Kẻ Tầm Xương

Chương 32



Sachs và năm sĩ quan khác trong Nhóm Hai chạy vào một con ngõ nóng như điên đã bị những chiếc xe của ESU phong tỏa. Những cây cỏ dại mọc lởm chởm đang ngoi lên khỏi lớp đá cuội và làm nứt nẻ nền móng, sự tiêu điều hoang vắng làm Sachs nhớ lại ngôi mộ bên cạnh đường ray sáng hôm qua.

Anh ta hy vọng nạn nhân đã chết. Vì chính nạn nhân…

Haumann đã ra lệnh cho các sĩ quan leo lên nóc những tòa nhà xung quanh, cô nhìn thấy nòng những khẩu Colt của họ dựng đứng lên như những chiếc ăng ten.

Cả nhóm dừng lại ở cửa sau. Những người đồng sự nhìn cô khi cô kiểm tra những sợi băng cao su đeo trên giày. Cô nghe thấy một người trong số họ thì thầm điều gì đó về sự mê tín.

Sau đó cô nghe thấy trong tai nghe.

“Nhóm trưởng Nhóm Một ở cửa trước, mìn đã cài. Chúng tôi sẵn sàng, nghe rõ.”

“Nghe rõ, nhóm trưởng Nhóm Một. Nhóm Hai?”

“Nhóm Hai, vào vị trí. Nghe rõ?”

“Nghe rõ, nhóm trưởng Nhóm Hai. Hai nhóm, tấn công nhanh. Nghe tôi đếm đến ba.”

Kiểm tra vũ khí lần cuối.

“Một…”

Lưỡi tôi chạm vào một giọt mồ hôi đọng ở vết thương đang sưng trên môi cô.

“Hai…”

Được rồi, Rhyme bọn em vào đây.

“Ba!”

Tiếng nổ nghe rất dịu, một tiếng bốp từ xa, và sau đó các nhóm di chuyển. Nhanh. Cô chạy sau những sĩ quan ESU khi họ luồn vào trong và tản ra, những chiếc đèn pin gắn trên nòng súng quét ngang dọc với những tia sáng chói lóa như ánh sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ. Sachs thấy chỉ có mình cô khi những người còn lại trong nhóm tản ra, kiểm tra tủ, giá quần áo và bóng tối phía sau những bức tượng lố bịch đầy trong căn nhà.

Cô quay vào góc. Một khuôn mặt nhợt nhạt lờ mờ hiện ra. Một con dao…

Tim đập thình thịch. Tư thế sẵn sàng chiến đấu, súng giương cao. Cô ấn mạnh cò súng trước khi cô nhận ra rằng mình đang nhìn vào một bức vẽ trên tường. Một tên đồ tể ghê rợn mặt tròn, một tay cầm dao, tay kia là một miếng thịt.

Người anh em…

Hắn chọn một chỗ tuyệt vời để làm nhà.

Những sĩ quan ESU lộp cộp lên cầu thang, khám xét tầng một và tầng hai.

Nhưng Sachs lại tìm kiếm một thứ khác.

Cô tìm thấy một cánh cửa dẫn xuống tầng hầm. Nó hé mở. Được rồi. Tắt đèn. Phải nhìn qua trước đã. Nhưng cô nhớ lại điều Nick từng nói: không bao giờ ngó vào góc ở tầm đầu hay ngực – đó chính là nơi hắn chờ đợi ta. Quỳ xuống. Hít thật sâu. Nhìn!

Không có gì. Đen ngòm.

Trở lại nơi ẩn nấp.

Lắng nghe…

Đầu tiên cô không nghe thấy gì. Sau đó chắc chắn có tiếng gãi. Tiếng loảng xoảng. m thanh thở gấp gáp hay tiếng khụt khịt.

Hắn đang ở trong đó và đào lối ra!

Cô nói vào mic: “Tôi thấy có động tĩnh dưới tầng hầm. Cần yểm trợ.”

“Nghe rõ.”

Nhưng cô không đợi được. Cô nghĩ đứa bé đang ở dưới đó với hắn. Cô bắt đầu bước xuống cầu thang. Dừng lại và lắng nghe. Sau đó cô nhận ra mình đang đứng với nửa thân dưới hoàn toàn không có bảo vệ. Cô nhảy xuống sàn nhà, tiếp đất với tư thế lom khom trong bóng tối.

