Mê Hiệp Ký

Quyển 1 - Chương 16




Qua hai ngày nghỉ ngơi, nằm trọn trên giường, các đại phu trong Vân Mộng cốc phát hiện ra nếp sinh hoạt của Mộ Dung Vô Phong đã bắt đầu quay về bình thường. Mười ngày sau, thời gian làm việc mỗi ngày của chàng đều vượt quá bốn canh giờ.

Mọi người đương nhiên biết, chàng có thể hồi phục nhanh như thế hoàn toàn nhờ vào cô gái đang ở trong trang viện của chàng.

Canh giờ đầu tiên sau khi ngủ dậy, Hà Y bắt đầu ép chàng luyện công.

“Nhất định phải luyện sao?”, mới sớm hôm, Mộ Dung Vô Phong dựa trên giường, không tình nguyện hỏi. Rồi chàng phát hiện mình cứ thế bị Hà Y đẩy tới dưới gốc một cây lê trong viện. Ở đó, vốn có một cái bàn và bốn cái ghế gỗ, dùng để đánh cờ. Hà Y đặt lên đó một tấm bồ đoàn, bắt chàng ngồi khoanh chân trên đó. Nàng nghiêm mặt, chắp tau sau lưng, dáng vẻ hung thần ác sát, trên tay chỉ còn thiếu mỗi một cái roi da.

“Hôm nay, chân khí trong người chàng sẽ đi theo tuyến thứ nhất, theo kinh mạch Thủ Dương Minh Kinh[1], bắt đầu từ huyệt Thương Dương, đến họng, đến kinh mạch Thủ Thái Âm Phế Kinh[2], đến huyệt Trung Phủ rồi tới Thiếu Thương thì ngừng.”

[1], [2] Một trong mười hai kinh mạch chính.

Cái họi là “chân khí”, thực ra chỉ là một chút chân khí Hà Y truyền vào người chàng mà thôi. Mấy ngày đầu, thân thể hư nhược cực độ, chàng hoàn toàn dựa vào một chút chân khí Hà Y truyền vào mỗi sáng để kiên trì xử lý công việc cả ngày. Chẳng qua thì dù sao chàng cũng là thanh niên, tuy thân thể yếu ớt nhiều bệnh nhưng ít nhiều gì cũng có chút thể lực, lại thêm việc chàng tuân thủ một cuộc sống có quy luật, ăn uống tiết chế nên cũng có đủ tiềm lực để uống các loại dược phẩm quý, nhờ vậy sức khỏe của chàng dần khôi phục, đã bắt đầu có chút tinh lực.

Luyện mãi, luyện mãi, trong lòng Hà Y đã bắt đầu phát cáu. Nàng vốn kỳ vọng công phu này ít nhiều gì cũng có lợi ích đối với thân thể của Mộ Dung Vô Phong, ai ngờ lại phát hiện ra tiến triển của chàng cực kỳ chậm chạp. Người tư chất ngu độn nhất, trong vòng một ngày cũng có thể đả thông huyệt đạo, chàng đã luyện ba bốn ngày trời rồi mà vẫn bế tắc như cũ. Thân thể của chàng còn kém xa so với nàng tưởng tượng. Kinh mạch trên người bị ách tắc, chính là hiện tượng tiên thiên[3] khuyến thiếu, chẳng phải việc sau này nỗ lực cố gắng mà có thể bù đắp được. Tệ nhất chính là, khí lực chàng dùng để đả thông kinh mạch lại còn lớn hơn nhiều khí lực tăng lên được sau khi kinh mạch được thông thoáng, kết quả là tăng chẳng được bao nhiêu, tổn hại lại còn nhiều hơn. Chẳng ai có thể giúp chàng, bởi vì tim chàng quá yếu, không sao chịu đựng được ngoại lực mạnh mẽ tác động vào. Cho nên luyện tới ngày thứ tư, Hà Y chỉ còn cách bảo chàng dừng lại, đổi sang dạy chàng cách hít thở cơ bản nhất. Nàng biết, nếu cứ cố luyện tiếp, người đầu tiên chịu tác hại rất có khả năng chính là chàng. Nàng cũng không giải thích gì cả nhưng đương nhiên Mộ Dung Vô Phong biết hết. Nàng chợt hiểu tại sao chàng lại thiếu nhiệt tình với việc này như thế. Chàng là đại phu, hiểu rõ tình hình thân thể chàng như lòng bàn tay, nhưng chàng không đành phụ lại ý tốt của nàng. Mỗi lần nghĩ tới điều này, trong lòng Hạ Y thường trỗi lên nỗi bi thương khó nói.

