Mê Thần Ký

Chương 13



Tô Phong Nghi ngủ suốt một ngày một đêm, sớm dậy rửa mặt mũi xong bèn thay một bộ y phục sạch sẽ. Vừa xuống lầu đã thấy có hai người ngồi ở bàn rượu, đang nhắm mấy món vặt, nói nói cười cười. Một người trong đó bận áo khoác xám to rộng, vai vượn lưng ong, trán cao mắt sâu, mi mày như kiếm, vẻ mặt ngang ngạnh lại đượm nét u sầu, chẳng phải Diêu Nhân thì còn ai vào đây? Còn người kia, râu ria đầy mặt, vết thương chưa lành, trước ngực còn cuốn vải băng trắng. Bởi mất quá nhiều máu, sắc mặt hắn có chút nhợt nhạt nhưng ăn uống không giảm, tửu lượng hoành tráng, chốc chốc lại vui vẻ rót rượu, bình đổ nhưng người không say. Đấy chính là đại hán họ Quách được bọn họ cứu về đêm hôm trước.

Lần đầu tiên nàng thấy trong mắt A Nhân tràn đầy sự ôn hòa và nét cười, lần đầu tiên phát hiện chàng lại có thể nói nhiều đến thế. Tiếp đến, chàng còn không ngừng ngâm rượu gắp thức ăn cho người kia, trong động tác đưa tay đưa chân còn ẩn chứa vẻ thân cận khó tả.

Bọn họ trò chuyện tới hăng say, đến mức không ai nhận ra nàng đã tới, đợi khi nàng đứng cạnh bàn, Diêu Nhân còn chỉ bình trà của mình, không quay đầu lại nói: “Tiểu nhị, làm phiền mang lên một ít nước nóng”.

Nàng tức tối cầm bình trà đi tới quầy, rót nước, rồi đặt xuống cạnh tay chàng đánh “bình” một tiếng, lúc này chàng mới phát hiện đó là nàng, cười cười xin lỗi, nói: “Cô dậy rồi à?”

“Dậy rồi”, nàng tìm một cái ghế ngồi xuống, trong lòng đố kỵ, nửa cười nửa không, hỏi: “Vị này là...”.

“Quách Khuynh Quỳ, Tử Hân gọi tôi là ‘A Tuấn’”, ánh mắt đại hán rất chân thành: “Đêm trước đa tạ Tô cô nương tương cứu”.

Thì ra chàng vẫn còn một tên khác là “Tử Hân”, trong lòng nàng thầm nhủ.

“Hai vị trước đây... quen biết?”, Tô Phong Nghi hỏi, mi mày nhíu chặt lại.

“Bạn tốt thuở nhỏ, nhiều năm không gặp. Tôi vẫn nhận ra hắn, hắn lại không nhận ra tôi”, Quách Khuynh Quỳ cảm khái một trận, không nhịn được, sờ sờ quai hàm: “Chính là bởi tôi lớn lên mặt lại đầy râu ria”.

Tô Phong Nghi chống cằm, hơi sững ra rồi đột nhiên mi giãn miệng cười, xán lạn khôn tả, cứ như cuối cùng cũng tìm ra một con đường có thể đả thông nội tâm của Tử Hân, bèn nói: “Vậy sau này muội gọi huynh là Tuấn ca, có được không?”

Quách Khuynh Quỳ cũng định cười, không ngờ động tới vết thương, miệng đã mở ra muốn cười thế nào cũng không thu lại được, nói xong một câu: “Đương nhiên là được!” thì phải ho khan một chập.

“Chỉ là, Quách Khuynh Quỳ này với cái người ‘Quách Khuynh Trúc’ kia không có quan hệ chứ?”, Tô Phong Nghị chợt hỏi.

Trông nàng không giống người trong võ lâm, không ngờ cũng biết việc này. Mặt Quách Khuynh Quỳ không hề biến sắc: “Bất hạnh lắm thay, Quách Khuynh Quỳ này chính là em ruột của Quách Khuynh Trúc nọ”.

Đây là một câu chuyện ai ai trên giang hồ cũng biết.

Phu nhân của Thẩm Tĩnh Sơn, Trần Tĩnh Thanh vốn là người yêu của Quách Tượng Tiên, tổ phụ của Quách Khuynh Quỳ, bởi theo lệnh của cha mà gả vào nhà họ Thẩm rồi vì Thẩm gia mà sinh con đẻ cái mấy chục năm. Còn Quách Tượng Tiên vì chuyện này mà lòng dạ tan nát, tâm tình bi thương cả đời không lấy vợ, chỉ vào lúc tâm ý nguội lạnh thu dưỡng một đứa trẻ bị bỏ rơi. Đứa trẻ này chính là Quách Khải Thiền.

