Hội Chợ Phù Hoa

Chương 16



BỨC THƯ TRÊN CHIẾC GỐI MAY

Hai người đã lấy nhau ra sao, điều đó không ai cần quan tâm mảy may. Một viên đại úy đã thành niên cùng một cô thiếu nữ đến tuổi xin cấp một tờ chứng hôn, và làm lễ cưới tại bất cứ nhà thờ nào trong thành phố thì có điều gì khó khăn đâu? Chẳng cần phải bảo thì ai cũng biết rằng một khi người đàn bà đã muốn, chắc chắn họ sẽ tìm ra cách thực hiện bằng được ý muốn của mình.

Cứ theo ý tôi thì có lẽ, một hôm nào đó, khi cô Sharp đi vắng cả một buổi sáng để đến thăm cô bạn thân thiết là Amelia Sedley ở khu phố Russell, thì có một thiếu nữ trông rất giống cô ta cũng bước vào một tòa nhà thờ nào đó trong thành phố, cùng một người đàn ông sang trọng có bộ ria mép vuốt sáp; sau khoảng mười lăm phút, người đàn ông này lại dẫn cô trở ra, lên chiếc xe ngựa thuê vẫn chờ sẵn: ấy là một buổi lễ cưới kín đáo vậy.

Và trên thế gian này, sau khi trải qua bao kinh nghiệm sống hàng ngày, ai dám cho rằng một người đàn ông con nhà dòng dõi lại không thể lấy vơ váo bất cứ người nào làm vợ? Đã có biết bao người khôn ngoan, học thức mà lấy ngay chị bếp của mình? Ngay chính bá tước Eldon, con người khôn ngoan nhất đời ấy chẳng đã lấy vợ một cách lúi sùi vụng trộm đấy sao? Xưa kia, Achilles và Ajax cũng đã yêu nô lệ của họ. Vậy thì sao ta lại đòi hỏi anh chàng sĩ quan Ngự lâm quân cao lớn kia, con người có những dục vọng lớn lao nhưng trí óc lại rất bé nhỏ, trong đời mình chưa từng bao giờ biết kiềm chế những sự say mê, phải bất thình lình trở thành khôn ngoan và từ chối không chịu thỏa mãn một khát vọng anh ta hằng ấp ủ? Nếu như thiên hạ bao giờ cũng tính toán cẩn thận khi lấy vợ lấy chồng, thì việc phát triển dân số đến đình lại mất!

Riêng đối với tôi thì việc ông Rawdon lấy vợ chính là một trong số những hành vi lương thiện nhất mà ta có thể thống kê được trong bất cứ đoạn đời nào của nhà quý tộc ấy được miêu tả trong cuốn truyện này. Ai dám bảo rằng việc bị một người đàn bà quyến rũ, và do đó lấy người ấy làm vợ, là không anh hùng? Anh chàng chiến sĩ cao lớn ấy say mê, sung sướng, ngạc nhiên, hoàn toàn tin cậy và thờ phụng Rebecca như kẻ cuồng tín; ít nhất thì, trước con mắt của đàn bà, những tình cảm ấy cũng không hề làm mất uy tín của anh ta chút nào. Khi Rebecca hát, mỗi âm thanh như reo múa trong tâm hồn đần độn của anh ta, cũng như còn ngân nga mãi trong khắp cái cơ thể to lớn của anh ta. Lúc cô ta nói, anh chàng tận lực vận dụng trí thông minh để nghe và để ngạc nhiên. Khi cô ta bỡn cợt, anh chàng thường nghiền ngẫm mãi. Những câu khôi hài của cô trong óc và để nửa giờ sau mới phá ra cười giữa phố, làm cho anh hầu ngồi cạnh trong xe ngựa, hoặc người bạn cùng cưỡi ngựa đi chơi ở Rotten Row với anh ta phải trố mắt ngạc nhiên. Đối với anh ta, những lời Rebecca nói là lời sấm truyền, mỗi hành vi dù nhỏ nhặt nhất của cô anh chàng cũng thấy đầy duyên dáng và khôn ngoan. Anh ta nghĩ thầm: “Nàng hát hay thật...vẽ đẹp quá...Nàng cưỡi con ngựa non bất kham ở trại Crawley Bà chúa mới khéo làm sao?”Và trong những phút tình tự, anh ta thường nói với cô gái: “Lạy Chúa, em Becky ơi, em xứng đáng làm tổng tư lệnh quân đội, là tổng giám mục ở giáo đường Canterbury, lạy Chúa!”