[3] Tiêu thiên: có thể hiểu nôm na là hồi còn trong bụng mẹ, chưa được sinh ra. Ở đây, chỉ bệnh có sẵn, không phải sau này mới mắc.

Trong mười ngày ấy, cứ đúng hoàng hôn là Mộ Dung Vô Phong trở về Trúc Ngô viện, mỗi tối đều bầu bạn với Hà Y, hoặc chống nạng men theo hành lang tản bộ trong viện, hoặc ra khỏi cốc, tới Thần Nông trấn dạo phố.

Lúc nhàn rỗi, chàng hoặc đọc sách y, hoặc dạy Hà Y học chữ. Hà Y lúc không có việc gì thì đứng bên cạnh mài mực cho chàng, nàng biết không nhiều chữ, Mộ Dung Vô Phong thường lấy trong sách y đọc hằng ngày ra một trang, bảo nàng đọc. Hà Y liền gục đầu lên bàn, vắt hết óc mà nhận mặt từng hàng chữ tiểu khải nhỏ li ti.

Mộ Dung Vô Phong rất thích đứng một bên nhìn nàng đau khổ suy nghĩ, sao đó nhìn nàng tự nhiên nhảy cẫng lên, giống như vừa thắng lớn mà kêu:

“Chữ này! Chữ này ta biết!”

Mộ Dung Vô Phong liền vội vàng tìm một tờ giấy, chép lại chữ nàng vừa nhận ra. Sau mười ngày, chàng rút ra được một kết luận, trừ những chữ thường dùng nhất, nếu một chữ mà có nhiều hơn bảy nét thì Hà Y căn bản không nhận ra.

Hà Y biết Mộ Dung Vô Phong rất có học vấn, bởi truyền thuyết bên ngoài nói chàng là thiếu niên thiên tài, biết nhiều nhớ lâu, nếu không phải thân thể tàn phế, chỉ sợ chàng làm tới đại quan trong triều. Nàng lại không hiểu trừ y thuật ra, cuối cùng học vấn của chàng là ở đâu.

Bởi vì thứ nhất, Mộ Dung Vô Phong chưa từng ngâm thơ đọc văn trước mặt nàng, nói chuyện hoàn toàn dùng thứ bạch thoại phổ thông mà nàng nghe hiểu. Thứ hai, nếu như chàng có việc về muộn, giấy báo sai người đưa cho Hà Y nàng đều đọc hiểu, bởi vì chữ viết trên đấy chữ nào chữ nấy đều không quá bảy nét. Thứ ba, chàng chưa hề nói chuyện y vụ trước mặt nàng, nhưng lại rất thích nghe Hà Y kể các loại chuyện trên giang hồ. Thứ tư, chàng có một phòng chứa sách rất lớn, bên trong có cả ngàn vạn quyển sách, nhưng tựa hồ trước giờ chàng chưa từng bước vào.

Cho nên Hà Y tự mình rút ra một kết luận là, thực ra Mộ Dung Vô Phong cũng giống mình, không hề thích đọc sách chút nào. Như nàng thấy, người có học vấn nói chuyện phải văn chương chữ nghĩa, dẫn cổ dẫn kim, chỉ sợ người khác không biết mình đọc nhiều sách, mà thứ người có học vấn viết ra thì phải khiến cho người bình thường đọc không hiểu nổi, nếu không làm sao biết được học hành thật không dễ?

