Khi Lỗi Thuộc Về Những Vì Sao

Chương 14



Trên chuyến bay về, khi chúng tôi đang ở độ cao khoảng ba ngàn sáu trăm thước trên những đám mây mây cách mặt đất ba ngàn thước, anh Gus bảo, “Anh từng nghĩ sống trên mây rất vui.”

“Ừ đúng rồi,” tôi hào hứng. “Giống như sống trong nhà phao, nhưng không phải lúc nào cũng thế.”

“Nhưng rồi có một hôm trong tiết khoa học hồi cấp hai, thầy Martinez hỏi xem ai trong lớp từng mơ được sống trên mây, và cả lớp đều giơ tay. Sau đó, thầy Martinez thủng thỉnh bảo với bọn anh rằng ở độ cao trên đây gió thổi hơn một trăm năm mươi dặm một giờ, nhiệt độ là âm ba mươi độ, hoàn toàn không có ô-xy và khi ở trên mây tất cả chúng ta sẽ chết trong vòng vài giây.”

“Ông thầy nghe có vẻ ‘lành tính’ dữ ha!”

“Thầy ấy là dũng sĩ diệt giấc mơ đó Hazel Grace. Để anh kể em nghe. Em nghĩ núi lửa có tuyệt không? Thế có còn tuyệt nữa không khi nó đã chôn vùi mười ngàn người tại thành cổ Pompeii. Em vẫn thầm tin rằng thế giới này là do phép thuật tạo ra? Đó chỉ là các phân tử không có linh hồn va vào nhau một cách ngẫu nhiên thôi. Em có lo lắng xem ai sẽ chăm sóc mình nếu ba mẹ em mất đi không? Em cũng nên nghĩ đến việc đó đi, vì trước sau gì họ cũng bị dòi ăn thôi.”

“Đôi khi không biết nhiều mà lại hay,” tôi nói.

Một tiếp viên đẩy xe nước giải khát đi ngang qua, liên tục hỏi khẽ, “Quý khách dùng nước không ạ? Quý khách dùng nước không ạ? Quý khách dùng nước không ạ? Quý khách dùng nước không ạ?” Gus chồm qua người tôi, giơ tay hỏi, “Vui lòng cho chúng tôi ít sâm-banh.”

“Cậu đủ hai mươi mốt tuổi chưa?” chị hỏi đầy nghi ngờ. Tôi đưa tay chỉnh lại đầu phun ô-xy trong mũi một cách lộ liễu. Chị tiếp viên mỉm cười, sau đó liếc nhìn Mẹ tôi đang ngủ say. “Bà sẽ không thấy phiền chứ?” chị hỏi.

“Không đâu,” tôi trấn an chị.

Nghe thế chị bèn rót rượu sâm-banh vào hai chiếc ly nhựa. Đặc Quyền của Bệnh Nhân Ung Thư mà!

Anh Gus và tôi cụng ly, “Chúc mừng em!” anh nói.

“Chúc mừng anh!” Tôi nói, chạm ly vào ly anh.

Chúng tôi nhấm nháp. Cảm giác không chếnh choáng nhiều sao bằng sâm-banh ở Nhà hàng Oranjee, nhưng vẫn uống được.

“Em biết không,” anh Gus nói với tôi, “tất cả mọi điều ông Van Houten nói đều là sự thật.”

“Cũng có thể, nhưng ông ấy không cần hằn học về mọi chuyện như vậy. Em không tin là ông ta đã tưởng tượng ra tương lai cho chú Chuột Hamster Sisyphus mà không hề nghĩ đến mẹ của Anna.”

Anh Augustus nhún vai. Đột nhiên anh có vẻ hơi xao lãng. “Anh ổn chứ?” Tôi hỏi.

Anh lắc đầu thật khẽ. “Đau,” anh đáp gọn lỏn.

“Ngực à?”

