tới bốc lấy một nhúm cánh hoa cúc tươi trong chiếc đĩa màu trắng làm bằng mã não bỏ vào trong chén trà, lại rắc thêm một ít bột đường phèn lên trên, rót nước sôi vừa đun vào, đợi nguội bớt một chút thì cho thêm nước lạnh, sau đó mới mỉm cười dịu dàng nói: “Trà hoa cúc mà thần thiếp pha đây, nóng đúng bảy phần, Hoàng thượng hãy nếm thử xem có vừa miệng không.”

Huyền Lăng khẽ nhấp một ngụm, tới lúc này thần sắc mới hòa hoãn phần nào. Tôi mỉm cười chỉ tay về phía chậu hoa cúc bên dưới cửa sổ, nói: “Bây giờ mới vào thu, uống trà hoa cúc là hợp mùa nhất rồi!”

Huyền Lăng đưa mắt liếc qua, cười nói: “Đúng là đã tới mùa hoa cúc nở rồi, trong cung người nào thích hoa cúc nhất ấy nhỉ?”

Tôi thoáng ngẩn ra, lập tức đáp: “Là My tỷ tỷ.”

Huyền Lăng đưa tay vỗ trán, bất giác bật cười. “Trẫm đúng là đã hồ đồ rồi, nơi ở trước đây của nàng ấy vốn là Tồn Cúc đường, hai ngày trước trẫm còn kêu người bưng mấy chậu cúc vừa nở tới Đường Lê cung cho nàng ấy nữa.” Sau đó y đưa tay khẽ xoa trán tôi, nở một nụ cười rất mực dịu dàng. “Hoàng hậu vừa nói với trẫm việc về Lý Trường và Thôi Cận Tịch, trẫm sợ nàng buồn nên vội tới đây ngay. Việc của Thôi Cận Tịch không liên quan gì tới nàng, tốt nhất nàng đừng suy nghĩ quá nhiều làm gì.”

Nghe y nói vậy tôi không kìm được lộ vẻ âu lo, hơi cúi đầu cất giọng ấm ức: “Hoàng hậu nương nương cũng đã nói rồi, thần thiếp giờ đang có thai nên nhiều việc tâm có thừa mà sức không đủ, do đó không trách cứ gì thần thiếp. Nhưng không biết ước thúc người trong cung của mình, đây dù sao cũng là lỗi của thần thiếp.”

Huyền Lăng thở dài, than: “Nếu nói theo cách của nàng, Lý Trường là người hầu hạ bên cạnh trẫm từ nhỏ, trẫm há chẳng phải là càng không biết cách quản giáo người dưới ư? Bọn họ tự mình phạm lỗi, trẫm và nàng đều chẳng có cách nào.” Huyền Lăng thấy tôi có vẻ buồn bã không vui, liền bước lại gần tôi, dịu giọng nói: “Cận Tịch xưa nay vẫn luôn là người hầu cận đắc lực của nàng, bây giờ xảy ra chuyện như vậy hoàn toàn là do lỗi của thị, còn làm nàng mất mặt nữa. Trẫm sợ nàng cả nghĩ nên mới vội vàng tới đây thăm nàng, nàng đừng để trẫm phải lo lắng quá.”

Lòng tôi lúc này vô cùng bức bối, chỉ có thể gượng nở nụ cười. “Dạ, sao thần thiếp dám để Hoàng thượng phải lo lắng chứ. Có điều xảy ra chuyện như vậy, thần thiếp thực không cách nào có thể yên lòng được.”

Huyền Lăng khẽ vuốt ve cái bụng đã nhô lên hẳn của tôi, nắm lấy bàn tay tôi, ôn tồn nói: “Bây giờ nàng đang có thai, bất cứ việc gì cũng đều phải lấy cái thai này làm trọng. Hoàng hậu đã dần khỏe lại rồi, việc ở hậu cung cứ giao cho nàng ấy xử lý là được. Ngoài ra, nếu nàng thực sự luyến tiếc Thôi Cận Tịch, trẫm sẽ bảo phủ Nội vụ chọn cho nàng một người khác tốt hơn tới đây.”