Lúc ấy, địa vị của Thiết Tiêu tiên sinh Thầm Tích Sơn trong giang hồ đang như mặt trời giữa Ngọ, ba đứa con trai của Thẩm gia cũng là những kẻ ưu tú của lớp sau. Quách Tượng Tiên thì theo học “Thông Tí Thần Viên” Lục Huyền Ưng nổi danh với Bát quái kiếm của Thiết Hoàn môn miền tây bắc, trên giang hồ không được như Thẩm gia người đông thế mạnh, nhưng cũng là danh môn chính phái. Hai vị lão nhân kia đang đêm bỏ trốn, chỉ mới ở trong khách điếm được hai ngày đã bị phụ tử Thẩm Tích Sơn nộ khí xung thiên đuổi theo bắt được. Trần Tích Thanh mắng chửi Thẩm Tích Sơn không thôi, tuyên bố kiên quyết không về Thẩm gia, Quách Tượng Tiên cũng không chịu nhường nửa bước. Dưới cơn thịnh nộ, người nhà họ Thẩm nhất tề xông lên công kích, hai vị lão nhân kia biết là không địch nổi bèn ôm chặt lấy nhau, cùng nhau tự vẫn trước mặt chúng nhân. Trong đám người vây bắt còn có võ lâm bằng hữu đã báo tin cho Thẩm gia. Nghe nói cảnh tượng khi ấy khiến Thẩm gia nhục nhã khôn tả, mất sạch thể diện. Thi thể hai người kia vẫn ôm chặt lấy nhau, mặc người bên cạnh ra sức lôi kéo thế nào cũng không chia lìa. Thẩm Bích Sơn vừa xấu hổ vừa phẫn nộ, vung đao chém loạn, xả bọn họ nát như tương rồi cho chó hoang ăn thịt.

Chuyện này truyền tới tai Quách Khải Thiền, thù hận của hai nhà chính là bắt đầu từ đây. Quách Khải Thiền từ biệt thê tử, mai danh ẩn tích, suy tính mưu đồ báo thù cho phụ thân, ba năm sau vào một ngày nọ, hắn đột nhập vào Thẩm phủ, một đêm cắt đầu Thẩm Bích Sơn và con trưởng của lão, treo đầu lâu trước cửa lớn Thẩm gia.

An táng xong cho cha và anh, lão nhị của Thẩm gia là Thẩm Thái trước tế đường chặt ngón tay phát thệ, nợ máu nhất định phải đòi bằng máu, không đem được Quách Khải Thiền nghiền ra thành tro bụi, thề không làm người. Nhưng bỏ ra trọn mười năm trời, Thẩm Thái mới tìm được nhà họ Quách trốn tránh ở nơi thâm sơn cùng cốc, ai ngờ Quách Khải Thiền sớm đã dự liệu tất cả, đem hai đứa con trai của mình chia ra giấu đi từ lâu. Thẩm Thái dẫn người đuổi đến nơi, chỉ bắt được phu phụ họ Quách, lập tức giết họ tại chỗ, rồi lại truy lùng tung tích hai đứa con của Quách gia khắp nơi.

Mấy chục năm sau, trưởng tử Quách Khuynh Trúc đã giết trưởng tử Thẩm Huy Thiền của Thẩm Thái. Quách Khuynh Trúc theo học “Thái Huyền Môn”, là đệ tử độc truyền của Nam Hải thần kiếm Khổ Vũ đại sư năm xưa, hiện hắn là đệ nhất sát thủ của miền tây bắc. Người này không những kiếm thuật cao siêu, mà hành tung lại ẩn mật, trên giang hồ ai nghe thấy tên cũng biến sắc kinh tâm.

“Vậy thì, người truy sát huynh hôm qua là do Thẩm gia thuê hay sao?”, Tô Phong Nghi hỏi tiếp.

“Quá nửa là thế”, Quách Khuynh Quỳ cười khổ: “Xem ra mạng của ta càng lúc càng đáng tiền. Nếu không phải năm xưa được thủ hạ của phụ thân mai danh ẩn tích nuôi lớn thành người, lại phải chạy tới chạy lui, tránh đông tránh tây trên giang hồ mười mấy năm, chỉ sợ đã sớm trở thành vong hồn dưới đao của Thẩm gia rồi”.

Nói rồi, hắn đưa mắt tựa như khó nói mà nhìn Tử Hân, trong lòng tràn đầy day dứt.