Thở sâu.

Còn bây giờ, hành động thôi!

Cây đèn halogen trên tay trái cô xuyên một tia sáng chói lòa khắp căn phòng. Nòng súng nhắm vào giữa chiếc đĩa trắng đang đong đưa từ trái sang phải. Chiếu luồng sáng xuống thấp. Hắn cũng có thể đang lom khom. Nhớ lại điều Nick nói với cô: bọn tội phạm không biết bay.

Chẳng có gì. Không một dấu hiệu của hắn.

“Sĩ quan Sachs?”

Một sĩ quan ESU đang đứng trên đầu cầu thang.

“Ôi, không”, cô lầm bầm khi luồng sáng chạm vào Pammy Ganz, đang cứng người trong góc tầng hầm.

“Đừng di chuyển”, cô nói với người lính đặc nhiệm.

Cách cô bé vài inch là một đàn chó hoang gầy gò, đang hít ngửi mặt, ngón tay, chân của cô bé. Đôi mắt mở to của cô bé nhìn hết con chó này sang con chó khác. Khuôn ngực nhỏ bé của bé phập phồng, nước mắt chan hòa trên mặt. Miệng bé há ra, cái lưỡi nhỏ xinh của nó như thể đã dính chặt vào vành môi bên phải.

“Cứ ở trên đó”, cô nói với người lính đặc nhiệm. “Đừng làm chúng sợ.”

Sachs ngắm nhưng không bắn. Cô có thể giết chết hai, ba con nhưng những con còn lại có thể hoảng loạn và vồ lấy cô bé. Một con thôi cũng có thể bẻ gãy cổ cô bé chỉ bằng một cái lắc đầu.

“Hắn có dưới đó không?” Sĩ quan ESU hỏi.

“Không biết. Anh gọi bác sĩ tới đây. Chỉ đứng ở đầu cầu thang thôi. Đừng ai xuống.”

“Rõ.”

Đầu ruồi súng của cô trượt từ con chó này sang con khác. Sachs chậm rãi tiến lên phía trước. Từng con một, lũ chó cảm nhận được cô và rời khỏi Pammy. Cô bé con chỉ là chút thức ăn; Sachs là thú săn mồi. Chúng gầm gừ, chân trước run rẩy trong khi chân sau duỗi thẳng, sẵn sàng nhảy lên.

“Cháu sợ”, Pammy rít lên, thu hút sự chú ý của lũ chó.

“Suỵt, cháu yêu”, Sachs dỗ dành. “Đừng nói gì cả. Yên lặng nào.”

“Mẹ. Cháu muốn mẹ cháu!” Tiếng gào khóc của cô bé làm lũ chó phát khùng. Chúng nhảy nhót tại chỗ, vung vẫy những cái mũi méo mó sang hai bên, gầm gừ.

“Từ từ, từ từ…”

Sachs bước sang trái. Lúc này lũ chó đối mặt với cô, nhìn từ mắt xuống cánh tay cô đang duỗi ra và khẩu súng. Chúng tách làm hai bầy. Một bầy vẫn ở gần Pammy. Bầy kia đi vòng quanh Sachs, cố tấn công bên sườn cô.

Cô luồn vào giữa cô bé và ba con chó gần nhất.

Khẩu Glock được nâng lên hạ xuống, một con lắc. Những con mắt đen của chúng dán vào khẩu súng đen bóng.

Một con chó vàng ghẻ lở gầm gừ và bước sang bên phải Sachs.

Cô bé con đang thút thít: “Mẹ ơi…”

Sachs di chuyển chậm rãi. Cô cúi xuống, kẹp tay vào áo cô bé và kéo nó ra sau cô. Con chó vàng tiến lại gần hơn.

“Xùy…”, Sachs nói.

Vẫn tiến lại gần hơn.

“Cút đi!”

Những con chó đằng sau con chó vàng căng thẳng khi nó nhe bộ răng vàng lởm chởm.

“Cút con mẹ mày đi!” Sachs gầm lên rồi đập nòng khẩu Glock vào mũi con chó. Con chó chớp mắt vì mất tinh thần, ré lên và chạy lên cầu thang.