Trường hợp anh ta có phải là hãn hữu không? Hàng ngày, chúng ta chẳng đã từng được chứng kiến trong cuộc đời cảnh những chàng Hercules () thực thà bám lấy gấu váy của nàng và cảnh những chàng Samsons () khổng lồ có râu phủ phục trong lòng cô Delilah đấy sao.

Vậy thì Becky viết thư báo cho anh ta hay rằng cuộc đại khủng hoảng xảy ra đến nơi rồi, và bây giờ là lúc phải hành động ngay. Rawdon tự nhủ sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh của cô như anh ta sẵn sàng dẫn đầu đơn vị của mình tấn công dưới sự chỉ huy của viên đại tá. Anh ta cũng không cần phải nhét lá thư vào trong quyển thứ ba tập “Thuyết giáo” của Porteus. Ngay hôm sau, Rebecca đã dễ dàng tìm được cách trốn bà Briggs để đến “chỗ mọi khi” gặp người bạn tình trung thành của mình. Suốt đêm, cô ta trằn trọc nghĩ về chuyện này; sáng ra cô ta ngỏ với Rawdon mọi sự tính toán sắp đặt của mình. Dĩ nhiên, anh ta đồng ý về mọi khoản; anh ta hoàn toàn yên trí rằng người yêu tính toán như vậy là rất đúng, rằng những điều cô ta đề nghị là có lợi nhất, rằng bà Crawley, sau một thời gian, cuối cùng thế nào cũng phải nghĩ lại, phải “rút lui” như lời anh ta nói. Giả sử Rebecca quyết định hoàn toàn khác, chắc Rawdon sẽ cắm đầu đi theo cũng ngoan ngoãn như vậy.

Anh ta bảo: “Một mình đầu óc em cũng đủ cho cả hai ta rồi. Chắc chắn em sẽ tìm được cách cho chúng mình thoát khỏi chỗ bế tắc. Anh đã từng gặp gỡ những tay cũng đáo để mà chưa hề thấy ai sánh được với em đấy”. Anh chàng Ngự lâm quân si tình bộc lộ lòng tín ngưỡng tuyệt đối của mình như vậy, và để mặc người yêu thực hiện cả phần việc của mình trong kế hoạch cô ta đã vạch ra cho cả đôi.

Kế hoạch ấy chỉ gồm có việc thuê một ngôi nhà yên tĩnh ở Brompton, hoặc tại một nơi gần trại lính, để ông bà đại úy Crawley ở. Rebecca quyết định đi trốn, chúng ta cũng thấy thế là khôn ngoan nhất mực. Thấy cô ta muốn vậy Rawdon cũng thích; đã mấy tuần qua, anh chàng vẫn cầu khẩn Rebecca trốn đi với mình. Anh chàng lập tức lao đi tìm thuê nhà, hăng hái như một kẻ đang yêu. Người chủ nhà đòi trả mỗi tuần hai ghi nê; Rawdon bằng lòng ngay, làm cho bà này tiếc mãi sao mình không đòi đắt hơn. Anh ta thuê một chiếc dương cầm, và trang hoàng trong nhà toàn những hoa là hoa, la liệt toàn những đồ dùng sang trọng. Còn như các khoản khăn san, bao tay tất lụa, đồng hồ Pháp bằng vàng, vòng tay và nước hoa thì nhiều vô kể. Rawdon vung tiền ra mua các thứ như một kẻ si tình mù quáng và không bao giờ cạn túi. Sau khi đầu óc được nhẹ nhõm nhờ cái công việc “vén tay áo xô đốt nhà táng giấy” kia, thì anh chàng trở về câu lạc bộ của trại lính dùng bữa, nóng lòng sốt ruột chờ đợi phút thay đổi lớn lao trong đời mình sắp xảy ra.

