Kẻ Mạo Danh

Chương 45



Ông bà Moncrieff được thư ký của vị chủ tịch đưa vào phòng chờ.

“Ngài chủ tịch sẽ tới gặp ông bà ngay,” cô thư ký nói. “Ông bà có muốn dùng cà phê hay trà trong lúc chờ không ạ?”

“Không, cảm ơn cô,” Margaret nói, trong khi chồng bà bắt đầu đi đi lại lại quanh phòng. Bà ngồi xuống một trong số mười sáu chiếc ghế hiệu Charles Rennie Mackintosh kê quanh chiếc bàn dài bằng gỗ sồi, và điều này hẳn đã khiến bà cảm thấy như đang ở nhà. Các bức tường được sơn màu xanh Wedgwood nhạt, treo những bức chân dung sơn dầu toàn thân các đời chủ tịch trước ở mọi khoảng trống có thể, tạo ra một ấn tượng về sự bền vững và thịnh vượng. Margaret không nói gì cho tới khi cô thư ký đã rời khỏi phòng, đóng cửa lại.

“Bình tĩnh nào, Hugo. Điều cuối cùng chúng ta muốn là khiến ông chủ tịch nghĩ chúng ta không chắc chắn về điều anh yêu cầu. Giờ hãy tới đây ngồi xuống.”

“Tất cả đều rất tốt, cô gái già,” Hugo nói, tiếp tục đi đi lại lại, “nhưng đừng quên toàn bộ tương lai của chúng ta phụ thuộc vào kết quả cuộc gặp này.”

“Thêm một lý do nữa anh nên tỏ ra bình tĩnh và chừng mực. Anh phải tỏ ra như thể đến để yêu cầu thứ thuộc về anh một cách hợp pháp,” bà ta nói trong khi cánh cửa ở đầu đối diện của căn phòng mở ra.

Một người đàn ông đã có tuổi bước vào. Mặc dù ông đã hơi còng và phải chống một cây can bằng bạc, vẻ quyền uy của ông rõ ràng đến mức ai cũng có thể nhận ra ngay đây là vị chủ tịch ngân hàng.

“Chúc buổi sáng tốt lành, ông bà Moncrieff,” ông nói, và bắt tay cả hai người. “Tên tôi là Pierre de Coubertinm rất hân hạnh được gặp ông bà,” ông nói thêm. Tiếng Anh của ông hoàn hảo, không hề có chút giọng ngoại quốc. Vị chủ tịch ngồi xuống chiếc ghế ở đầu bàn, kê dưới chân dung của một quý ông cao tuổi có gương mặt không khác gì hình ảnh phản chiếu của ông trong gương, ngoại trừ bộ ria mép rậm màu xám. “Tôi có thể giúp gì cho quý vị?”

“Thực sự rất đơn giản,” Hugo đáp. “Tôi đến yêu cầu nhận lại tài sản thừa kế mà bố tôi để lại cho tôi.”

Trên khuôn mặt của vị chủ tịch không hề có biểu hiện đã nhớ ra điều gì đó. “Liệu ông có thể cho tôi biết tên bố ông được không?” ông hỏi.

“Sir Alexander Moncrieff.”

“Và điều gì khiến ông nghĩ bố ông đã tiến hành giao dịch nào đó với ngân hàng này?”

“Điều đó không hề là bí mật trong gia đình,” Hugo nói. “Ông cụ có nói với cả anh trai Augus của tôi và tôi nhiều lần về mối quan hệ lâu năm của ông với ngân hàng này, và quý ngân hàng, bên cạnh nhiều vai trò khác, chính là người bảo quản bộ sưu tập tem độc nhất vô nhị của ông.”

“Ông có bằng chứng nào để chứng thực cho yêu cầu của mình không?”

“Không, tôi không có,” Hugo nói. “Bố tôi nghĩ viết ra giấy những chuyện như thế là không khôn ngoan, nếu tính đến các luật thuế ở nước chúng tôi, nhưng ông cam đoan với tôi rằng ông biết rõ ý nguyện của bố tôi.”

“Tôi hiểu rồi,” de Coubertin nói. “Có lẽ bố ông đã cung cấp cho ông một số tài khoản?”