Pammy gào lên khiến những con chó khác phát điên. Chúng bắt đầu đánh nhau, tạo ra một cơn lốc xoáy răng và nước bọt. Một con Rottweiler[135] đầy sẹo ném một con chó lai xuống sàn như một búi giẻ đầy bụi ngay trước mặt Sachs. Cô giẫm mạnh chân cạnh vật thể gầy còm màu nâu và nó nhổm lên, chạy vụt lên cầu thang. Những con chó khác đuổi theo nó như lũ chó săn đuổi một con thỏ.

Pammy bắt đầu nức nở. Sachs quỳ xuống cạnh cô bé và dùng cây đèn quét tầng hầm lần nữa. Không có dấu hiệu gì của tên tội phạm.

“Ổn rồi, cháu yêu.Chúng ta sẽ về nhà ngay thôi. Cháu sẽ ổn thôi. Người đàn ông ở đây? Cháu còn nhớ ông ta không?

Cô bé gật đầu.

“Ông ta đi chưa?”

“Cháu không biết. Cháu muốn mẹ.”

Sachs nghe tiếng những sĩ quan khác báo cáo. Tầng một và tầng hai an toàn. “Chiếc xe và chiếc taxi?” Sachs hỏi. “Có dấu hiệu gì không?”

Một người lính nói: “Chúng không có đây. Chắc là hắn đã đi rồi.”

Hắn không ở đó, Amelia. Như thế là phi logic.

Từ trên cầu thang một sĩ quan gọi: “Tầng hầm an toàn chưa?”

Cô nói: “Tôi sẽ kiểm tra, chờ chút.”

“Chúng tôi xuống đây.”

“Không được”, cô nói. “Chúng ta có một hiện trường vụ án khá sạch sẽ và tôi muốn giữ nó được như thế. Chỉ cần đưa nhân viên y tế xuống đây để kiểm tra cô bé.”

Một nhân viên y tế trẻ, tóc màu cát đi xuống rồi quỳ xuống cạnh Pammy.

Chính lúc đó Sachs nhìn thấy một dấu vết dẫn tới phía sau tầng hầm – tới một cánh cửa sắt thấp sơn đen. Cô đi tới đó, tránh không giẫm lên đường để bảo vệ dấu chân, rồi cô quỳ xuống. Cánh cửa khép hờ và có vẻ như có một đường hầm phía bên kia, tối tăm nhưng không hoàn toàn đen kịt, dẫn tới một tòa nhà khác.

Một đường thoát. Thằng khốn.

Cô dùng xương nắm tay trái đẩy cánh cửa mở rộng hơn. Nó không kêu rên rỉ. Cô ngó vào trong đường hầm. Có ánh sáng mờ mờ cách đó hai mươi, ba mươi feet. Không có cái bóng chuyển động nào.

Nếu Sachs nhìn thấy thứ gì trong bóng mờ tối thì đó là thân hình biến dạng của T.J. đang đung đưa trên đường ống màu đen, là cơ thể tròn trịa, yếu ớt của Monelle Gerger lúc con chuột đen trèo lên cổ họng cô ta.

“5885 báo cáo Trung tâm”, Sachs nói vào mic.

“Nói đi, nghe rõ”, Haumann trả lời cộc lốc.

“Tôi thấy một đường hầm dẫn tới một tòa nhà phía nam tòa nhà của thủ phạm. Cho người bọc lót cửa lớn và cửa sổ đi.”

“Sẽ làm, nghe rõ.”

“Tôi sẽ vào”, cô nói với anh ta.

“Vào đường hầm? Chúng tôi sẽ cho người yểm trợ cô, Sachs.”

“Không. Tôi không muốn hiện trường bị ô nhiễm. Chỉ cần cho người để ý đến cô bé.”

“Nói lại xem nào.”

“Không. Không cần yểm trợ.”

Cô tắt đèn và bắt đầu bò.

Tất nhiên trong học viện không có khóa học xử lý chuột cống. Nhưng những điều Nick nói với cô về việc bảo vệ hiện trường không thân thiện quay lại với cô. Giữ súng gần người, không chĩa quá xa, vì có thể sẽ bị đánh bật ra. Ba bước – à, lê chân – tới trước, dừng lại. Nghe ngóng. Thêm hai bước. Dừng lại. Nghe ngóng. Lần sau bốn bước. Đừng làm điều gì có thể đoán trước được.

Quỷ thật, tối quá.

Nhưng mùi gì thế nhỉ? Cô sởn gai ốc vì kinh tởm khi ngửi thấy thứ mùi nóng nực, kinh khủng.