Anh gật đầu, nắm chặt bàn tay. Sau này, anh mô tả cơn đau như thể có một ông béo một chân mang giày cao gót đứng ngay chính giữa ngực anh. Tôi gập khay để thức ăn trở lại lưng ghế trước, khóa lại rồi cúi xuống lục tìm thuốc trong ba lô của anh. Anh nốc một viên với rượu sâm-banh. “Ổn chưa anh?” Tôi hỏi lại lần nữa.

Anh Gus ngồi yên, đấm đấm vào tay vịn, rang chờ cho thuốc phát huy tác dụng, loại thuốc không giảm đau mà cũng chẳng giúp anh thoát khỏi cơn đau tái phát (và thoát khỏi cả tôi nữa).

“Toàn bộ câu chuyện hơi mang tính cá nhân,” anh Gus yếu ớt nói. “Giống như ông ấy giận chúng ta vì một lý do riêng tư nào đó. Cái ông Van Houten ấy!” Anh uống ừng ực hớp rượu còn lại trong ly và nhanh chóng ngủ thiếp đi.

Ba tôi đã chờ sẵn trong khu trả hành lý, giữa một rừng tài xế limo sang trọng trong bộ suit đường hoàng đang giơ đủ loại bảng tên đón khách: JOHNSON, BARRINGTON, CARMICHAEL. Ba cũng có một bảng hiệu của riêng ông thiết kế. GIA ĐÌNH THN THƯƠNG CỦA TÔI, bên dưới còn ghi thêm (VÀ GUS).

Tôi ôm chầm lấy Ba, và ông sụt sịt khóc (dĩ nhiên). Trên đường về nhà, anh Gus và tôi thi nhau kể chuyện Amsterdam cho ông nghe. Nhưng mãi đến khi tôi về đến nhà, nối dây vào máy Philip, thong thả vừa xem kênh truyền hình Mỹ trên mạng với Ba vừa ăn pizza Mỹ (chúng tôi để thẳng miếng pizza trên khăn ăn xếp trong lòng), tôi mới có dịp nói với ông về chuyện anh Gus.

“Bệnh tình của anh Gus tái phát,” tôi kể ông nghe.

“Ba biết,” ông đáp. Ông nhích qua chỗ tôi và nói thêm: “Trước chuyến đi mẹ thằng bé có nói cho Ba Mẹ biết. Ba xin lỗi vì thằng bé đã không cho con biết. Ba… Ba xin lỗi con, con gái à.” Tôi không nói gì trong một lúc lâu. Chúng tôi đang xem chương trình lựa chọn ngôi nhà ưng ý mà những người tham gia sẽ mua. “À, Ba có đọc cuốn Nỗi đau tột cùng trong lúc hai mẹ con vắng nhà,” Ba nói.

Tôi quay đầu nhìn Ba. “Ồ, tuyệt quá. Vậy Ba thấy sao?”

“Truyện hay. Hơi khó hiểu với Ba. Con hãy nhớ rằng Ba là dân hóa sinh, chứ không phải dân chuyên văn. Ba ước gì truyện có đoạn kết”

“Dạ,” tôi nói. “Ai cũng phàn nàn như thế.”

“Truyện cũng hơi tuyệt vọng,” ông nói thêm. “Hơi mang tư tưởng chủ bại.”

“Nếu Ba nói chủ bại có nghĩa là trung thực thì con đồng ý.”

“Ba không nghĩ tư tưởng chủ bại là trung thực,” ông trả lời. “Ba từ chối chấp nhận định nghĩa đó.”

“Vậy mọi việc xảy ra đều có nguyên do cả và chúng ta đều sẽ sống trên mây, trong những dinh thự nguy nga và suốt ngày chỉ biết chơi đàn hạc thôi à?”

Ba mỉm cười. Ông vòng cánh tay hộ pháp ôm tôi và hôn lên đầu tôi. “Ba không biết mình tin tưởng điều gì, Hazel à. Ba từng nghĩ khi đã trưởng thành, người ta sẽ biết rõ mình tin tưởng những gì, nhưng đến nay Ba vẫn chưa biết con ạ.”