Nghĩ tới đây, trong lòng không kìm được mà có chút tiếc nuối cho Mộ Dung Vô Phong. Bằng vào trí óc và nghị lực của chàng, nếu thân thể được như người bình thường thì chỉ sợ chàng sớm đã trở thành một vị đại hiệp tung hoành giang hồ, tiếng tăm bất hủ rồi.

Có một lần, nàng hỏi thẳng chàng: “Vô Phong, chàng rất có học vấn phải không?”.

Mộ Dung Vô Phong chẳng nghĩ ngợi gì, đáp luôn: “Không”.

Ngày thứ mười một, Mộ Dung Vô Phong lại bắt đầu bận tối mặt. Tối hôm đó chàng có một bệnh nhân nặng, thế là phải ở lại phòng khám của Ngô đại phu, suốt đêm không về.

Hà Y chợt cảm thấy híu quạnh mà trước giờ chưa từng trải qua. Nàng vốn lăn lộn nhiều năm trên giang hồ, kể cả ở chốn đồng không mông quạnh, đặt đầu xuống là có thể ngủ. Sống với chàng mới mười ngày, nàng đã cảm thấy không thể rời chàng dù chỉ một khắc. Đêm ấy, nàng trằn trọc mãi, lo cho sức khỏe chàng, lắng tai nghe tiếng động ngoài hành lang, ngóng đợi chàng trở về. Mong mới mãi, tới tận tảng sáng nàng mới mơ hồ chợp mắt.

Ngày thứ mười hai, Mộ Dung Vô Phong vẫn chưa trở về, chỉ sai người chuyển lời, người bệnh kia còn chưa khởi sắc, chắc phải muộn mới về được. Hà Y lại sống qua một ngày trong sự lo lắng bất an.

Nghe mọi người nói, Mộ Dung Vô Phong từng có kỷ lục một mạch bảy ngày đêm không nghỉ, túc trực bên cạnh người bệnh. Một khi gặp phải căn bệnh nan giải khó khăn, chàng thường thức thâu đêm nhiều hơn tất cả học trò của mình. Mà thân thể của chàng…

Sặp tới hoàng hôn, Mộ Dung Vô Phong vẫn chưa về. Rốt cuộc Hà Y cũng nóng ruột. May mà nàng biết phòng khám của Ngô đại phu nằm trong một tòa trang viện mới sơn lại, cách Trúc Ngô viện không xa.

Cửa viện đóng chặt.

Hà Y chần chừ ngoài cửa rất lâu, cuối cùng vẫn gõ cửa. Một lúc sau mới có một thiếu nữ mười lăm tuổi chậm rãi mở cửa. Thiếu nữ mặc áo màu vàng nhạt, chất liệu rất tốt, trên cổ đeo một chuỗi vòng ngọc sáng lấp lánh, cổ tay đeo vòng vàng, vòng ngọc cạnh nhau, lúc va vào nhau tiếng đinh đang vui tai. Rõ ràng đây không phải Ngô Du, có điều xem ra cô ta cũng không thoải mái lắm với việc giờ này còn có nguời làm phiền.

“Cô nương ở viện nào? Có việc gì vậy?”, cô ta chắn cửa hỏi.

Hà Y khẽ cười, nói: “Tôi… tôi tìm Mộ Dung cốc chủ”.

“Bây giờ ai cũng tìm người, có điều tiên sinh không rảnh. Tôi vừa mới phải chặn một đám rồi, ngay cả người giúp việc trong viện của Trần đại phu tới bảo có việc gấp, tiên sinh cũng không gặp”, cô gái nói rõ ràng mạch lạc.