“Không hề,” Hugo đáp, bắt đầu cảm thấy hơi sốt ruột. “Nhưng tôi đã được luật sư của gia đình thông báo cho biết về quyền thừa kế của mình, và ông luật sư cam đoan tôi chính là người thừa kế duy nhất của bố tôi sau khi anh trai tôi qua đời, vậy nên ông không có lựa chọn nào ngoài trao lại cho tôi những gì hợp pháp thuộc về tôi.”

“Có thể là như vậy,” de Coubertin xác nhận, “nhưng tôi buộc phải hỏi liệu ông có trong tay bất cứ tư liệu nào chứng thực cho yêu cầu của mình không.”

“Có chứ,” Hugo nói, đặt chiếc cặp lên mặt bàn. Ông ta mở cặp, lấy ra chiếc phong bì vừa mua hôm trước ở Sotheby’s. Ông ta đẩy chiếc phong bì qua bên kia bàn. “Bố tôi đã để lại cho tôi thứ này.”

De Coubertin xem xét hồi lâu chiếc phong bì từng được gửi tới cho ông nội mình. “Thật hấp dẫn,” ông nói, “nhưng nó cũng không chứng minh được rằng bố ông có một tài khoản ở ngân hàng này. Đến đây tốt hơn tôi cần kiểm tra để biết chắc chắn điều đó. Có lẽ quý vị làm ơn vui lòng chờ tôi một lát chăng?” Vị chủ tịch già chậm chạp đứng dậy, cúi chào và rời khỏi căn phòng mà không nói thêm một lời nào.

“Lão ta biết rõ bố anh có làm ăn với ngân hàng này,” Margaret nói, “nhưng vì lý do nào đó lão đang câu giờ.”

***

“Buổi sáng tốt lành, Sir Nicholas,” Fraser Munro lên tiếng chào, đứng dậy từ sau bàn làm việc. “Tôi chắc ông đã có một chuyến đi thoải mái?”

“Đáng ra còn thoải mái hơn nhiều nếu tôi không bị hành hạ bởi ý nghĩ lúc này đây ông chú tôi đang ở Geneva tìm cách tước đoạt tài sản thừa kế của tôi.”

“Hãy yên tâm,” Munro đáp,”theo kinh nghiệm của tôi các chủ ngân hàng Thụy Sĩ sẽ không đưa ra những quyết định hấp tấp đâu. Không, chúng ta sẽ tới Geneva vào thời điểm thích hợp. Nhưng lúc này, chúng ta cần giải quyết một vấn đề trước mắt còn khẩn cấp hơn nhiều vừa xuất hiện.”

“Có phải đó là vấn đề ông cảm thấy không thể bàn qua điện thoại không?” Danny hỏi.

“Chính xác,” Munro nói, “và tôi e rằng tôi không phải là người mang lại tin tốt lành. Chú ông hiện tuyên bố rằng ông nội anh đã làm một bản di chúc thứ hai, chỉ vài tuần trước khi qua đời, trong đó ông đã tước quyền thừa kế của anh và để lại toàn bộ sản nghiệp cho cha anh.”

“Ông có một bản copy của di chúc đó không?” Danny hỏi.

“Có,” Munro đáp, “nhưng vì tôi không hài lòng với bản gửi qua fax, tôi đã tới Edinburgh gặp ông Desmond Galbraith tại văn phòng của ông ta để có thể tận mắt kiểm tra bản gốc.”

“Và kết luận của ông là gì?” Danny hỏi.

“Điều đầu tiên tôi làm là so sánh chứ ký của ông nội ông với chữ ký trên bản di chúc gốc.”

“Và?” Danny hỏi, cố tỏ ra không lo lắng.

“Tôi không dám đoan chắc, nhưng nếu đó là giả mạo, thì là một chữ ký giả mạo rất hoàn hảo,” Munro đáp. “Sau khi kiểm tra sơ qua, tôi cũng không tìm ra thấy điểm sai sót nào về loại giấy cũng như dây ruy băng, tất cả có vẻ đều cùng một loại đã được sử dụng cho bản di chúc đầu tiên ông ta từng thực hiện nhân danh anh.”

“Liệu còn có gì tồi tệ hơn không?”

“Tôi e là vậy,” Munro nói. “Ông Galbraith còn đề cập tới một lá thư dường như của ông nội ông gửi cho bố ông ít lâu trước khi ông mất.”

“Người ta có cho phép ông xem qua không?”