“Dạ,” tôi đáp. “Thôi được rồi.”

Ba lấy làm tiếc với tôi lần nữa về chuyện anh Gus, và sau đó chúng tôi quay lại xem chương trình, những người tham gia đã chọn được một ngôi nhà ưng ý. Tay Ba vẫn vòng ôm tôi, còn tôi cũng bắt đầu lơ mơ ngủ, nhưng tôi chưa muốn đi ngủ lúc này. Chợt Ba bật thốt: “Con biết Ba tin gì không? Ba nhớ hồi đại học, Ba đã đăng ký học toán, một lớp toán thực sự tuyệt vời do một cô giáo nhỏ con đứng lớp. Khi ấy cô đang giảng về thuật toán biến đổi Fourier nhanh thì cô chợt dừng giữa chừng và nói, ‘Đôi khi có vẻ như vũ trụ muốn được chú ý.’

“Đó là những gì Ba tin. Ba tin rằng vũ trụ này muốn được chú ý. Ba nghĩ rằng vũ trụ hơi thiên về ý thức, và nó chỉ tán dương trí thông minh phần nào bởi còn mải thích thú việc người khác quan sát vẻ thanh lịch của nó. Và Ba là ai kia, chỉ là một người sống trong một giai đoạn lịch sử, quá ngắn ngủi để có thể nói với vũ trụ rằng sự quan sát đó - chính xác hơn là sự quan sát của Ba - chỉ mang tính tạm thời.”

Một hồi sau tôi nhận xét, “Ba quả là một người thông minh!”

“Con quả là một người giỏi nhận xét,” ông trả lời.

Buổi chiều hôm sau, tôi lái xe qua nhà anh Gus và ăn bánh mì sandwich, bơ đậu phộng và mứt với ba mẹ anh và kể cho họ nghe chuyện ở Amsterdam trong khi anh ngủ trên xô-pha phòng khách, nơi chúng tôi từng xem phim V for Vendetta. Từ nhà bếp tôi chỉ thấy thấp thoáng dáng anh: Anh nằm ngửa, đầu quay ngược hướng tôi, và đã được đặt ống thông nội tĩnh mạch PICC. Họ đang tấn công ung thư bằng một công thức pha chế thuốc mới. Hai loại thuốc hóa trị và một loại hấp thụ protein mà họ hy vọng sẽ vô hiệu hóa gen đột biến gây bệnh ung thư trong cơ thể anh. Anh Gus thật may mắn mới có tên trong danh sách thử nghiệm, ba mẹ anh chia sẻ với tôi. May mắn ư? Tôi biết một trong các thuốc đó. Chỉ nghe tên thôi cũng đủ làm tôi muốn nôn mửa.

Một lúc sau, mẹ anh Isaac đưa anh sang chơi.

“Chào anh Isaac, em là Hazel từ Hội Tương Trợ đây, không phải cô bạn gái cũ trời ơi của anh đâu.” Mẹ anh dắt anh đi về phía tôi. Tôi nhấc người khỏi ghế và ôm chầm lấy anh, trong khi anh mất một chốc mới tìm thấy tôi. Anh ghì chặt tôi.

“Amsterdam thế nào?” Anh hỏi.

“Tuyệt cú mèo!” Tôi trả lời.

“Waters,” anh gọi. “Mày đâu rồi, người anh em?”

“Anh ấy đang ngủ,” tôi trả lời, và giọng tôi không giấu được. Isaac lắc đầu một cách buồn bã trong khi tất cả mọi người đều im lặng.

“Chết tiệt!” Isaac thốt lên sau một giây. Mẹ anh dắt anh đến ngồi xuống một chiếc ghế cô vừa kéo ra.