“Tôi… tôi…”, Hà Y vốn muốn nói mình là Hà Y, nhưng nghĩ một lúc lại cảm thấy nói như thế chẳng qua là tự chuốc lấy bẽ mặt, bèn nói: “Tôi không vội gặp cốc chủ, chỉ… chỉ đợi ngoài phòng khám cũng được rồi”.

Thiếu nữ nhìn nàng một lượt, tựa như không có thời gian tiếp Hà Y liền mở một góc cửa, nói: “Cô muốn đợi thì cứ đợi đi”.

Phòng khám cách cửa lớn không xa, cô bé áo vàng dẫn nàng tới hiên ngoài của phòng khám rồi vội vàng vào hầu người trong phòng. Bên trong truyền ra tiếng thầm thì, một giọng nam nói: “Học trò cho rằng, bệnh này xuất phát từ bên trong, vốn không thể chữa khỏi hẳn. Đờm là thứ mềm trượt, chưa chắc đã tiêu hết, chỉ cần bồi bổ Tỳ là được”.

Sau đó có người mau mồm mau miệng, ở bên cạnh nói: “Mạch trái phập phù, mạch phải ổn định, đây là chứng đờm nóng, nhưng co giật lâu thế này, là phổi hoạt động quá độ, gan yếu, nên dùng canh bổ gan và viên địa hoàng đề bổ thận”.

“Làm càn làm bậy, nếu vừa rồi không dùng địa hoàng, cô bé đã không đến mức thổ tả, co giật.”

Người này vừa trách một tiếng làm bậy, lập tức có tiếng phản đối.

Lại nghe tiếng Mộ Dung Vô Phong hỏi: “Ngô đại phu nghĩ sao?”.

Ngô Du đáp: “Học trò thấy mọi cách đều thử hết rồi nhưng không thấy có tiến triển tốt, rất không ổn, chỉ sợ… chỉ sợ …phải dùng thuốc vị mạnh”.

Mộ Dung Vô Phong trầm ngâm rất lâu rồi nói: “Thuốc mạnh cố nhiên nhanh hiệu quả, chỉ là giờ mạch của cô bé mỏng như tơ, yếu ớt cực độ, không thể làm liều. Có lẽ châm cứu là tốt nhất. Đem kim lại đây”.

Nghe thấy giọng chàng ổn định, vững vàng, Hà Y mới thở phào nhẹ nhõm. Đưa mắt nhìn quanh chợt thấy trái nhà bên kia còn có một thiếu phụ hai mắt sưng đỏ, đầu tóc tán loạn. Vừa nhìn là biết, thiếu phụ là thân nhân người bệnh. Hà Y nhìn bộ dáng mất hồn của thiếu phụ không khỏi chạnh lòng, bèn đến ngồi bên cạnh, nhẹ nhàng an ủi: “Đại tẩu, đừng lo lắng, đại phu giỏi nhất trong cốc đang ở đây, cô bé sẽ không sao đâu”.

Thiếu phụ quay mặt sang, hoang mang, lẩm nhẩm tựa niệm kinh: “… Sẽ không sao… sẽ không sao, Mễ Mễ của tôi sẽ không sao”.

Hà Y nắm lấy bàn tay run rấy của cô ta, nói: “Cô bé là con của tẩu?”.

Thiếu phụ gật đầu.

“Có nghịch không?”, nàng muốn tìm một chủ đề nhẹ nhàng một chút.

“Không… không biết, nó còn quá nhỏ… nếu lớn lên rồi… sẽ là đứa trẻ ngoan, nhất định không nghịch”, thiếu phụ lẩm bẩm nói: “Tôi cho nó bú, đang bú ngon lành nó chợt… chợt co giật toàn thân”.

Trong đầu Hà Y chợt choáng váng, tâm tình rối bời, run giọng hỏi: “Cô bé… được bao nhiêu tuổi rổi?”.

“Một tháng, tôi còn chưa hết cữ”. thiếu phụ đột nhiên bật khóc nói: “Nó vốn rất ngoan, không khóc, không quấy, tôi còn nói với ba của nó rằng con của chúng ta có lẽ sẽ không quấy đêm… không ngờ… không ngờ…”, thiếu phụ thương tâm. không sao nói tiếp được nữa.