Đêm hôm đó hắn vội vã rời đi, không nói lời từ biệt với Tử Hân. Mười mấy năm sau, hắn trốn chạy giữ mạng, càng chưa từng liên hệ với Tử Hân.

Hắn còn nhớ tình cảnh đêm hôm đó đang say ngủ thì bị gọi dậy. Vừa mở mắt đã thấy khuôn mặt suy sụp và ánh mắt sợ hãi của mẹ nuôi, bà nhỏ giọng an ủi hắn một câu rồi nhanh chóng mặc đồ cho hắn, sau đó không ngừng dỗ Tiên Nhi yên lặng. Không kịp thu dọn đồ đạc, cả nhà chỉ đem theo một bọc hành lý rồi ngồi xe ngựa phóng vội đi.

Đánh xe là một người lạ mặt, cao to mà âm trầm, đôi môi mím nhặt, trên đường rất ít mở miệng nói năng. Còn chưa ra khỏi tiểu trấn, bọn họ đã gặp phục kích của Thẩm gia. Cả nhà bỏ cả xe ngựa lẩn vào thâm sơn, xuyên đông trốn tây. Hắn mờ to mắt, nín thở, núp trong lùm cỏ rậm. Mấy lần đám người truy bắt phóng qua trước mặt, đuôi ngựa phất phơ quét qua má hắn; đèn đuốc sáng trưng, tro củi bay vào mắt hắn.

Tiên Nhi bắt đầu không chịu ngồi yên, dần dần lại càng thêm quấy phá. Nó không ngừng vặn vẹo, lấy chân đá vào vụn dưới đất, muốn thoát khỏi vòng tay của mẫu thân. Hắn ở bên cạnh ra sức giúp bịt miệng Tiên Nhi. Tiên Nhi nổi giận, hung dữ cắn tay hắn, vết răng tới giờ vẫn còn lưu trên mu bàn tay. Hắn bị cắn đau phải nới lỏng tay ra, nhân cơ hội ấy, Tiên Nhi chạy biến đi, vừa chạy cừa kêu: “Ca ca xấu! Ca ca xấu!”.

Hắn định xông ra kéo Tiên Nhi lại, một cánh tay như kìm thép giữ chặt lấy hắn. Hắn quay đầu lại, thấy cha nuôi tay cầm rìu sắt, ngồi bất động sau lưng hắn, ánh mắt vừa tàn nhẫn lại vừa bi thương.

Bọn họ trú trong sơn động suốt một đêm, ngày hôm sau mới tìm được thi thể của Tiên Nhi... Tiên Nhi chết rất đau đớn, hai mũi tên nhọn xuyên qua bụng nhưng không chết ngay lập tức. Cô bé giãy giụa rất lâu cho đến khi máu tươi chảy ra hết.

Rất lâu sau hắn mới biết, người đánh xe kia là đại ca của mình, là người thân duy nhất của mình trên đời.

Có lẽ là nhờ bao nhiêu năm nay toàn dựa vào đại ca một mình đối kháng với Thẩm gia, hắn mới được thuận lợi sống sót, hắn luôn giữ một lòng kính sợ sâu sắc với đại ca. Giữa bọn họ không hề thân thiết gì cho cam, thực ra còn rất ít khi gặp mặt. Có lúc, đại ca đột nhiên xuất hiện trên con đường hắn đang đi, trao đổi vài câu rồi lại biến mất. Đọng lại trong đầu hắn, trước sau chỉ là vết sẹo dài trên mặt cùng thanh trường kiếm đeo bên người, đôi tay lùa trong ống tay áo, dáng điệu lạnh lùng, cái nhìn xa xăm của đại ca.

“Đệ là huyết mạch duy nhất còn lại của Quách gia”, có một hôm đại ca chợt nói.

“Lẽ nào huynh không phải”.

“Không phải nữa rồi”.

Hồi ức thoáng chốc ập đến, tựa như một cái bóng lướt qua mặt hắn, Tô Phong Nghi nhanh chóng nhận ra hắn đang lơ đãng. Hiếm có cơ hội moi tin từ miệng Quách Khuynh Quỳ, nàng ân cần rót rượu cho hắn, hưng phấn định hỏi tiếp, Tử Hân chợt nói: “Vết thương ở chân đỡ hơn chưa?”.

Tai nàng thoắt cái đỏ bừng lên, nhẹ nhàng cười với chàng: “Thoa chút thuốc, đã hết sưng rồi”.

Tử Hân chớp chớp mắt: “Tôi không hỏi cô”.

Giờ nàng mới phát hiện chân Quách Khuynh Quỳ cũng băng một lớp rất dày, vẫn có thể thấy được màu máu đỏ nhàn nhạt.