“Tao vẫn có thể hạ đẹp mày trong trò Chống phiến loạn đó nhé,” anh Augustus nói mà không quay đầu nhìn chúng tôi. Giọng anh có phần chậm hơn dưới tác dụng của thuốc, nhưng nhờ vậy anh mới nói với tốc độ của người bình thường.

“Tao cá tất cả bọn đần đều bị mù,” anh Isaac vừa trả lời vừa quơ tay trong không khí hòng tìm mẹ anh. Cô nắm lấy tay anh, kéo anh đứng dậy và dẫn anh đi về phía chiếc xô-pha. Hai anh chàng vụng về ôm nhau. “Mày thấy trong người thế nào?” Anh Isaac hỏi thăm.

“Miệng tao lúc nào cũng đắng nghét. Nhưng ngoài chuyện bực mình đó ra thì bạn mày đang ngồi trên một chiếc tàu lượn siêu tốc mà chỉ thẳng hướng đi lên, hiểu chưa cu,” anh Gus đáp khiến anh Isaac cười ngất. “Thế mắt mày sao rồi?”

“Ồ, tuyệt vời,” anh nói. “Ý tao là giờ tao không để tâm đến chuyện mắt mũi nữa.”

“Nghe hay đó, ừ, phải thế chứ,” anh Gus bảo. “Không phải có ý chơi trội mày hay gì đâu nhưng người tao giờ toàn là tế bào ung thư.”

“Tao có nghe nói,” anh Isaac đáp, cố không để cho câu chuyện ảnh hưởng đến anh. Anh mò mẫm tìm tay anh Gus nhưng kết quả lại sờ trúng đùi anh ấy.

“Tao đang vào thuốc,” anh Gus cho biết.

Mẹ anh Isaac mang ra hai chiếc ghế trong phòng ăn cho anh Isaac và tôi ngồi cạnh anh Gus. Tôi nắm lấy tay anh Gus, mân mê chỗ hõm giữa ngón cái và ngón trỏ của anh.

Người lớn kéo nhau xuống tầng hầm, chắc cùng chia sớt nỗi buồn hay gì đó với nhau, để lại ba đứa chúng tôi trơ trọi trong phòng khách. Sau một lúc, anh Augustus quay đầu về phía chúng tôi, vẫn chưa tỉnh ngủ hẳn. “Monica sao rồi mày?” anh hỏi.

“Lặn mất tăm!” Anh Isaac đáp. “Không email, không thiệp thiếc gì hết. Tao có cái máy này đọc hộ email cho tao, cũng hay phết. Tao có thể đổi giọng nam hay nữ, hoặc chọn giọng theo vùng miền, hoặc mấy trò linh tinh khác.”

“Vậy tao có thể gửi cho mày một câu chuyện khiêu dâm và mày sẽ chỉnh giọng một ông già người Đức đọc cho mày nghe phải không?”

“Chính xác,” anh Isaac nói. “Nhưng mẹ tao vẫn còn giúp tao chỉnh máy, nên gượm đã. Hãy để câu chuyện khiêu dâm qua chất giọng Đức này chờ thêm một hoặc hai tuần nữa đã.”

“Chị ấy thậm chí chẳng nhắn tin hỏi thăm tình hình sức khỏe của anh à?” Tôi hỏi. Tôi thấy chuyện này như một hành động bất công không thể chấp nhận được.

“Hoàn toàn ngoài vùng phủ sóng,” anh Isaac nói.

“Buồn cười vậy!” Tôi không khỏi lấy làm bất bình.

“Anh đã thôi không suy nghĩ về chuyện đó nữa. Thú thật là anh không có thời gian để gặp gỡ bạn gái. Giờ anh có một công việc chiếm toàn thời gian là Học Cách Làm Người Mù.”

Anh Gus lại quay đầu đi, chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ về phía sân sau. Anh nhắm mắt lại.