Nghe giọng điệu của y như vậy tôi liền biết là y nhất thời chẳng thể giúp được gì, chỉ đành nhẫn nại ứng phó qua loa với y một chút. Thế rồi sau khi chúng tôi cùng dùng bữa tối xong, Từ Tiến Lương sai người đưa tới lục đầu bài mời y chọn thẻ bài. Huyền Lăng an ủi tôi một hồi lâu, sau đó mới chọn tấm thẻ bài của Diễm Thường tại và tới Lục Nghê cư.

Tôi đứng ngoài cửa cung dõi mắt nhìn theo bóng dáng Huyền Lăng cho tới khi y đã đi xa, sau đó mới quay trở vào trong. Lúc này những làn gió thu thổi tới đã bắt đầu se se lạnh, thời tiết tháng Tám vẫn thường khiến người ta có cảm giác khắc khoải thê lương. Tôi cố ổn định lại tâm trạng đang rối bời của mình, nhẹ nhàng nói: “Giúp ta trang điểm thay quần áo một chút, chúng ta tới Ngọc Chiếu cung.”

Hoa Nghi đứng kế bên nôn nóng không thôi, kéo tay áo tôi, nói: “Vừa rồi sao nương nương không mở lời cầu xin Hoàng thượng? Bây giờ chỉ có Hoàng thượng là có thể áp chế được Hoàng hậu thôi, nếu nương nương thỉnh cầu chưa biết chừng Hoàng thượng lại chịu khoan thứ cho Cận Tịch.”

Tôi buồn bã lắc đầu. “Hoàng hậu đã chuẩn bị kĩ càng, lại nắm được chứng cứ xác thực, còn có phép tắc trong cung để dựa vào, chỉ e ngay đến Hoàng thượng cũng chẳng thể nói gì được. Nếu bản cung mà mở lời thỉnh cầu, Hoàng hậu vừa hay có thể nhân đó mà trị bản cung tội bao che dung túng cho người dưới.”

Hoa Nghi bất giác lộ vẻ ngẩn ngơ. “Vậy phải làm sao mới tốt đây? Nếu ngay đến nương nương cũng bị liên lụy thì còn ai có thể cứu được Cận Tịch nữa?”

Nghe vậy tôi chỉ im lặng không nói gì thêm, trang điểm qua loa một chút rồi ngồi kiệu tới Ngọc Chiếu cung.

Khi đi tới Thượng Lâm uyển, tôi ngoảnh đầu lại hỏi Tiểu Doãn Tử đi theo phía sau: “Đã nghe ngóng được Cận Tịch hiện đang ở đâu chưa?”

Tiểu Doãn Tử thoáng lộ vẻ trù trừ, cuối cùng vẫn đáp: “Tạm thời bị giam ở Bạo thất.”

Tôi trầm ngâm một lát rồi nói: “Quay lại đi, chúng ta tới Bạo thất.”

Tiểu Doãn Tử sợ giật nảy mình, vội vàng cười gượng khuyên can: “Bạo thất vốn nóng nực, nương nương bây giờ lại đang có thai, sao có thể tới đó được? Cứ nên kiêng kỵ một chút thì hơn.”

Tôi đưa tay mân mê viên ngọc đính trên chiếc bông tai, bình thản nói: “Ngay đến lãnh cung bản cung cũng từng ra vào rất nhiều lần, chỉ là một Bạo thất cỏn con thì có gì đáng kể đâu mà phải kiêng kỵ.”

Tiểu Doãn Tử lại cố khuyên thêm: “Nô tài biết là nương nương lo cho Cận Tịch, hay là để nô tài đi thay nương nương một chuyến nhé. Nếu Hoàng hậu biết việc nương nương đích thân tới thăm Cận Tịch, thực không biết sẽ lại xảy ra rắc rối gì nữa.”

Tôi hơi cau mày, đưa mắt liếc hắn. “Ngày càng lắm lời hơn rồi, bản cung đích thân đi thăm tất nhiên là vì có lời muốn hỏi thị, ngươi cứ dẫn đường là được. Nếu Hoàng hậu trách tội, bản cung sẽ một mình gánh hết.”

Tiểu Doãn Tử khom người, nhăn nhó nói: “Thực sự không phải nô tài muốn lắm lời đâu nhưng Bạo thất nóng nực vô cùng, nương nương mang thai vốn đã vất vả, dù không suy nghĩ cho mình thì cũng nên suy nghĩ một chút cho tiểu Hoàng tử chứ!”