Những việc xảy ra hôm trước, cử chỉ đáng phục của Rebecca từ chối một cuộc nhân duyên rất có lợi cho cô, nỗi đau khổ thầm kín đang giày vò cô, và thái độ dịu dàng, kín đáo của cô khi chịu đựng nỗi sầu muộn riêng của mình, tất cả những điều đó khiến cho bà Crawley đối với Rebecca càng thêm trìu mến hơn mọi ngày. Đối với đàn bà con gái thì một câu chuyện thuộc loại này, một việc cưới xin, một chuyện từ hôn hay một việc cầu hôn, bao giờ cũng làm họ sôi nổi và đánh thức tất cả những cảm tình nồng nhiệt nơi họ. Với tư cách là một người quan sát nhân tình thế thái, tôi vẫn hay la cà vào trong nhà thờ St. George ở Quảng trường Hanover suốt trong những mùa cưới. Tôi chưa hề thấy những anh phù rể khóc lóc hoặc thấy những ông thầy cả hoặc thầy dòng đang hành lễ tỏ vẻ cảm động, nhưng thường được thấy những người đàn bà hoàn toàn không có liên quan gì đến cuộc hôn lễ đang tiến hành - nghĩa là những bà mệnh phụ đã quá tuổi lấy chồng lâu lắm rồi, những bà nạ dòng to béo con trai con gái đầy đàn, đó là chưa kể những cô con gái xinh xắn trẻ măng đội mũ trùm màu hồng đang độ “đào tơ sen ngó”, họ quan tâm đến cuộc lễ là dĩ nhiên - tôi nói rằng thường thường những người đàn bà có mặt trong buổi lễ đều khóc nức nở, khóc thút hít, rồi xịt xoạt hỷ mũi và cầm những chiếc khăn tay bé tý rất vô dụng để che kín mặt đi; tất cả, già cũng như trẻ, đều bồi hồi xúc động. Khi anh bạn tôi là John Pimlico cưới cô Belgravia Green Parker xinh đẹp làm vợ, tất cả mọi người đều cảm động quá đến nỗi cái bà lão khịt mũi dẫn tôi đến chỗ ngồi cũng giàn giụa nước mắt. Tôi tự hỏi: “Tại sao thế nhỉ? Bà lão có phải đi lấy chồng đâu mà cũng khóc?”

Nói tóm lại, trước câu chuyện của cụ Pitt, bà Crawley và bà Briggs đang ở trong một tình trạng rất xa xỉ về tình cảm; Rebecca bỗng nhiên được họ hết sức quan tâm săn sóc. Còn khi cô đi vắng, bà Crawley đành tự an ủi bằng cách đọc những cuốn truyện lãng mạn nhất có trong tủ sách vậy. Cô Rebecca bé bỏng với những nỗi đau khổ thầm kín của mình đã trở thành một nhân vật quan trọng.

Tối hôm ấy, Rebecca hát nghe ngọt ngào hơn, và nói chuyện nghe duyên dáng hơn bất cứ bao giờ từ hồi cô đến sống ở Đường công viên. Cô tìm đủ mọi cách uốn éo lấy lòng bà Crawley. Cô vừa cười vừa nói về việc cụ Pitt hỏi cô làm vợ, cứ tự nhiên như không, lại giễu cợt lão là đã già mà còn thích chơi trống bỏi. Lúc cô nói rằng không ao ước gì hơn là được mãi mãi ở lại bên cạnh người ân nhân của mình, thì cô giàn giụa nước mắt; còn trống ngực bà Briggs thì cũng đập thình thình vì xúc động. Bà Crawley nói:

- Cô em thân mến ơi, tôi muốn cô ở đây với tôi mãi mãi, cô có thể yên trí như thế. Câu chuyện kia đã xảy ra rồi, chẳng lẽ cô còn trở về sống với cái ông anh bỉ ổi của tôi à? Cô sẽ ở lại đây với tôi và bà Briggs. Bà ấy thường đi vắng luôn để thăm nom họ hàng. Này, bà Briggs, khi nào cần, bà cứ tha hồ đi, tùy thích. Nhưng còn cô, cô em thân yêu ạ, cô phải ở lại để săn sóc bà lão già nua này chứ.