Anh Isaac hỏi tôi khỏe không và tôi đáp rằng tôi vẫn khỏe. Anh kể cho tôi nghe về một cô gái mới tham gia Hội Tương Trợ có giọng nói rất quyến rũ. Và anh cần tôi đi theo để nói với anh xem liệu cô ấy có thật sự quyến rũ không. Thế rồi đột nhiên anh Augustus bảo, “Người ta không thể không liên hệ với bạn trai cũ của mình sau khi anh ta bị múc cặp mắt ra như vậy.”

“Chỉ là một trong những-” An Isaac mở miệng định nói.

“Hazel Grace, em có bốn dollar ở đó không?” Anh Gus hỏi ngang.

“Dạ có,” tôi ngơ ngác đạp. “Chi vậy anh?”

“Hay lắm. Em tìm giùm cái chân giả của anh ở dưới bàn cà phê,” anh chỉ. Anh Gus chống người ngồi thẳng dậy và nhích xuống cuối ghế xô-pha. Tôi đưa cho anh cái chân giả và anh chậm chạp gắn nó vào.

Tôi giúp anh đứng lên và chìa một tay cho anh Isaac vịn, rồi dẫn anh đi tránh đồ nội thất trong phòng khi đột nhiên chúng có vẻ cứ ngáng ngang đường chúng tôi. Và tôi chợt nhận ra rằng, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, tôi là người khỏe nhất trong phòng.

Tôi lái xe. Anh Augustus ngồi ghế trước. Anh Isaac ngồi ở băng ghế sau. Chúng tôi dừng trước một cửa hàng tạp hóa. Theo hướng dẫn của anh Augustus, tôi xuống mua một tá trứng trong khi hai anh ngồi chờ trong xe. Sau đó anh Isaac, theo trí nhớ của mình, chỉ đường chúng tôi đến nhà chị Monica, một ngôi nhà hai tầng rất ảm đạm gần Trung tâm Cộng đồng Do Thái JCC. Chiếc Pontiac Firebird thập niên 1990 màu xanh lá mạ của chị Monica nằm chễm chệ trước lối vào nhà, lốp xe căng phồng.

“Tới chưa em?” Anh Isaac hỏi khi thấy tôi sắp dừng xe.

“Ồ, tới rồi,” anh Augustus đáp. “Mày biết sao không, Isaac? Nó giống như tất cả những hy vọng hão huyền mà chúng ta đã ngu ngốc đặt niềm tin vào vậy.”

“Vậy là em ấy có ở nhà hả?”

Anh Gus chậm rãi ngoái đầu ra sau nhìn anh Isaac. “Ai thèm quan tâm xem cô nàng đó có nhà hay không. Chuyện này không phải vì cô ta, mà vì mày đấy.” Anh Gus ôm chặt hộp trứng vào lòng, mở cửa và xoay xở bước ra khỏi xe. Sau đó anh mở cửa cho Isaac, và tôi nhìn qua gương chiếu hậu thấy anh Gus giúp Isaac ra khỏi xe. Hai người đứng tự vào vai nhau, rồi xoay người lại, trông như hai bàn tay đang chắp lại cầu nguyện nhưng hai lòng bàn tay không áp vào nhau.

Tôi quay cửa sổ xe xuống và quan sát từ trong xe, bởi tôi rất sợ mấy hành vi cố tình phá hoại. Họ tiến mấy bước về phía chiếc xe của chị Monica, sau đó anh Gus mở hộp giấy lấy một quả trứng đưa cho anh Isaac. Anh Isaac vung tay ném nó. Hụt rồi, trứng rơi cách xe những mười hai thước.

“Chệch về bên trái một chút,” anh Gus hướng hẫn.

“Là cú ném vừa rồi hơi thiên về bên trái hay tao cần nhắm nghiêng bên trái một chút?”