Tôi cúi đầu cười mỉm, đưa tay khẽ vuốt ve bụng mình. “Nếu ngay đến một chút nóng nực mà cũng không chịu được thì sao có thể làm con của Chân Hoàn ta, đi thôi!”

Tôi đã quyết ý muốn đi, sao Tiểu Doãn Tử có thể khuyên can được, chỉ đành đi phía trước dẫn đường. Bạo thất nằm ở nơi tận cùng của vĩnh hạng, kỳ thực là mấy gian nhà trệt nối liền với nhau, tựa như một con mãnh thú đang ngồi rình mò trong bóng tối. Tôi bám vào tay Hoán Bích chậm rãi đi vào, cảm thấy có một luồng khí nóng ập thẳng vào mặt. Hoán Bích ngạc nhiên nói: “Không ngờ nơi này lại ấm áp như vậy!”

Bạo thất còn có tên khác là Bộc thất, do Dịch đình lệnh quản lý, ban đầu chức trách chủ yếu là dệt vải và nhuộm vải, về sau các cung nhân có tội đều bị giam giữ vào nơi này, đa phần phải làm các công việc nặng nhọc như giã gạo, do đó còn được gọi là Bạo thất ngục.

Khi ở bên ngoài thì chỉ cảm thấy ấm, thế nhưng mới bước vào Bạo thất được một lúc thân thể tôi đã bắt đầu toát mồ hôi. Bạo thất được quét dọn rất sạch sẽ, gần như có thể nói là không nhiễm bụi trần. Tuy mới đầu thu nhưng trên sàn đã được lót một lớp rơm khô rất dày, ngay đến những chiếc chăn xếp một bên cũng đều là loại chăn dày dùng cho mùa đông. Vì trong phòng khô hanh, mùi rơm khô thoang thoảng hương thơm ngợp khắp cả phòng.

Hoán Bích không kìm được hỏi: “Nơi này vốn đã nóng rồi, sao lại còn dùng loại chăn dày như thế chứ?”

Tiểu Doãn Tử không nói gì, chỉ khẽ thở dài một tiếng. Tôi nhíu chặt đôi mày, cất giọng xót xa: “Trải rơm khô và dùng chăn dày kỳ thực cũng là một loại hình phạt trong Bạo thất. Nếu phải nằm đắp chăn ở nơi này, muốn toàn thân không nổi mẩn thực là khó lắm.”

Lúc này tôi lại càng lo lắng cho Cận Tịch hơn, thế nhưng Bạo thất lại có vẻ hết sức tĩnh lặng, không thấy bóng người nào, duy có phía đằng xa là vang lại những tiếng giã gạo.

Trên khuôn mặt tràn ngập vẻ xót xa, buồn bã, Tiểu Doãn Tử cứ thế dẫn tôi đi về phía trước. Tới nơi rồi tôi chỉ thấy đây có vẻ giống như một gian nhà kho rất lớn, nóng nực vô cùng, tôi mới đứng được một lát mà mồ hôi đã tuôn ra như tắm. Trong nhà kho có một đám nữ tử mặc quần áo vải thô đang cầm chày gỗ không ngừng giơ lên giã xuống, lớp vỏ trấu của những hạt thóc trong cối cứ thế bị giã bung ra, làm lộ ra màu trắng ngần như tuyết của những hạt gạo mà người ta hay ăn thường ngày.

Giã gạo là một công việc hết sức nặng nhọc, các quan viên trong triều nếu phạm phải tội lớn, vợ và con gái sẽ bị đưa vào trong cung làm nô tỳ, những người này thường phải làm công việc giã gạo vất vả nhất, do đó được gọi là “thung tỳ[4]”. Thời Đường có người tên Nguyên Tái từng làm Tể tướng mười tám năm, về sau phạm tội bị mất chức quan, vợ và con gái đều trở thành “thung tỳ”, không kìm được nỗi thê lương mà than: “Còn khổ hơn là chết.” Qua đó có thể thấy việc giã gạo nặng nhọc đến thế nào. Thậm chí Lữ Hậu của Hán Cao Tổ vì căm ghét sủng phi Thích phu nhân nên cũng từng bắt bà ta phải ngày đêm giã gạo, khiến Thích phu nhân than khóc không thôi, sống không bằng chết.