Nỗi sợ bị giam cầm bao lấy cô như một đám khói dầu và cô phải dừng lại một lúc, tập trung vào bất kỳ thứ gì ngoài bức tường. Cơn hoảng loạn trôi qua nhưng mùi thì kinh khủng hơn. Cô nôn khan.

Yên nào, cô bé. Yên nào!

Sachs kiểm soát được phản xạ và đi tiếp.

Tiếng gì thế nhỉ? Thứ gì đó như điện. Tiếng rù rì, dâng lên rồi chìm xuống.

Mười feet nữa là hết đường hầm. Qua ô cửa, cô có thể nhìn thấy một tầng hầm lớn thứ hai. m u, mặc dù không tối như tầng hầm nhốt Pammy. Ánh sáng lọt vào qua một cái cửa sổ nhờn dầu. Cô thấy những hạt bụi bay lượn trong bóng tối.

Không, không được cô bé. Cô giữ súng trước mặt quá xa. Chỉ một cú đánh ra xong. Kéo nó lại gần mặt. Giữ trọng tâm thấp và lùi ra sau! Tay để ngắm bắn, mông giữ thăng bằng.

Cô đến được chỗ ô cửa.

Cô lại nôn khan, cố gắng dập tắt âm thanh.

Hắn có đợi mình không nhỉ?

Thò đầu ra, nhìn thật nhanh. Mày có mũ bảo hiểm. Nó sẽ chống được mọi thứ trừ đạn bọc kim loại hay Teflon, nhớ rằng hắn chỉ có khẩu .32. Súng nữ.

Được rồi. Nghĩ đã. Xem nhìn bên nào trước?

Cẩm nang tuần tra không giúp được gì còn Nick thì không có lời khuyên nào trong lúc này. Tung đồng xu vậy.

Sang trái.

Cô thò đầu ra thật nhanh, nhìn sang trái. Rồi thụt vào đường hầm.

Cô không nhìn thấy gì. Một bức tường trống, bóng tối.

Nếu hắn đứng phía bên kia chắc chắn hắn đã thấy mày và có vị trí nhắm bắn tốt.

Được rồi, kệ mẹ nó. Cứ đi thôi. Nhanh lên.

Khi ta di chuyển…

Sachs nhảy lên.

… chúng không thể bắt được ta.

Cô nặng nề rơi xuống sàn, lăn tròn. Xoay người lại.

Một hình người trốn trong bóng tối trên bức tường bên phải, phía dưới cửa sổ. Nhắm mục tiêu, cô chuẩn bị bắn. Nhưng rồi đông cứng.

Amelia Sachs thở dốc.

Ôi, trời ơi…

Cô không thể rời mắt khỏi thân thể một người phụ nữ bị dựng đứng vào tường.

Từ eo trở lên, cô ta là người gầy gò, tóc màu nâu tối, một khuôn mặt gầy hốc hác, ngực nhỏ, tay xương xẩu. Ruồi bâu kín làn da cô ta – tiếng vù vù mà Sachs đã nghe thấy.

Còn từ eo trở xuống, cô ta…chẳng có gì. Những chiếc xương hông máu me, xương đùi, xương sống, bàn chân…Toàn bộ thịt đã bị hòa tan trong một bể tắm ghê sợ bên cạnh cô ta – một món thịt hầm kinh khủng, màu nâu đậm, những khúc thịt trôi nổi bên trong. Có thể là dung dịch kiềm hay acid. Khói làm mắt Sachs cay sè, trong khi sự khủng khiếp – và cơn giận dữ – sôi sục trong tim cô.

Tội nghiệp…

Sachs xua đuổi một cách vô nghĩa lũ ruồi đang túi bụi bay vào mặt kẻ đột nhập mới.

Cánh tay người phụ nữ đang thư giãn, bàn tay ngửa lên trên như thể cô ta đang trầm tư. Mắt nhắm. Bộ quần áo chạy thể thao đang nằm cạnh cô ta.

Cô ta không phải là nạn nhân duy nhất.

Một bộ xương khác – đã bị lóc sạch thịt – nằm cạnh một cái bể chứa tương tự, cũ hơn, không còn chất acid kinh khủng nhưng bị bao bọc bởi lớp cặn máu và thịt đen sì. Bộ xương không có cẳng tay và cánh tay. Và đằng sau nó là một bộ xương khác – nạn nhân này bị chặt nhỏ, những cái xương bị lóc thịt kỹ lưỡng, rửa sạch và đặt cẩn thận trên sàn. Một chồng giấy ráp được xếp cạnh xương sọ. Những đường cong tao nhã của cái đầu bóng loáng lên như một chiếc cúp.