Hà Y ngây người, đầu óc trống rỗng, nước mắt đột nhiên tuôn rơi, không nén được nghẹn ngào nói: “Tôi cũng có một đứa bé gái như thế, nó… nó bất hạnh đã qua đời rồi”.

Đang nói, trong phòng chợt vọng ra tiếng trẻ khóc lớn, thiếu phụ kia như phát cuồng, xông vào, bịch một tiếng quỳ xuống trước mặt Mộ Dung Vô Phong, khóc lóc nói: “Đại phu, xin ngài thương tình, cứu lấy nó! Tôi cầu xin ngài, cứu lấy con của tôi, ngài muốn mạng này cũng được, tôi đều có thể trao cho ngài! Chỉ xin ngài cứu lấy nó! Cứu lấy nó! Khó khăn lắm tôi mới có đứa con này, nó mà có mệnh hệ gì, tôi cũng không muốn sống nữa…”, nói xong, mặc kệ người bên cạnh can ngăn, cứ dập đầu binh binh.

Mộ Dung Vô Phong đỡ thiếu phụ dậy, bình tĩnh nói: “Đứa bé này tuy trong cơn nguy hiểm, nhưng trước mắt vẫn còn cách để cứu. Với lại tình hình hiện tại so với đêm qua đã có chuyển biến lớn. Xin phu nhân ra bên ngoài ngồi đợi một lúc, chúng tôi sẽ toàn lực cứu chữa”.

Dưới đôi tay chàng là một bé gái toàn thân đã tím ngắt, đang thoi thóp thở, trên mình cắm đầy kim, không biết là do quá đau hay là do tỉnh lại nên mới gào khóc

Chàng vừa quay đầu, đang muốn nói thêm đôi câu an ủi chợt phát hiện ra Hà Y đã đứng sau người thiếu phụ kia từ lúc nào, đôi mắt dán chặt vào đứa bé, sắc mặt tái nhợt, mặt đầy nước mắt. Tim chàng chợt đập mạnh.

Tất cả mọi người trong phòng đêu nhận ra không biết từ lúc nào có một cô gái lạ mặt tiến vào phòng.

“Hà Y”, dường như đã có dự cảm chẳng lành, Mộ Dung Vô Phong căng thẳng nhìn nàng.

Hà Y vịn vào trụ cửa, cả người không ngừng run rẩy.

“Lúc ấy… lúc ấy ta cũng cầu xin chàng như thế… sao chàng độc ác như vậy? Không chịu cứu nó”, nước mắt nàng tuôn rơi.

“Ta…”

“Lẽ nào nó không phải con của chảng, không đáng để chàng đau lòng?”

“…”

“Mộ Dung Vô Phong! Chàng quá độc ác! Ta hận chàng! Ta hận chàng!”, Hà Y gào lên: “Là chàng giết nó! Là chàng! Là chàng! Chàng là hung thủ! Chàng giết con của ta, chàng không phải đại phu! Chàng là kẻ giết người! Mộ Dung Vô Phong! Chàng không phải là người! Ta mãi mãi, mãi mãi không thèm nhìn tới chàng nữa!”.

Chàng ngây người nhìn nàng xông ra ngoài. Tất cả mọi người, ngay cả đứa bé đều đột nhiên im lặng. Mấy vị đại phu lén nhìn Mộ Dung Vô Phong nhưng không ai dám nói gì. Chàng vẫn ngồi thẳng tắp, hai tay nắm chặt lại tới mức gân xanh nổi lên. Một lúc sau, chàng mới thở ra một tiếng, chầm chậm nói: “Vừa rồi ta châm tới đâu rồi?”.

“Thưa tiên sinh, ở huyệt ‘Địa Thương’”, Ngô Du nhẹ giọng đáp.