[4] Thung có nghĩa là giã.

Tiểu Doãn Tử cúi đầu nhìn mũi bàn chân mình, hạ thấp giọng nói: “Phàm là người bị đầy vào Bạo thất, bất kể là thái giám hay cung nữ, mỗi ngày chỉ được ngủ hai canh giờ, thời gian còn lại đều phải không ngừng giã gạo. Nếu dám biếng nhác...”

Tiểu Doãn Tử còn chưa nói xong, một tiếng roi quất vun vút đã vang lên, khi chạm vào thịt gần như có thể nghe thấy tiếng da thịt rách toạc, rồi kế đó chúng tôi nghe thấy tiếng quát dữ dằn của một ả cung nữ phốp pháp đang một tay chống nạnh: “Đồ đê tiện, đã tới đây rồi mà còn muốn lười nhác sao?” Nữ tử kia không chịu nổi cơn đau, cúi đầu khóc rấm rứt, nhưng mới khóc được mấy tiếng thì đã lại bị quất thêm hai roi nữa, kèm theo đó là tiếng quát: “Khóc lóc cái gì? Có thời gian mà khóc sao không đi giã thêm mấy đấu gạo nữa? Tưởng mình tôn quý lắm hay sao?”

Phải sống ở một nơi nóng nực thế này, đã thế còn phải làm việc nặng nhọc và không ngừng bị đánh mắng, chẳng trách các cung nhân bị đày vào đây chỉ sau vài ba tháng là đa phần đều bỏ mạng. Suy nghĩ như vậy tôi lại càng thêm nôn nóng, Tiểu Doãn Tử lén ngó qua thần sắc của tôi rồi bước tới ghé đến bên tai ả cung nữ phốp pháp kia, nói khẽ mấy câu.

Thị lập tức tươi cười bước đến, cung kính hành lễ với tôi: “Nô tỳ không biết là Hoàn Phi nương nương tới, bái kiến nương nương”, sau đó lại hoang mang nói: “Dịch đình lệnh hiện không ở đây, nô tỳ là người trông coi lũ người kia, hay là để nô tỳ đi mời Dịch đình lệnh tới hầu chuyện nương nương nhé?”

Nhà kho này vốn đã oi bức, khi thị bước tới gần, một thứ mùi chua loét lập tức truyền tới, khiến tôi đầu óc quay cuồng, phải cố hết sức nhẫn nhịn mới có thể gượng cười, nói: “Không cần phải vậy, bản cung chẳng qua chỉ tiện đường tới đây thôi, ngươi đã là người trông coi, vậy bản cung hỏi ngươi là được rồi. Có một cung nữ tên Thôi Cận Tịch...”

Thị cười đến tít cả mắt, vội vàng đáp ngay: “Dạ có, có, mới đến đây được hai ngày thôi, đang giã gạo ở trong kia.” Thị ngó sắc mặt của tôi, rụt rè hỏi: “Nương nương muốn gặp thị sao?”

Tôi cười tủm tỉm, nói: “Cô cô thấy vậy có tiện không?”

Thị lập tức gật đầu như gà mổ thóc. “Tiện chứ, tiện chứ!” Nói rồi bèn bước tới kéo từ chỗ sâu trong đám người kia ra một nữ tử đầu tóc rối bù, dắt tới trước mặt tôi, cung kính nói: “Nương nương cứ từ từ nói chuyện đi, nô tỳ đi trông coi những người kia.”

Thấy thị đã đi xa rồi, tôi vội nắm lấy bàn tay Cận Tịch, tha thiết hỏi: “Cận Tịch, ngươi vẫn khỏe chứ?”

Cận Tịch không trả lời mà chậm rãi quỳ xuống, khóc nức nở, nói: “Là nô tỳ không tốt, làm liên lụy tới nương nương, khiến nương nương bị người ta chê cười, nô tỳ không còn mặt mũi nào gặp lại nương nương nữa.”