Giả sử Rawdon đang có mặt ở đây, chứ không phải đang nốc rượu ào ào ở câu lạc bộ nhà binh, có lẽ đôi vợ chồng đã quỳ phăng xuống trước gối bà lão để thú thật mọi việc, chắc sẽ được tha thứ trong chớp mắt. Song cái may mắn đó không đến với cặp vợ chồng trẻ ấy có lẽ cốt để cho tôi được viết cuốn tiểu thuyết này, và được kể bao nhiêu chuyện về họ... những chuyện ấy hẳn không bao giờ xảy ra trong đời họ nếu họ được sống trong sự bao dung che chở của con người dễ tha thứ nhưng nhạt nhẽo là bà Crawley kia.

*

Tại nhà bà Crawley Đường công viên, dưới quyền bà Firkin có một chị con gái làm công, người quận Hamshire; ngoài những công việc khác, chị này hàng ngày còn phải mang một bình nước nóng đến gõ cửa phòng cô Sharp vì Firkin thà chết chứ không bao giờ chịu mang nước hầu kẻ xa lạ ấy. Chị con gái làm thuê này có một người anh trai đi lính trong đơn vị của đại úy Crawley và, không sợ nói sai sự thực, tôi dám cam đoan rằng chị ta nắm được một số chuyện bí mật có liên quan nhiều đến cuốn truyện này. Nói tóm lại, với ba ghi-nê của Rebecca cho, chị ta sắm một tấm khăn quàng màu vàng, một đôi ủng màu xanh, một chiếc mũ nhẹ màu xanh da trời có đính một chiếc lông chim màu đỏ: cô Sharp vốn xưa nay không hào phóng lắm về chuyện tiền nong, vậy mà hậu đãi cho Betty Martin như thế, hẳn chị ta phải giúp cô được nhiều việc.

Ngày thứ hai, tính từ hôm cụ Pitt ngỏ lời cầu hôn với Rebecca, mặt trời vẫn mọc như thường lệ; và đúng giờ như lệ thường, Betty Martin, chị hầu gái chuyên dọn dẹp trên gác, đến gõ cửa phòng cô giáo.

Không có tiếng trả lời; chị lại gõ nữa. Vẫn im lặng như tờ Betty xách bình nước nóng bèn mở cửa, bước vào trong phòng. Chiếc giường nhỏ có nệm bông trắng muốt vẫn phẳng lì và sạch y như tối hôm trước, lúc chính tay Betty trải giường lại. Ở một đầu gian phòng, có hai chiếc vali nhỏ chằng dây cẩn thận; trên chiếc bàn cạnh cửa sổ có một lá thư đặt trên mặt một tấm gối, chiếc gối to, phồng, có kẻ chỉ hồng, mặt gối đan chéo giống chiếc mũ ngủ của một bà già. Có lẽ lá thư được đặt trên đó suốt đêm rồi.