“Có. Lá thư được đánh máy, một điều khiến tôi ngạc nhiên, vì ông nội ông luôn viết tay các bức thư của mình; ông không ưa các loại máy móc. Ông từng mô tả máy chữ như một phát minh quỷ quái sẽ giết chết truyền thống viết chữ đẹp.”

“Lá thư đó nói gì?” Danny hỏi.

“Rằng ông nội ông đã quyết định tước quyền thừa kế của ông, và theo đó ông đã viết một di chúc mới, để lại mọi thứ cho bố ông. Vô cùng thông minh.”

“Thông minh?”

“Phải. Nếu bất động sản được chia cho cả hai người con trai, bức thư sẽ có vẻ đáng ngờ, vì có quá nhiều người biết rõ ông nội ông và chú ông có quan hệ rất tồi tệ trong nhiều năm.”

“Nhưng theo cách này,” Danny nói, “chú Hugo cuối cùng vẫn có được mọi thứ, vì bố tôi đã để lại toàn bộ bất động sản cho ông ta. Nhưng ông đã dùng từ “thông minh”. Chẳng lẽ như vậy có nghĩa là ông nghi ngờ việc liệu ông nội tôi có thực sự viết lá thư đó hay không?”

“Chắc chắn là vậy,” Munro nói, “và không chỉ vì nó được đánh máy. Lá thư được viết trên hai tờ giấy thuộc loại đồ dùng văn phòng cá nhân của ông nội ông, điều này tôi nhận ra ngay, nhưng vì một lý do không thể lý giải được nào đó, trang thứ nhất được đánh máy, trong khi trang thứ hai lại viết tay và chỉ có những từ sau, Trên đây là những ước nguyện cá nhân của bố và bố trông cậy vào hai con để chúng được thực hiện đúng từng chữ, bố yêu quý của các con, Alexander Moncrieff. Trang thứ nhất, chính là trang đánh máy, liệt kê chi tiết các ước nguyện cá nhân đó, trong khi trang thứ hai không chỉ viết tay, mà còn đúng từng chữ so với trang thuộc về bản di chúc đầu tiên. Quả là trùng hợp kỳ lạ.”

“Nhưng hẳn là chỉ riêng điều đó đã đủ làm bằng chứng...?”

“Tôi e là không,” Munro nói. “Dù chúng ta có mọi lý do để tin lá thư là giả mạo, sự thật vẫn là nó được viết ra trên loại giấy riêng của ông nội ông, chiếc máy chữ được sử dụng cũng đúng là loại của ông, và chữ viết tay trên trang thứ hai thì do chính tay ông nội ông viết ra, không nghi ngờ gì nữa. Tôi không tin có tòa án nào trên đất nước này ủng hộ kháng nghị của chúng ta. Và như thể vẫn còn chưa đủ,” Munro nói tiếp, “chú ông đã đâm đơn kiện chúng ta về xâm phạm tài sản cá nhân.”

“Kiện về xâm phạm tài sản cá nhân?” Danny hỏi.

“Không bằng lòng với việc di chúc mới xác nhận ông ta giờ đây là người thừa kế hợp pháp cả bất động sản ở Scotland lẫn ngôi nhà ở The Boltons, chú ông còn yêu cầu ông rời khỏi ngôi nhà trong vòng ba mươi ngày, nếu không ông ta sẽ đưa ra trát tòa yêu cầu thanh toán tiền thuê nhà tương ứng với mức thuê các bất động sản tương tự trong khu vực đó, bắt đàu tính từ ngày anh bắt đầu chuyển tới đó ở.”

“Vậy là tôi đã mất sạch mọi thứ,” Danny nói.

“Không hẳn vậy,” Munro nói. “Mặc dù tôi phải thừa nhận tại đây tình hình có vẻ khá u ám, nhưng nếu nói về Geneva, ông vẫn còn có chiếc chìa khóa. Tôi không nghĩ ngân hàng sẽ vui vẻ trao bất cứ thứ gì thuộc về ông nội ông cho một người không thể đưa ra chiếc chìa khóa.” Ông dừng lại một lát trước khi nói ra câu tiếp theo.”Và có một điều tôi dám đoán chắc. Nếu ông nội ông bị đặt vào tình thế này, ông sẽ không chịu buông xuôi.”