Nghe thấy tiếng khóc tôi thoáng chút giật mình, cảm giác bi thương tự đáy lòng bất giác trào dâng. Cận Tịch vốn tính tình cứng cỏi, xưa nay chưa từng tỏ ra yếu đuối, bao giờ cũng hết sức tỉnh táo, lúc này nàng ta khóc lóc như vậy thứ nhất là sợ làm liên lụy tới tôi, thứ hai là việc giữa nàng ta và Lý Trường dù sao cũng chẳng vẻ vang gì, bây giờ lại bị làm ầm lên, ai ai cũng mang ra làm trò cười, nàng ta vốn là người coi trọng thể diện làm sao có thể chịu đựng được. Tôi cố gắng khom người xuống đưa tay tới vuốt ve bờ lưng đã gầy hẳn đi của nàng ta, không kìm được xót xa nói: “Ngươi yên tâm, nếu ta bị liên lụy thì sao còn có thể tới thăm ngươi thế này. Nhưng ngươi đó, đều là vì ta nên mới rơi vào cảnh ngộ như bây giờ, rốt cuộc vẫn là ta có lỗi với ngươi.” Chắc vì hai ngày qua vừa phải làm việc vất vả lại vừa thương tâm, trên mu bàn tay Cận Tịch những sợi gân xanh gồ hẳn lên như những con rắn nhỏ, tôi nắm lấy bàn tay nàng ta, nói: “Ngươi yên tâm, ta nhất định sẽ tìm được cách cứu ngươi ra ngoài.”

Cận Tịch khẽ lắc đầu, khuôn mặt bình tĩnh trong tuyệt vọng. “Nương nương đang mang thai, việc gì phải vì nô tỳ mà hao tâm tổn sức. Nô tỳ tự biết việc này một khi bại lộ sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp, huống chi còn rơi vào tay Hoàng hậu. Cho dù nương nương có cứu được nô tỳ ra ngoài, nô tỳ cũng đâu còn mặt mũi nào mà gặp người khác nữa, chi bằng cứ để nô tỳ tự sinh tự diệt ở đây thì hơn.”

Tôi gạt những sợi tóc rối trước mặt nàng ta qua một bên, trầm giọng nói: “Cận Tịch, trước đây đều là ngươi khuyên ta, bây giờ đến lượt ta khuyên ngươi rồi, chết là việc hết sức dễ dàng, tìm sợi dây nào đó mà treo cổ lên là được. Nhưng nếu cứ thế chết đi thì không chỉ làm người thân đau đớn kẻ thù vui mừng, còn cực kỳ không đáng nữa.” Tôi đột nhiên đứng dậy, nói rành rọt từng từ: “Với tình nghĩa bao nhiêu năm qua giữa chúng ta, ngươi hãy tin ta.”

Ánh mắt Cận Tịch lúc này đã hơi rời rạc, miệng thì vẫn nói: “Nô tỳ tin!” Tôi biết là nàng ta vẫn còn hoài nghi, ngay đến bản thân tôi cũng chẳng thể nắm chắc được mười phần. Đôi mắt nàng ta ánh lên những tia quan tâm và ấm áp hệt như trước kia. “Nương nương thân phận tột cùng cao quý, sau này không cần tới Bạo thất thăm nô tỳ nữa đâu, nô tỳ sẽ tự bảo trọng.”

Tôi lòng thầm chua xót, khẽ gật đầu, nói: “Ta biết, ngươi có biết bây giờ Lý Trường đang ở đâu không?”

Cận Tịch nở một nụ cười thê thảm. “Còn có thể ở đâu khác được, cũng đang phải chịu tội giống nô tỳ thôi. Nếu không vì nô tỳ, y đã chẳng phải chịu kiếp nạn lần này rồi.” Sau một thời gian dài phải làm việc vất vả cộng thêm cái nóng, hai bờ môi Cận Tịch đều nứt toạc rỉ máu, trông hệt như những bông mai đỏ vừa kiều diễm vừa bắt mắt. “Vốn nô tỳ cũng chẳng nghĩ gì nhiều, chẳng qua chỉ tính lợi dụng lẫn nhau rồi nương tựa vào nhau sống nốt quãng đời còn lại thôi. Bây giờ việc này bị làm ầm lên như thế...” Nàng ta thoáng trầm ngâm một chút, không ngờ lại khẽ mỉm cười. “Nô tỳ nói câu này chẳng sợ nương nương cười, hôm đó Lý Trường dù thế nào cũng không chịu khai ra nô tỳ, không biết vì sao, nô tỳ bỗng thấy mình hình như đã nảy sinh một chút tình cảm với y rồi.”