Betty rón rén đi lại, như sợ hãi không dám đánh thức lá thư đang ngủ...Chị ta nhìn lá thư, lại nhìn quanh phòng, có vẻ rất ngạc nhiên mà cũng rất thỏa mãn. Chị cầm lá thư lên vừa mân mê lật đi lật lại, vừa nhoẻn miệng cười mãi; cuối cùng chị ta đem lá thư xuống nhà dưới đưa cho bà Briggs. Vì sao Betty lại biết thư ấy gởi cho bà Briggs, tôi cũng chẳng rõ; vì chị Betty chỉ được theo những lớp học ngày chủ nhật do bà Bute Crawley dạy nên chị ta vẫn mù tịt không đọc được chữ y như đó là chữ Do-thái vậy. Chị hầu gái kêu ầm lên:

- Này, bà Briggs ơi; bà ơi, lại có chuyện rắc rối đây. Trong buồng cô Sharp vắng tanh. Giường vẫn nguyên chưa có ai nằm, mà cô ấy đi đâu mất để lại lá thư gửi cho bà đây này.

Bà Briggs đánh rơi chiếc lược xuống đất, mớ tóc thưa thớt mỏng dính đã bạc xõa xuống vai bà kêu lên:

- Thế nào? Trốn đi theo giai à? Cô Sharp bỏ trốn đi? Có lẽ nào thế được?

Bà lật đật bóc thư và như người ta vẫn nói, “đọc ngấu nghiến” lá thư đề gửi cho bà.

Bà Briggs thân mến (lời người đi trốn); bà là người có tấm lòng rộng lượng nhất đời, bà sẽ thương xót, thông cảm và tha lỗi cho tôi. Tôi rời bỏ nơi đây, nơi kẻ mồ côi đáng thương này được mọi người đối đãi rất dịu dàng trìu mến, mà không sao cầm được nước mắt; và tôi cầu kinh, xin chúa ban ơn cho những người ở lại. Tôi phải tuân theo những quyền lực cao cả hơn cả quyền lực của người ân nhân che chở cho tôi. Tôi phải trở về với bổn phận... trở về với chồng tôi. Vâng, tôi đã có chồng. Chồng tôi ra lệnh cho tôi phải trở về căn nhà tầm thường, nơi từ nay chúng tôi chung sống. Bà Briggs thân thiết nhất đời ơi, xin bà hãy báo tin này cho người bạn thân mến, vị ân nhân của tôi, một cách thật khéo léo; chỉ có người tế nhị giầu từ tâm như bà mới làm được việc ấy. Bà hãy nói rằng trước khi tôi ra đi tôi đã khóc hết nước mắt trên tấm gối thân yêu của bà ấy nơi tôi đã bao lần săn sóc bà lúc đau yếu...và tôi còn ao ước được tiếp tục săn sóc bà như trước nữa...Ôi, tôi sẽ trở về Đường công viên thân yêu với bao nhiêu sung sướng! Tôi run rẩy chờ đợi câu trả lời quyết định vận mệnh của tôi! Khi cụ Pitt hạ cố ngỏ ý muốn lấy tôi làm vợ, đó là một vinh dự mà bà Crawley đã có nói rằng tôi xứng đáng (cầu chúa ban phúc lành cho bà, vì bà đã cho rằng kẻ mồ côi đáng thương này, xứng đáng hàng chị em với bà!) thì tôi trả lời cụ Pitt rằng tôi đã có chồng. Cụ đã tha thứ cho tôi. Song tôi không có đủ can đảm để thú thật cùng cụ tất cả mọi chuyện...tôi không thể nhận lời làm vợ cụ, vì tôi đã là con dâu cụ rồi! Chồng tôi là người đàn ông tốt nhất, rộng lượng nhất trên đời này... Anh Rawdon, cháu trai bà Crawley, chính là chồng tôi. Theo lệnh của chồng tôi, tôi thú thực mọi chuyện, và tôi theo anh ấy trở về căn nhà tầm thường của chúng tôi, cũng như tôi sẵn sàng theo anh ấy đi đến bất cứ nơi nào trên thế giới này! Ôi, người bạn quý báu, thân yêu của tôi ơi, xin bà hãy can thiệp với bà cô của Rawdon, xin tha thứ cho anh ấy và cho tôi là kẻ đã được khắp mọi người trong gia đình quý phái này tỏ lòng vô cùng quý mến. Nhờ bà hãy xin với bà Crawley vui lòng cho phép những đứa con của bà trở lại. Tôi không còn biết nói gì hơn là cầu chúa ban phước lành cho tất cả gia đình.