“Và tôi cũng không,” Danny nói. “nếu tôi có khả năng tài chính để theo kiện Hugo. Nhưng ngay cả sau khi bán chiếc phong bì hôm qua, chỉ vài tuần nữa là ông chú tôi có thể thêm trát hầu tòa vì phá sản vào danh sách dài những đòn tấn công chúng ta vốn đã phải chống đỡ.”

Lần đầu tiên trong buổi sáng hôm đó, ông Munro mỉm cười. “Tôi đã lường trước vấn đề này, Sir Nicholas, và chiều hôm qua tôi đã thảo luân với các đối tác của mình về những gì chúng ta nên làm trước tình thế của ông hiện nay.” Ông ho khẽ. “Họ đều thống nhất đưa ra quan điểm rằng chúng tôi cần chung vai sát cánh với một trong những khách hàng lâu đời nhất của mình, và không đưa ra hóa đơn thanh toán nào nữa cho tới khi vụ kiện này kết thúc một cách khả quan.”

“Nhưng nếu chúng ta thua kiện khi ra trước tòa - và tôi cam đoan với ông, ông Munro, là tôi đã có ít nhiều trải nghiệm về những chuyện tương tự - cuối cùng tôi sẽ mãi mãi mắc nợ ông.”

“Nếu chúng ta thua kiện,” Munro đáp, “sẽ không có hóa đơn nào được đưa ra, bởi vì công ty này mãi mãi mang nợ ông nội của ông.”

***

Vị chủ tịch quay trở lại sau vài phút, ngồi lại vào vị trí đối diện với những người có thể là khách hàng của mình. Ông mỉm cười. “Ông Moncrieff,” ông lên tiếng. “Tôi đã có thể xác nhận được Sir Alexander đúng là đã thực hiện một số giao dịch với ngân hàng này. Bây giờ chúng ta cần tìm cách xác nhận tuyên bố của ông là người thừa kế duy nhất với tài sản của bố mình.”

“Tôi có thể cung cấp bất cứ tài liệu nào ngài yêu cầu,” Hugo nói đầy tự tin.

“Trước hết, tôi cần biết liệu ông có mang theo hộ chiếu không, thưa ông Moncrieff?”

“Có chứ,” Hugo trả lời, mở cặp lấy hộ chiếu đưa qua bàn.

De Coubertin mở cuốn hộ chiếu ra, xem xét bức ảnh hồi lâu trước khi trả lại cho Hugo. “Ông có giấy chứng tử của bố ông không?” ông hỏi.

“Có,” Hugo trả lời, lấy ra một tờ giấy khác từ cặp tài liệu và đưa qua bàn.

Lần này vị chủ tịch xem xét cẩn thận hơn một chút trước khi gật đầu và trả lại. “Và ông có mang theo giấy chứng tứ của anh trai mình chứ?” ông hỏi. Hugo đưa tiếp cho ông một tài liệu thứ ba. Một lần nữa de Coubertin lại để thời gian xem xét trước khi trả lại. “Tôi cũng sẽ cần đến di chúc của anh trai ông, để xác nhận anh trai ông đã để lại toàn bộ tài sản cho ông.” Hugo đưa ra bản di chúc, đồng thời đánh dấu vào bản danh sách dài Galbraith đã chuẩn bị trước cho mình.

De Coubertin không nói gì một lúc lâu trong khi xem xét bản di chúc của Angus Moncrieff. “Có vẻ tất cả đều hợp lệ,” cuối cùng ông lên tiếng. “Nhưng quan trọng hơn cả, ông có trong tay di chúc của bố mình không?”

“Tôi không những có thể cung cấp cho ông di chúc và chúc thư cuối cùng của bố tôi,” Hugo nói, “được ký tên và đề ngay sáu tuần trước khi ông qua đời, mà tôi còn có trong tay một bức thư ông viết cho anh Angus và tôi, bức thư được đính kèm vào bản di chúc đó.” Hugo đẩy cả hai tài liệu qua bàn, nhưng de Coubertin không hề động đến bất cứ văn bản nào.

“Và cuối cùng, ông Moncrieff, tôi cần hỏi liệu trong số những thứ được để lại trong chúc thư có một chiếc chìa khóa hay không?”

Hugo ngần ngừ.

“Hầu như chắc chắn là có,” Margaret nói, lần đầu tiên lên tiếng, “nhưng thật không may nó đã bị thất lạc, dù tôi đã nhìn thấy nó nhiều lần trong quá khứ. Đó là một chiếc chìa khóa rất nhỏ, bằng bạc, và nếu tôi nhớ không nhầm, trên đó có dập một con số.”