Rồi cô nghe thấy ở phía sau.

Một hơi thở. Mờ nhạt nhưng không thể nhầm lẫn. Tiếng khò khè của không khí sâu trong họng.

Cô quay lại, tự giận dữ với bản thân vì sự bất cẩn của mình.

Chỉ có tầng hầm trống rỗng nhìn cô. Cô quét tia sáng trên sàn nhà bằng đá, vì vậy không hiện dấu chân rõ như nhà của 823 bên cạnh.

Một hơi thở nữa.

Hắn ở đâu? Ở đâu?

Sachs khom người xuống thấp hơn, chiếu tia sáng sang bên, lên xuống… Không có gì cả.

Hắn ở chỗ chết tiệt nào nhỉ? Đường hầm khác? Một lối thoát ra phố?

Cô nhìn xuống nền nhà một lần nữa và phát hiện một thứ mà cô nghĩ là dấu vết mờ nhạt dẫn vào vùng bóng tối của căn phòng. Cô đi theo nó.

Dừng lại. Nghe ngóng.

Hơi thở?

Có. Không.

Cô quay lại một cách ngu ngốc, nhìn lần nữa vào người phụ nữ đã chết.

Nào!

Quay lại nhìn lần nữa.

Đi dọc nền nhà.

Chẳng có gì. Làm sao mình nghe thấy nhưng không thể nhìn thấy hắn?

Bức tường phía trước cô kín mít. Không có cửa hay cửa sổ. Cô lùi lại, về phía những bộ xương.

Từ đâu đó, lời nói của Rhyme quay lại với cô. “Hiện trường vụ án có ba chiều.”

Bất thình lình Sachs nhìn lên, chiếu tia sáng trước mặt cô. Hàm răng của một con chó giống Doberman[136] khổng lồ phản xạ ánh sáng về phía cô – những miếng thịt màu xám đong đưa. Cách đó khoảng hai feet trên bờ tường cao. Nó đang chờ đợi cô, như một con mèo hoang.

Trong một khắc, không ai động đậy. Hoàn toàn chết cứng.

Sau đó Sachs cúi đầu xuống theo bản năng. Trước khi cô kịp giương súng, nó lao mình vào mặt cô. Hàm răng của nó cắn vào chiếc mũ. Ngậm chặt sợi dây trong miệng, nó giật điên cuồng, những muốn bẻ cổ cô khi họ cũng ngã xuống, bên cạnh cái thùng đựng đầy acid. Khẩu súng bay khỏi tay cô.

Con chó vẫn giữ chặt mũ bảo hiểm của cô trong khi chân sau của nó nhảy lên, hai hàm răng thọc sâu vào áo giáp, vào bụng và vào đùi cô. Cô đấm nó thật mạnh nhưng nó giống như một khúc gỗ trì độn; nó không hề cảm thấy cú đánh.

Thả chiếc mũ bảo hiểm ra, nó lùi lại, sau đó lao vào mặt cô. Cô đấm tay trái vào mắt nó khi nó ngoạm cánh tay cô. Cô cảm thấy những chiếc răng kẹp vào da mình, cô lôi con dao gấp trong túi ra và thọc vào xương sườn con chó. Một tiếng tru chói tai, nó lăn ra khỏi người cô và lao thẳng ra cửa.

Sachs nhặt khẩu súng ngắn và ngay lập tức đuổi theo nó, quờ quạng chạy trong đường hầm. Cô lao ra ngoài để nhìn thấy con thú đang lao thẳng tới chỗ Pammy và nhân viên y tế, anh này đang đứng chết cứng khi nhìn thấy con Doberman lao lên không trung.

Sachs quỳ xuống bắn hai phát. Một phát trúng đầu con chó, phát thứ hai đập vào bức tường gạch. Con chó ngã vật xuống thành một đống thịt run rẩy dưới chân nhân viên y tế.

“Tiếng súng”, cô nghe thấy tiếng nói trong bộ đàm và khoảng nửa tá lính đặc nhiệm lao xuống cầu thang, kéo con chó ra và dàn hàng quanh cô bé.