Người bạn thân thiết và biết ơn bà.

Rebecca Crawley (Nửa đêm).

Bà Briggs vừa đọc xong lá thư lời lẽ cảm động và lý thú này, lá thư có tác dụng trả lại cho bà địa vị người bạn tâm tình thứ nhất của bà Crawley như trước, thì bà Firkin bước vào phòng:

- Bà Bute Crawley vừa theo xe thư từ Hamshire lên, muốn dùng nước trà. Bà xuống nhà làm giúp bữa cơm sáng nhé.

Bà Firkin ngạc nhiên quá vì thấy bà Briggs ôm chặt tà áo quấn quanh bụng, mớ tóc rối bù xõa xuống lưng, mấy cái cặp giấy dùng để uốn tóc vẫn còn đính từng chùm trước trán, sầm sầm tiến về phía mình, tay vẫn cầm lá thư đầy những tin kỳ lạ kia. Chị Betty há hốc mồm ra nói:

- Bà Firkin ơi, chuyện “nạ” quá. Cô Sharp bỏ đi trốn với ông đại úy rồi. Hai người đang trên đường đi Gretney Green!

Lẽ ra chúng tôi phải dành riêng cho cả một chương mới đủ miêu tả sự xúc động của bà Firkin nhưng nỗi tức giận của bà chủ còn đáng chú ý hơn nhiều.

Bà Bute Crawley vừa trải qua một cuộc hành trình ban đêm, tê cóng cả người, đang ngồi sưởi trước lò lửa vừa nhóm trong phòng khách, nghe bà Briggs kể lại cuộc hôn nhân bí mật, bà bảo ngay rằng thật là lòng trời xui khiến nên bà mới đến đây đúng lúc để giúp đỡ bà Crawley thân yêu đáng thương của bà chịu đựng nỗi đau đớn này; bà bảo Rebecca là một con ở xảo quyệt, xưa nay bà vẫn nghi ngờ. Còn đối với Rawdon, thì chưa bao giờ bà hiểu nổi tại sao bà Crawley lại nâng niu anh ta đến mức ấy; từ lâu bà vẫn coi anh ta là một thằng trác táng, hư hỏng, bị Thượng đế ruồng bỏ. Bà Bute còn nói rằng cái việc đốn mạt này ít ra cũng có mặt tốt, vì nó khiến cho bà Crawley mở mắt ra mà thấy rõ bản chất của cái thằng hư đốn ấy. Thế là bà Bute ngồi uống trà, ăn bánh, trong lòng rất thư thái.

Bây giờ trong nhà đã có một buồng bỏ không vắng người ở, bà chẳng cần phải trọ ở khách sạn Gloster - nơi mà chiếc xe thư đỗ lại cho bà xuống - làm gì nữa. Bà ra lệnh cho anh phụ việc bác Bâu đi lấy hòm xiểng va-li của bà mang về.

Bao giờ cũng vậy, cứ đến gần trưa, bà Crawley mới ra khỏi phòng ngủ. Buổi sáng bà thường nằm trên giường mà uống súc cù là trong khi Becky Sharp đọc tờ báo “Tin tức buổi sáng” cho bà nghe, nếu không thì tìm những cách giải trí khác hoặc đi dạo loanh quanh. Mấy người đàn bà dưới nhà bảo nhau đừng làm bà phiền lòng vội, chờ khi nào bà xuống phòng khách hãy báo tin cho bà rõ. Trong khi đó, họ thưa với bà ta rằng có bà Bute Crawley từ Hamshire lên bằng xe thư còn đang trọ ở Gloster gửi lời chào bà Crawley và xin được dùng cơm sáng với bà Briggs. Những lần khác, việc bà Bute đến chơi cũng không khiến bà Crawley vui vẻ nhiều lắm, nhưng lần này bà rất bằng lòng vì sẽ có dịp trò chuyện với bà chị dâu về Crawley phu nhân vừa chết, về việc sửa soạn đưa đám ra sao, và về việc cụ Pitt đột ngột ngỏ lời cầu hôn với Rebecca.