“Bà có tình cờ nhớ lại được con số đó không, bà Moncrieff?” vị chủ tịch hỏi.

“Đáng tiếc là không,” cuối cùng Margaret đành thừa nhận.

“Trong trường hợp đó, tôi chắc hai vị cũng thông cảm với tình thế tế nhị của ngân hàng,” de Coubertin nói. “Như quý vị có thể hình dung, không có chiếc chìa khóa, chúng tôi ở vào vị thế rất khó xử. Tuy vậy,” ông nói tiếp trước khi Margaret kịp ngắt lời, “tôi sẽ đề nghị một trong số các chuyên gia của chúng tôi xem xét bản di chúc, một việc làm mà tôi chắc hai vị cũng rõ là một thủ tục thông thường trong những trường hợp như thế này. Nếu chuyên gia của chúng tôi xác nhận tính chân thực của di chúc, chúng tôi sẽ chuyển giao lại bất cứ tài sản nào chúng tôi đang nắm giữ dưới ủy thác của Sir Alexander.”

“Nhưng việc đó sẽ mất bao lâu?” Hugo hỏi, hiểu rõ Nick sẽ không mất nhiều thời gian để tìm ra bọn họ đang ở đâu, và đang làm gì.

“Một ngày, nhiều nhất là một ngày rưỡi,” vị chủ tịch trả lời.

“Khi nào chúng tôi có thể quay lại?” Margaret hỏi.

“Để thận trọng, có lẽ là ba giờ chiều mai.”

“Cảm ơn ông,” Margaret nói. “Chúng tôi hy vọng sẽ được gặp lại ông lúc đó.”

De Coubertin tiễn ông bà Moncrieff tới tận cửa trước của ngân hàng mà không nói gì thêm ngoài bình luận về thời tiết.

***

“Tôi đã đặt vé hạng thương gia cho ông trên một chuyến bay của British Airway tới Barcelona,” Beth nói. “Ông sẽ bay từ Heathrow vào tối chủ nhật, và ông sẽ ở tại khách sạn Arts.” Nàng đưa cho ông chủ một cặp hồ sơ chứa tất cả các tài liệu ông sẽ cần cho chuyến đi, bao gồm cả tên của một số nhà hàng được đánh giá cao cùng một cuốn hướng dẫn tìm hiểu thành phố. “Cuộc hội thảo khai mạc lúc chín giờ với bài diễn văn của chủ tịch Quốc tế, Dick Sherwood. Ông sẽ ngồi trên đoàn chủ tịch cùng bảy vị phó chủ tịch khác. Các nhà tổ chức đã yêu cầu ông có mặt ở vị trí của mình lúc tám giờ bốn mươi lăm phút.”

“Trung tâm hội nghị cách khách sạn bao xa?” ông Thomas hỏi.

“Ngay bên kia đường thôi,” Beth nói. “Còn điều gì ông cần biết nữa không?”

“Chỉ một mà thôi,” Thomas trả lời. “Cô có muốn đi cùng tôi không?”

Beth thực sự bất ngờ, một điều Thomas không thường xuyên thành công, và cô thừa nhận. “Tôi vẫn muốn tới thăm Barcelona.”

“Tốt, đây là cơ hội dành cho cô đấy,” Thomas nói, đồng thời dành cho cô một nụ cười ấm áp.

“Nhưng tôi biết làm gì khi ở đó?” Beth hỏi.

“Trước hết, cô có thể giám sát để đảm bảo tôi ngồi vào chỗ đúng giờ sáng thứ hai tuần tới,” Beth không trả lời. “Ngoài ra tôi cũng hy vọng cô có thể thư giãn đôi chút để thay đổi,” Thomas nói thêm. “Chúng ta có thể tới nhà hát opera, tới chiêm ngưỡng bộ sưu tập của Thyssen, xem các sáng tác thời kỳ đầu của Picasso, tới thăm nơi Miró chào đời, và người ta nói với tôi rằng thức ăn...”

Em cũng biết ông Thomas thích em mà. Những lời nói của Danny chợt vang lên, khiến Beth mỉm cười. “Ông thật tử tế, ông Thomas, nhưng tôi nghĩ tốt hơn tôi nên ở lại đây và đảm bảo mọi thứ hoạt động trôi chảy trong khi ông đi vắng.”