Lời của nàng ta khiến những tia cảm xúc ẩn giấu nơi đáy lòng tôi bất giác trào dâng, nhưng ngoài miệng tôi vẫn chỉ nói: “Hoạn nạn thấy chân tình, đó vốn là điều đáng quý nhất trên đời.”

“Đúng thế!” Cận Tịch khẽ cất tiếng cảm thán: “Trước đây nô tỳ thấy nương nương và...” Nàng ta dừng một chút rồi nói tiếp: “Chỉ nghĩ rằng tiên đồng ngọc nữ thì nên ở bên nhau mà thôi, bây giờ tự mình trải qua rồi mới hay mấy chữ “hoạn nạn thấy chân tình” đó có sức nặng thế nào.”

Tôi lặng im một lát, sau đó mới rời khỏi Bạo thất. Tiểu Doãn Tử đi dặn dò ả cung nữ vừa rồi chớ nên đối xử hà khắc với Cận Tịch quá, thế rồi liền cùng tôi đi tới Ngọc Chiếu cung.

Giờ đã vào thu, khắp nơi đều là những chiếc lá vàng se sắt, mặt đất tựa một tấm thảm gấm màu vàng. Ấy thế mà Không Thúy đường của Từ Tiệp dư vẫn um tùm cây lá, không hề thấy một chút màu vàng nào, thậm chí dưới đất còn chẳng thấy một phiến lá khô nào cả, được quét dọn sạch sẽ vô cùng, nguyên một tòa kiến trúc đều ngợp giữa màu xanh khiến lòng người thư thái.

Còn chưa đến giờ thắp đèn, ánh sáng trong nội đường lúc này có vẻ khá âm u, Từ Tiệp dư đứng một mình trước chiếc giá xếp đầy những sách, trên tay cầm một cuốn Tam ngôn Lưỡng phách mà xem đến say mê, toàn thân đều như ẩn vào giữa một nơi mà ánh sáng không chiếu tới được, phong thái của một vị tiểu thư khuê các lộ ra rất rõ ràng.

Tôi hơi hất mặt một cái, Hoán Bích hiểu ý liền kiếm cớ kéo Xích Thược cùng ra ngoài. Tới lúc này tôi mới mỉm cười nhìn nàng ta, khẽ nói: “Tiệp dư đang bận đọc sách thế này, bản cung tới thật là không đúng lúc.”

Từ Tiệp dư khẽ nở nụ cười, cất giọng hài hước nói: “Tần thiếp đang chuẩn bị dùng bữa tối đây, nương nương tới đúng lúc lắm.”

Nàng ta hơi nghiêng mặt nhìn qua, nụ cười bên khóe môi giống như một cơn mưa phùn tháng Ba, vừa mông lung vừa dịu nhẹ. “Trong cung của nương nương vừa xảy ra việc lớn, bây giờ nương nương tới đây lẽ nào là để nói chuyện với tần thiếp về vấn đề này sao?”

Nàng ta tột bực thông minh, sao lại không hiểu tôi đến đây là có ý gì. Tôi bất giác cười, nói: “Nói chuyện với người thông minh đúng là đỡ tốn sức hơn nhiều.”

Nàng ta đặt cuốn sách đã hơi ố vàng xuống, trên tay áo vẫn còn thơm mùi sách. “Tần thiếp chẳng phải người thông minh gì, chẳng qua là lấy bụng mình so bụng người, thành ra đoán được một chút ý đồ của nương nương mà thôi.”

Tôi thản nhiên cười khẽ. “Muội muội thông minh như vậy, bản cung có nói nhiều thêm cũng vô ích, chẳng hay muội muội có bằng lòng giúp bản cung không?”