Cho mãi tới lúc bà già đã ngồi bệ vệ thoải mái trong tấm ghế bành riêng của mình kê trong phòng khách, và hai chị em đã theo đúng thủ tục hôn nhau, hỏi thăm nhau xong rồi, thì mấy người đàn bà kín tiếng mới quyết định báo tin bà hay. Ai mà không phải kính phục đàn bà, vì họ có nhiều khóe rất tế nhị, khôn khéo, để sửa soạn cho bạn họ chịu đựng những tin dữ. Trước khi nói rõ chuyện, hai người bạn của bà Crawley đã làm ra vẻ cực kì bí mật đủ khiến cho bà Crawley phải hoài nghi và lo sợ đến một mức độ cần thiết. Bà Bute nói:

- Bà Crawley thân mến ơi, cô ấy từ chối lời cầu hôn của cụ Pitt là vì... là vì cô ấy không thể nào làm khác được.

Bà Crawley đáp:

- Dĩ nhiên phải có một lý do rồi. Cô ấy yêu người khác. Hôm qua, tôi đã nói chuyện ấy với bà Briggs.

Bà Briggs há hốc mồm:

- Yêu người khác? ồ, bà bạn quý ơi, cô ấy có chồng rồi đấy. Phải, có chồng rồi.

Bà Bute cũng phụ họa theo, đoạn cả họ ngồi chắp tay cùng ngó nạn nhân của mình. Bà Crawley hét rầm lên:

- Lúc nào cô ấy về lập tức bảo cô ấy lại đây. Con bé mưu mẹo khốn kiếp. Sao cô ấy lại dám giấu tôi?

- Còn lâu cô ấy mới về đây được. Bà bạn ơi, xin bà đừng ngạc nhiên nhé... cô ấy còn đi vắng lâu kia... cô ấy... cô ấy đã bỏ trốn đi rồi.

Bà gái già nói:

- Trời đất ơi, thế ai pha súc-cù-là cho tôi bây giờ? Cho người đi tìm cô ấy bắt về. Tôi muốn cô ấy quay về đây.

Bà Bute nói:

- Cô ấy trốn đi từ đêm qua, bà ạ.

Bà Briggs cũng nói:

- Cô ấy để lại một phong thư cho tôi. Cô ấy lấy...

- Hãy gượm đã, bà Briggs thân mến ơi, đừng làm cho bà ấy đau khổ...

Bà lão không chồng giận giữ kêu lên:

- Lấy ai, hử?

- Lấy một người có họ với...

Nạn nhân lại kêu lên:

- Cô ấy đã từ chối cụ Pitt rồi cơ mà. Nói mau. Đừng làm tôi phát điên lên nữa.

- Ồ, thưa bà... kìa bà Briggs, đỡ bà ấy hộ một tý... cô ấy lấy Rawdon Crawley đấy.

Bà lão đáng thương gào lên như mất trí:

- Rawdon lấy vợ...Lấy Rebecca...cô giáo dạy trẻ ...không, không...cút hết cả ra khỏi nhà tôi, các bà là đồ ngu, đồ xuẩn. Bà Briggs, bà ngu lắm; bà dám thế à? Các bà a tòng với nhau gây ra chuyện này... chúng nó lấy nhau là tại bà, Martha ạ; bà tưởng rằng tôi sẽ truất món gia tài của nó để cho bà phải không?

- Tôi? Thưa bà, tôi mà đi khuyên một người trong gia đình nhà ta lấy con gái một anh thợ vẽ làm vợ?

- Mẹ cô ấy là con cháu gia đình Montmorency.

Bà già vừa quát lên, vừa dùng hết sức giật mạnh dây chuông.

Bà Bute đáp:

- Mẹ cô ấy là vũ nữ ở rạp Opera; còn cô ấy thì cũng đã từng lên sân khấu, và chưa biết chừng còn làm những nghề tồi tệ hơn thế nữa.