Chàng gật đầu, nói: “Tiếp tục… trước tiên thử ‘Thân Mạch’, sau đó là ‘Thiếu Thương’, ‘Hạ Quan’, ‘Thiên Tinh’”.

Mấy người lấy lại tinh thẩn, giữ lấy cái chân bé nhỏ của đứa trẻ, để Mộ Dung Vô Phong châm đúng huyệt vị.

Bận rộn như đánh trận đúng một đêm, lại xem xét cả một ngày, chập tối hôm sau, đứa bé cuối cùng đã hết co giật, yên ổn trở lại.

Mộ Dung Vô Phong một mình cô quạnh về tới Trúc Ngô viện. Bánh xe lăn rất chậm trên hành lang trải thảm.

Hoàng hôn, mưa vừa tạnh, hoa lê tan tác khắp sân. Mấy giọt nước đọng trên lá trúc nhỏ xuống chân chàng lạnh buốt, làm ướt vạt áo chàng. Chàng chợt nhớ ra mình đang mặc chính là chiếc áo hôm trước Hà Y lấy để thấm nước mắt. Nàng không phải là một nữ nhân dễ khóc, trước mặt chàng lại phải khóc rất nhiều lần. Lần nào cũng rất thương tâm.

Chàng không khỏi cười khổ, lẽ nào mình đúng là khắc tinh của nàng?

Chàng gắng sức chuyển hướng, quay vào thư phòng. Thư phìng vắng ngắt Lần đầu tiên chàng đột nhiên cảm thấy, thư phòng của mình dường như quá rộng.

Trong nghiên còn lại mực nàng mài hôm trước.

Mấy tờ giấy trắng có chữ nàng luyện.

Chăn trên giường được gấp chỉnh tề, bên giường còn có quần áo nàng vừa mới giặt sạch.

Mỗi lần bỏ di, nàng đều để lại kiếm và bọc đồ của mình. Một khi đã tức giận thì nàng không cần gì nữa.

Trên gối còn phảng phất mùi của nàng, mấy sợi tóc dài đen tuyền rơi bên gối. Chàng nhấc thanh kiếm của nàng lên, rút ra, đưa tay nhẹ vuốt ve, trong lòng dâng lên muôn nỗi tâm tình rối bời. Một thoáng thất thần, không cẩn thận làm ngón tay xước một đường. Máu nhỏ xuống từng giọt, loang trên áo chàng. Chàng mở tủ nhỏ đầu giường, lấy ít thuốc bôi lên vết thương.

Hoang mang, chàng ngả người lên giường, có lẽ là quá mệt mỏi, cũng quá thương tâm, lòng thấy quặn đau, mồ hôi lạnh túa ra đầy người. Thuốc được đặt khắp nơi, chàng tùy tiện quơ lấy nhét một vốc vào mồm.

Tạ Đình Vân phái đi rất nhiều người, tìm cả buổi tối cũng không thấy bóng dáng Sở Hà Y, hỏi khắp bến sông mới biết, hôm trước nàng đã lên thuyền rời đi. Đến sáng sớm hôm sau, lúc Tạ Đình Vân quay về phục mệnh, giật mình phát hiện ra Mộ Dung Vô Phong đã ngồi ở thư phòng rồi. Chàng cứ thế một đêm không ngủ, phê duyệt hết toàn bộ bệnh án còn lại trên bàn. Thần sắc bình tĩnh, tuy mặt mày tiều tụy, nhưng giống như đã khỏi bệnh.

“Không tìm ra?”, chàng hỏi thẳng.

Tạ Đình Vân lắc đầu: “Một ngày trước Sở cô nương đã ngồi thuyền rời khỏi Thần Nông trấn”.

“Đi đâu?”

“Cô ấy không nhắc tới. Chiếc thuyền ấy cuối cùng đỗ ở Giang Ninh, hiện vẫn chưa quay lại. Có điều, vị bà bà này nói có tin tức của Sở cô nương nhưng chỉ có thể nói cho cốc chủ, với lại phải có ba trăm lượng bạc.”