“Được rồi!” Sachs la lớn. “Là tôi đấy.”

Nhóm đặc nhiệm đứng lên.

Pammy đang la hét: “Con chó chết rồi… Cô ấy giết nó.”

Sachs cất súng và nhấc cô bé lên hông mình.

“Mẹ ơi!”

“Cháu sẽ gặp mẹ ngay thôi”, Sachs nói. “Các cô sẽ gọi cho mẹ cháu ngay.”

Lên trên cầu thang, cô đặt Pammy xuống sàn và quay sang một sĩ quan ESU đang đứng gần đó. “Tôi đánh mất chìa khóa còng rồi. Anh làm ơn tháo cho cô bé, được chứ? Mở nó ra một tờ báo sạch, gói nó vào giấy và cho tất cả vào một cái túi nhựa.”

Viên sĩ quan đảo mắt. “Nghe này người đẹp, đi tìm lính mới mà ra lệnh.” Anh ta bước ra chỗ khác.

“Anh lính”, Bo Haumann quát, “anh sẽ làm những gì cô ấy nói.”

“Thưa ngài”, anh ta chống trả, “tôi là lính đặc nhiệm.”

“Tin mới đây”, Sachs lầm bầm, “bây giờ anh là dân khám nghiệm hiện trường.”

Carol Ganz nằm trong phòng ngủ màu be rất đậm, nhìn lên trần nhà, nghĩ tới thời gian khoảng vài tuần trước khi cô, Pammy và nhóm bạn ngồi quanh đám lửa trại ở Winsconsin tại nhà của Kate và Eddie, nói chuyện, kể chuyện, hát.

Giọng của Kate không hay lắm, nhưng Eddie thì có thể trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Anh ấy chơi được ghita. Anh ấy hát bài Tapestry của Carole King cho mình cô nghe và Carole vừa thì thầm hát vừa khóc. Cô nghĩ, có thể, chỉ là có thể thôi, cô đã thực sự để cái chết của Ron lại phía sau và tiếp tục cuộc sống của mình.

Cô nhớ tới giọng của Kate đêm đó: “Khi ta giận dữ, cách duy nhất để xứ lý nó là gói nó lại và quẳng đi. Đưa nó cho ai đấy. Cậu có nghe thấy không? Đừng giữ nó bên trong cậu. Cho nó đi.”

Lúc này cô đang giận dữ. Điên cuồng.

Một đứa trẻ – một thứ rác rưởi không có suy nghĩ – đã lấy mất chồng cô, bắn vào lưng anh. Còn bây giờ, một thằng điên nào đó đã bắt con gái cô. Cô những muốn nổ tung. Cô đã phải dùng toàn bộ ý chí để không cho phép mình ném các thứ vào tường và tru lên như chó sói.

Cô nằm trên giường và thận trọng đặt cổ tay bị gãy của mình lên bụng. Cô đã uống Demerol, nó giúp giảm đau nhưng cô không thể ngủ được. Cô không làm gì ngoài việc ở trong nhà cả ngày, cố gắng liên lạc với Kate và Eddie, chờ tin tức của Pammy.

Cô cứ hình dung ra Ron, hình dung ra cơn giận của cô, thực sự hình dung cô đang cho nó vào trong một cái hộp, gói ghém cẩn thận, đóng dấu…

Rồi điện thoại reo vang. Cô nhìn nó một lát rồi nhấc máy.

“Tôi nghe.”

Carole lắng nghe một nữ cảnh sát nói với cô là họ đã tìm thấy Pammy, rằng con bé đang trong bệnh viện nhưng nó ổn. Một lát sau, Pammy nói vào điện thoại và cả hai cùng vừa khóc vừa cười.

Mười phút sau, cô đã trên đường đến bệnh viện Manhattan, ngồi ở ghế sau một chiếc xe cảnh sát màu đen.

Thực sự là Carole đã chạy hết tốc lực theo hành lang dẫn tới phòng Pammy và thấy ngạc nhiên khi bị một cảnh sát đứng gác chặn lại. Như vậy là họ vẫn chưa bắt được thằng khốn ấy ư? Nhưng cô chỉ cần nhìn thấy con gái mình, cô đã quên hắn ta, quên nỗi sợ hãi khi ở trong chiếc taxi và cái tầng hầm ghê rợn. Cô vòng tay ôm đứa con gái bé bỏng của mình.