“Beth,” Thomas nói, ngồi lại xuống ghế, hai tay khoanh trước ngực, “cô là một cô gái trẻ giỏi giang, xinh đẹp. Cô không nghĩ Danny cũng muốn cô thỉnh thoảng vui vẻ một chút sao? Có Chúa chứng giám, cô đáng được như thế.”

“Ông thật chu đáo, ông Thomas, nhưng tôi vẫn chưa sẵn sàng để nghĩ đến...”

“Tôi hiểu,” Thomas nói, “tất nhiên tôi hiểu. Dù thế nào đi nữa, tôi sẵn lòng đợi đến khi cô sẵn sàng. Cho dù Danny sở hữu điều gì đi nữa, tôi vẫn còn chưa tính toán khoản hoa hồng cần thiết để bảo hiểm cho nó đâu.”

Beth bật cười. “Anh ấy giống như nhà hát opera, các gallery nghệ thuật và loại vang tuyệt vời nhất gộp lại,” nàng trả lời, “và thậm chí ngay cả như vậy ông vẫn chưa bắt kịp Danny Cartwright đâu.”

“Được thôi, tôi không có ý định bỏ cuộc,” Thomas nói. “Có thể tôi sẽ thuyết phục được cô vào năm tới, khi cuộc hội thảo hàng năm được tổ chức, và sẽ đến lượt tôi đóng vai chủ tịch.”

“Caravaggio(1),” Beth khẽ thở dài.

“Caravaggio?”Thomas lặp lại, vẻ khó hiểu.

“Danny và tôi đã lên kế hoạch đi tuần trăng mật ở St Tropez - cho đến khi người bạn cùng phòng giam Nick Moncrieff giúp anh làm quen với Caravaggio. Một trong những điều cuối cùng Danny hứa với tôi trước khi anh ấy chết” - Beth không bao giờ nói ra được hai từ “tự sát” - là anh ấy sẽ đưa tôi tới Rome, để tôi cũng được gặp Signor(2) Caravaggio.”

“Vậy là tôi không còn cơ hội, đúng không?” Thomas nói.

Beth không trả lời.

***

Danny và ông Munro hạ cánh xuống sân bay Geneva ngay tối hôm đó. Sau khi đã hoàn tất thủ tục hải quan, Danny chạy đi tìm taxi. Chuyến đi ngắn vào thành phố kết thúc khi người tài xế dừng xe bên ngoài khách sạn Les Armeurs, tọa lạc trong phần thành phố cũ gần nhà thờ chính - theo đề nghị cá nhân của anh.

Munro đã gọi điện cho de Coubertin trước khi rời văn phòng. Vị chủ tịch ngân hàng đã đồng ý gặp họ vào mười giờ sáng hôm sau. Danny bắt đầu nghĩ rằng ông già này hẳn đang rất khoái trá.

Trong bữa tối, ông Munro - Danny chưa bao giờ, dù chỉ một giây, nghĩ đến chuyện gọi ông là Fraser - cho Sir Nicholas xem qua danh sách các tài liệu mà ông dự kiến sẽ cần thiết cho cuộc gặp sáng hôm sau của họ.

“Liệu chúng ta còn thiếu thứ gì không?” Danny hỏi.

“Tất nhiên là không,” Munro nói. “Tất nhiên, với giả thiết là ông có mang theo chiếc chìa khóa.”

***

Hugo nhấc chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn đầu giường lên. “Gì vậy?”

“Hắn đi tàu đêm tới Edinburgh, sau đó tới Dunbroath,” một giọng nói vang lên ở đầu bên kia.

“Hẳn là để gặp Munro.”

“Tại văn phòng ông ta lúc mười giờ sáng nay.”

“Sau đó nó có quay về London không?”

“Không, hắn và Munro cùng nhau rời văn phòng, đi ra sân bay lên một chuyến bay của British Airway. Có lẽ họ đã hạ cánh cách đây một giờ.”

“Anh có ở trên cùng chuyến bay với bọn họ không?”

“Không,” giọng nói đáp.

“Tại sao không?” Hugo sẵng giọng hỏi.

“Tôi không mang theo hộ chiếu.”

Hugo gác máy rồi nhìn qua phía vợ mình, lúc đó đã ngủ say. Ông ta quyết định không đánh thức vợ dậy.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.