Từ Tiệp dư khẽ vuốt ve bụng mình, trong sự dịu dàng lại lộ ra mấy tia kiên định. “Nếu không có nương nương, trên đời này sớm đã chẳng còn tần thiếp rồi, mà đứa bé trong bụng tần thiếp cũng chẳng thể nào sống nổi. Vì duyên cớ này, nương nương nói gì tần thiếp cũng đều xin dốc sức, hy vọng có thể báo đáp được nương nương phần nào.” Hơi dừng một chút nàng ta nói tiếp: “Tần thiếp chỉ có một yêu cầu, đó là việc nương nương làm không thể gây tổn hại tới Hoàng thượng, bằng không xin thứ lỗi cho tần thiếp không thể giúp nương nương.”

“Sao có thể chứ!” Tôi khẽ bật cười, nhìn nàng ta bằng ánh mắt trong veo, thành khẩn. “Bản cung chỉ muốn cứu Cận Tịch và Lý Trường ra, mà như thế cũng là vì Hoàng thượng nữa, Lý Trường hầu hạ bên cạnh Hoàng thượng nhiều năm, hiểu tính tình Hoàng thượng nhất. Bây giờ y bị giam giữ, thứ nhất là khiến Hoàng thượng mất mặt, thứ hai là bên cạnh Hoàng thượng chẳng còn ai biết hầu hạ nữa, việc gì cũng không được như ý.”

Nàng ta suy nghĩ một chút rồi nói: “Vậy tần thiếp xin nghe theo sự an bài của nương nương.”

Tôi cười tươi, nói: “Bản cung tin là Tiệp dư sẽ có thể làm rất tốt, mà kỳ thực cũng chỉ cần đưa ý tứ này tới chỗ Hoàng thượng là được rồi.”

Tôi ghé đến bên tai nàng ta, nói khẽ một hồi. Từ Tiệp dư cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ, dáng vẻ như thể một nàng mỹ nữ bước ra từ trong tranh, sau đó mới nhẹ nhàng nói: “Yêu cầu của nương nương không hề khó khăn, chỉ có điều...” Ánh mắt nàng ta bình lặng tựa mặt nước hồ thu, không một gợn sóng. “Tần thiếp trước đây chưa từng nói gì nhiều trước mặt Hoàng thượng, tại sao nương nương lại muốn tần thiếp nói những lời này?”

Tôi hơi dãn đôi hàng lông mày, hờ hững nói: “Vì Tiệp dư trước đây vốn ít nói, cho nên lần này bất ngờ lên tiếng mới có thể thu hút được sự chú ý của Hoàng thượng.”

Màn đêm như một bức màn to lớn vô biên từ từ buông xuống bao phủ đất trời, Kết Ngạnh cầm đèn đi châm từng ngọn nến trong Không Thúy đường, ánh nến từ từ sáng lên, soi rọi khuôn mặt điềm đạm của Từ Tiệp dư, nàng ta hơi nhếch khóe môi cười, nói: “Được nương nương coi trọng như vậy, tần thiếp xin dốc hết sức mình thử xem.”

Từ trong Ngọc Chiếu cung trở ra, tôi bất giác cảm thấy có chút mỏi mệt, ngẩng đầu liền nhìn thấy những vì sao lóng lánh khắp trời, vô cùng rực rỡ bắt mắt. Trong một khoảnh khắc ngẩn ngơ, tôi có cảm giác như mình còn đang bồng bềnh dong thuyền trên dòng sông phía dưới chùa Cam Lộ, xung quanh lấp lánh những vì sao soi bóng xuống đáy sông.

Tôi gần như đã cho rằng như thế... Nhưng bên cạnh tôi, chiếc kiệu xa hoa to lớn này, ngoài tôi ra không còn người nào khác. Giữa những tòa kiến trúc nguy nga, tôi chẳng thể nào nhìn thấy những rặng núi non trùng điệp, cũng không cách nào ra ngoài được nữa.

Cảm giác hụt hẫng cùng với nỗi niềm ngơ ngẩn bất giác trào dâng, tà váy rộng thêu hình hoa hồng của tôi chợt bị gió thổi tung bay lất phất, tựa như cánh bướm muốn tung cánh bay cao nhưng chẳng thể nào bay được. Tôi chậm rãi đưa tay giữ lấy mép váy, gạt mọi sự kỳ vọng qua một bên, chỉ hy vọng nước cờ này mình không đi nhầm, chỉ hy vọng mình có thể bảo vệ được Cận Tịch.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.