“Ôi, con yêu, mẹ nhớ con! Con ổn chứ? Ổn cả chứ con?”

“Cô ấy, cô ấy giết con chó…”

Carole quay lại và nhìn thấy một người nữ cảnh sát cao, tóc đỏ đang đứng gần đó, người đã cứu cô ra khỏi tầng hầm của nhà thờ.

“… nhưng không sao vì nó muốn ăn thịt con.”

Carole ôm lấy Sachs: “Tôi không biết phải nói gì… Tôi chỉ… Cảm ơn cô. Cảm ơn cô.”

“Pammy ổn rồi”, Sachs quả quyết với cô. “Vài vết xước… không có gì nghiêm trọng… và con bé bị ho một chút.”

“Bà Ganz?” Một thanh niên vào phòng, đem theo vali và chiếc ba lô màu vàng của cô. “Tôi là thám tử Banks. Chúng tôi có hành lý của bà ở đây.”

“Ôi, ơn Chúa.”

“Có bị mất gì không?” Anh ta hỏi cô.

Cô nhìn cẩn thận chiếc ba lô. Tất cả các thứ đều ở đó. Tiền, con búp bê của Pammy, gói đất nặn, bồ đồ chơi Mr. Potato Head, đĩa CD, cái đài đồng hồ… Hắn chẳng lấy gì cả. Từ từ đã…” Anh biết không, tôi nghĩ là có mất một tấm hình. Tôi không chắc lắm. Tôi nghĩ tôi có nhiều hơn thế này. Nhưng các thứ quan trọng thì ở đây cả.”

Viên thám tử đưa cô ký vào tờ biên lai.

Một bác sĩ nội trú trẻ tuổi vào phòng. Anh ta đùa với Pammy về con gấu Pooh của con bé trong lúc đo huyết áp.

Carole hỏi anh ta: “Khi nào thì chúng ta đi được?”

“À, chúng tôi chỉ giữ cháu ở đây vài ngày. Chỉ để đảm bảo rằng….”

“Vài ngày? Nhưng con bé ổn mà.”

“Con bé hơi bị viêm phế quản nên tôi muốn theo dõi. Và…”, anh ta hạ giọng. “Chúng tôi cũng có một chuyên gia về chuyện lạm dụng. Chỉ để chắc chắn hơn.”

“Nhưng ngày mai con bé phải đi với tôi. Đến những buổi lễ của Liên Hiệp Quốc. Tôi đã hứa với nó rồi.”

Người nữ cảnh sát nói thêm: “Tốt hơn là để con bé được bảo vệ ở đây. Chúng tôi vẫn chưa biết thủ phạm – tên bắt cóc – ở đâu. Chúng tôi sẽ cử một sĩ quan trông cháu.”

“Vậy thì chắc là được. Tôi có thể ở lại với cháu một lúc, được không?”

“Chắc chắn rồi”, bác sĩ nội trú nói. “Chị có thể ở lại qua đêm. Chúng tôi sẽ đem một chiếc giường trẻ em đến.”

Sau đó Carole được ở một mình với con gái. Cô ngồi xuống giường và vòng tay quanh đôi vai hẹp của con bé. Cô có một chút khó chịu khi nhớ lại hắn, tên điên khùng ấy, đã chạm vào Pammy như thế nào. Ánh mắt của hắn khi hắn hỏi cô xem liệu hắn có được lột da cô hay không… Carole sởn gai ốc và bắt đầu khóc.

Pammy là người đưa cô trở lại thực tại. “Mẹ ơi, kể chuyện cho con nghe… Không, không, hát bài gì đó cho con nghe. Hát bài hát bạn bè đi mẹ. Làm ơn mà!”

Lấy lại bình tĩnh, Carole hỏi: “Con muốn nghe bài đấy à?”

“Vâng ạ!”

Carole đặt con bé vào lòng mình, bắt đầu hát bài You’ve got a friend bằng cái giọng khàn khàn. Pammy hát theo cô từng đoạn.

Đó là một trong những bài hát ưa thích của Ron và mấy năm qua, từ khi anh mất, cô không thể nghe hết vài đoạn trong bài hát mà không ứa nước mắt.

Ngày hôm nay, cô và Pammy đã cùng nhau hát hết bài hát này, khá đúng nhạc, mắt ráo lệ và cười vui.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.