“Hử?”, Mộ Dung Vô Phong quay đầu, nhìn người đứng sau Tạ Đình Vân. Vừa nhìn thấy liền sững người, đó chính là Thôi bà bà.

“Thôi bả bà, xin mời ngồi”, sau khi Tạ Đình Vân ra khỏi cửa, Mộ Dung Vô Phong chỉ chiếc ghế trước mặt, khách khí mời.

Lão bà bà ngượng nghịu ngồi xuống, rõ ràng cảm thấy rất không thoải mái trong gian thư phòng cực kỳ xa hoa này.

“Mời dùng trà”, chàng lại chỉ vào tách trà tinh xảo đặt trước mặt bà.

Thôi bà bà xua lay, nói: “Đa tạ, lão chỉ nói vài câu rồi đi thôi”.

“Bà bà đã gặp Sở cô nương?”

“Vâng, nhưng không phải vừa mới rồi, mà là một tháng trước.”

Một tháng trước?”, chàng có chút ngạc nhiên hỏi lại, bởi Hà Y nói với chàng, một tháng trước nàng đang ở núi Võ Đang.

“Cô nương ấy xin lão một ít ‘Thanh Phong tán’.”

Khuôn mặt chàng thoắt cái đã tái xanh, ngực bắt đầu đau thắt. Thanh Phong tán là thuốc phá thai loại kém bán trên phố, thường lưu truyền trong tay các bà đỡ.

“Nói tiếp đi”, chàng ép buộc bản thân bình tĩnh.

“Cô nương ấy mua một gói, hỏi lão có tác dụng không? Lão nói đa phần là có tác dụng, nhưng cũng có lúc không. Thế là cô ấy mua thêm một gói nữa. Sau đó lão đi cùng cô ấy tới Vĩnh Xương khách điếm, vẫn ở căn phòng cũ. Nhưng lần này không được thuận lợi, dễ dàng như lần trước, cô ấy… cô ấy rất đau.”

Sắc mặt chàng nhợt nhạt, nghe Thôi bà kể hết rồi sai Tạ Đình Vân đưa bà bà ra ngoài.

Tình cảnh đêm hôm đó lại hiện lên trước mắt chàng.

Gã thợ săn cầm con dao chẻ củi, Hà Y khỏa thân, đau đớn, rên rỉ… Địa ngục, tất cả đều biến thành địa ngục.

“Là ta đã hại nàng”, chàng khẽ lẩm bẩm: “Là ta đã hại nàng”.

“Cốc chủ, thuộc hạ dìu người đi nghỉ”, Tạ Đình Vân quay lại, thấy hai mắt Mộ Dung Vô Phong trợn trừng, thần sắc khác lạ, không khỏi hoảng hốt. Đỡ Mộ Dung Vô Phong lên giường xong, Tạ Đình Vân lay gọi: “Cốc chủ, cốc chủ, người không sao chứ?”.

Một lúc sau, Mộ Dung Vô Phong mới phục hồi tinh thần, khép mắt lại, nói đứt quãng: “Không cần tìm Sở cô nương nữa, cô ấy rời khỏi… rời khỏi ta rồi, lại càng tốt… càng tốt cho cô ấy”, nói xong, trong ngực nhói đau, “ộc” một tiếng, phun ra một búng máu, nhuốm đỏ khăn trải giường trắng như tuyết.

Chàng hôn mê trên giường một mạch ba ngày liền, rồi lại quay lại xử lý y vụ như bình thường, chỉ có điểu lần này tựa như chàng đem toàn bộ tinh thần vùi vào y vụ, tự khiến cho bản thân bận bịu hết mức. Chàng không cười nữa, càng ngày càng ít nói, còn trầm lặng hơn so với ngày trước, quay trở lại dáng vẻ lặng lẽ không vui ngày xưa.