“Nhắm nghiêng về bên trái.” Anh Isaac xoay vai. “Xích qua bên trái thêm chút nữa,” anh Gus nhắc. Anh Isaac nghiêng vai lần nữa. “Ừ. Đúng rồi. Giờ ném mạnh vào.” Anh Gus lại đưa thêm một quả trứng, và anh Isaac ném nó đi. Quả trứng bay thành hình vòng cung qua khỏi chiếc xe và đáp xuống mái nhà. “Trúng phóc!” Anh Gus hào hứng.

“Thật không? Anh Isaac khoái chí hỏi.

“Không, mày ném cao hơn nóc xe sáu thước. Cố gắng ném mạnh nữa nhưng thấp thôi. Và hơi chệch về bên phải một chút xíu so với cú vừa rồi.” Anh Isaac thò tay qua và tự lấy trứng từ hộp giấy anh Gus đang ôm. Anh vung tay ném nó, trứng rơi trúng đèn chiếu hậu. “Đúng rồi!” Anh Gus kêu lên. “Đúng rồi! ĐÈN CHIẾU HẬU!”

Anh Isaac lấy một quả trứng khác, chệch mé phải quá, sau đó thêm một quả, thấp quá, lại tiếp thêm một quả nữa, trúng kính chắn gió phía sau. Sau đó anh ném trúng ba quả liên tiếp vào cốp sau. “Hazel Grace,” anh Gus giục tôi. “Chụp lại cảnh này mau để anh Isaac có thể nhìn thấy chiến tích hôm nay khi người ta phát minh ra mắt rô-bốt.” Tôi nhô người ra khỏi xe, ngồi tựa lên cửa xe đã kéo kính xuống, khuỷu tay chống lên nóc xe và chụp hình bằng chiếc điện thoại của tôi: anh Augustus dù đang ngậm điếu thuốc trong miệng nhưng điệu cười nhéch mép của anh thật bảnh hết sức, một tay giơ hộp trứng hồng lên quá đầu trong đó chỉ còn vài quả trứng chỏng chơ. Tay kia choàng qua vai anh Isaac, người không buồn quay nhìn về phía máy ảnh. Đằng sau họ, lòng đỏ trứng gà đang nhểu xuống kính chắn gió và thanh hãm xung của chiếc Firebird xanh mạ. Và đằng sau nữa, một cánh cửa mở xịch ra.

“Cái gì đây,” người phụ nữ trung niên cất tiếng sau khi tôi chụp được vài tấm hình, “Lạy Chúa tôi –” và sau đó bà im bặt.

“Thưa bà,” anh Augustus nói, gật đầu với bà ấy, “xe con gái bà vừa bị ném trứng một cách chính đáng bởi một chàng mù. Bà vui lòng đóng cửa và quay lui vào trong, không thì chúng tôi buộc phải gọi cảnh sát.” Do dự một lát, mẹ Monica đóng cửa lại và biến mất. Anh Isaac ném liền tù tì ba quả trứng cuối cùng trong nháy mắt. Sau đó anh Gus dắt anh quay trở lại xe. “Thấy chưa, Isaac, chỉ cần mày phủ định – cẩn thận, chúng ta sắp tới lề đường rồi – tính hợp lẽ trong cách hành xử của họ, nếu mày đổi ngược vị thế để họ cảm thấy như họ đang phạm tội khi đứng nhìn – chỉ vài bước nữa thôi – xe ô-tô của mình bị ném trứng, họ sẽ bối rối, sợ hãi, lo lắng và họ sẽ quay lại – tay nắm cửa ngay trước mày đó – cuộc sống tuyệt vọng đến lặng lẽ của họ.” Gus vội vàng vòng lên và ngồi vào ghế trước. Khi cửa vừa đóng, tôi khởi động máy xe phóng đi nhưng chỉ được mấy chục thước thì tôi nhận ra mình đang đi vào hẻm cụt. Tôi đánh một vòng cua và trở lại đường cũ, ngang qua nhà của chị Monica lần nữa.

Tôi không bao giờ có dịp chụp ảnh anh nữa.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.