Bà Crawley thét lên một tiếng cuối cùng, ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự. Họ bắt buộc lại khênh bà vào căn phòng riêng bà vừa rời khỏi. Hết cơn ngất này lại tiếp cơn khác.Phải lập tức cử người đi mời thầy thuốc đến. Bà Bute ngồi bên cạnh giữ nhiệm vụ săn sóc thuốc thang. Người đàn bà đáng quý này nói: “Họ hàng thân thích chẳng trông nom săn sóc cho nhau thì còn ai nữa”.

Bà Crawley vừa được khiêng vào phòng riêng của mình, thì một nhân vật khác hiện ra; nhân vật này cũng cần được báo ngay tin Rebecca đi trốn; ấy là cụ Pitt. Bước vào phòng, lão hỏi ngay:

- Becky đâu? Hành lý của cô ấy đâu? Cô ấy phải về trại Crawley Bà chúa với tôi bây giờ đây.

Bà Briggs nói:

- Cụ đã biết tin cô ta bí mật thành hôn chưa?

Cụ Pitt đáp :

- Điều đó dính dáng gì đến tôi? Tôi đã rõ cô ấy có chồng rồi; có gì là lạ đâu? Bảo cô ấy xuống ngay, đừng bắt tôi phải chờ.

Bà Bute lại hỏi:

- Thưa cụ, thế ra cụ chưa biết cô ấy bỏ trốn rồi à? Bà Crawley suýt nữa chết ngất đi khi biết tin cậu Rawdon Crawley đã cưới cô ấy làm vợ.

Lúc lão Pitt nghe tin Rebecca là vợ của con trai lão, lão văng tục một hồi ầm ĩ, kể lại đây cũng chẳng hay ho gì, làm cho bà Briggs tội nghiệp sợ quá, run bắn người lên chuồn ngay ra ngoài. Chúng ta cũng nên khép cánh cửa lại để mặc lão già đang phát rồ phát dại vì căm tức và thất vọng ở trong phòng một mình.

Ngày hôm sau, khi đã trở về trại Crawley Bà chúa, lão như một người điên lùng vào căn phòng Rebecca vẫn ở từ trước, đá tung các hòm xiểng, rũ tung các giấy má, quần áo và mọi đồ kỷ niệm khác của cô ta. Cô Horrocks là con gái bác quản lý vớ được một ít; còn một ít, mấy đứa trẻ đem ra khoác cho nhau, giả vờ đóng kịch. Ấy là người mẹ đáng thương của chúng mới được về nơi an nghỉ cuối cùng có mấy ngày. Bà ta nằm trơ trọi trong nấm mồ, bên cạnh toàn những người xa lạ, chẳng một ai buồn khóc thương.

- Này, nhỡ mụ già không gọi chúng mình về thì sao?

Rawdon hỏi cô vợ bé nhỏ của mình, trong lúc hai vợ chồng đang ngồi chơi với nhau trong căn nhà nhỏ bé ấm cúng ở Brompton. Cả buổi sáng Rebecca đã chơi thử chiếc dương cầm mới. Đôi bao tay mới mua cô đi vừa khít, xinh quá; cô choàng chiếc khăn san nom tôn hẳn vẻ đẹp lên; trên đôi bàn tay, thon thon, mấy chiếc nhẫn sáng lóng lánh; chiếc đồng hồ mới đeo ở dây lưng kêu tích tắc, tích tắc.

- Becky, nhỡ mụ không nghĩ lại thì sao?

- Thì em sẽ xây dựng sự nghiệp cho anh chứ sao.

Rồi Delilah vuốt ve đôi má Samson.

Anh chồng hôn bàn tay xinh xinh của vợ nói:

- Cái gì em cũng làm được. Lạy Chúa, em tài lắm. Bây giờ chúng mình đi xe ngựa đến quán “Huy chương và Bội tinh” rồi dùng cơm ở đấy nhé.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.