“Không sao rồi, không sao rồi”, Quách Khuynh Quỳ vội vàng dàn hòa: “Vết thương vặt thôi. Tô cô nương, cô ăn sáng chưa? Sữa đậu nành với dầu cháo quẩy ở chỗ này rất ngon, tôi bảo tiểu nhị bưng lên một ít nhé?”.

“Không cần đâu”, Tô Phong Nghi nói: “Muội không ăn nổi”.

“Sao thế?”

“Muội cảm thấy có chút khó chịu”, nói rồi tức tối lườm Tử Hân một cái.

Tử Hân cười nhạt, tiếp tục chọc tức nàng: “Chớ quên cô còn nợ tôi mười lăm lượng bạc, tốt nhất là nhanh nhanh một chút kiếm tiền trả tôi”.

Còn chưa dứt lời, đã thấy trước mắt khói đen bốc ngùn ngụt, Tô Phong Nghi hất mái tóc dài, tức giận xông khỏi cửa. Bước đi quá nhanh, suýt nữa vấp vào bậc cửa ngã nhào.

Nhìn theo bóng lưng nàng, Quách Khuynh Quỳ cười nói: “Sao lại phải chọc giận người ta bỏ đi thế?”.

“Nếu cô ta giận đi luôn thì tốt”.

“Lão đệ, chú ý phong độ”.

“Ta không có phong độ”.

Phần lớn đám nam nhân đều cho rằng mình hiểu nữ nhân, còn đa số nữ nhân lại cho rằng bản thân không hiểu nổi nam nhân, thậm chí còn hy vọng bọn họ vĩnh viễn cứ thần bí.

Tô Phong Nghi thì lại không hề như vậy. Nàng luôn tràn đầy tò mò với con người Tử Hân, ngoại trừ vì thích chàng ra, còn vì đã bất giác coi chàng là một món đồ đồng cổ thời nhà Thương, lai lịch không rõ ràng. Nàng biết rõ thói tò mò của mình rất đụng chạm Tử Hân, khiến chàng cực kỳ tức giận nhưng cứ kiên trì không chịu thôi.

Cho nên, tuy trong túi rõ ràng có một tờ ngân phiếu ba chục lạng, nhưng nàng tuyệt đối không chịu giao ra.

Nếu giữa hai người đã không có bất kỳ quan hệ gì, vậy thì nợ nần có thể thành một loại quan hệ.

Bất kể có nói gì, Tử Hân không có cách nào khiến nàng tức giận bỏ đi, nàng căn bản không phải là nữ nhân dễ dàng thương tâm.

Ngủ đẫy đà, lại thêm một bữa sáng thịnh soạn, nàng cảm thấy tinh lực dồi dào, quyết tâm dư thừa, liền chạy về tiệm đồ cổ Vinh Ký đứng quầy hai canh giờ. Trong khoảng thời gian ấy, nàng liên tiếp thực hiện được mấy vụ làm ăn, đều rất thuận lợi. Rồi lại đem một chiếc nhẫn ngọc đời Hán ố vàng tán tới mức hoa bay đầy trời có một không hai bán cho một công tử ăn mặc hoa lệ với cái giá cao kinh người. Sau đó còn thừa nhận với hắn bản thân nàng là người mới, thật thà, không biết làm ăn.

Hoa hoa công tử rõ ràng không có thói quen mặc cả, chỉ một mực mỉm cười nhìn nàng, lặng yên nghe nàng giảng giải từ cổ ngọc thời Thương cho tới gốm quý đời Đường, lại từ tượng phật thời Tây Hán sang động đá Đôn Hoàng. Cuối cùng nhỏ nhẹ than rằng: “Cô nương bác học tài cao, lại phải làm thuê cho tiệm nhỏ này, đúng là thiệt thòi rồi”.

Nói xong, đón lấy chiếc nhẫn, rút khăn tay lau lau một lúc, đeo vào ngón trỏ ngắm trái ngắm phải, sau đó nói: “Vậy thì cứ sáu trăm lượng đi. Làm phiền cô nương ghi nợ”.

“Xin lỗi, tiệm nhỏ vốn ít, giao dịch tiền mặt”.

“Cô nương đúng là mới đến. Tôi đến đây mua đồ, trước giờ đều là ghi nợ, đợi tới cuối năm thanh toán...”

Lời còn chưa dứt, Tô Phong Nghi đã túm lấy tay hắn, rút chiếc nhẫn khỏi ngón trỏ của hắn đánh veo một cái, rồi bỏ vào hộp gấm, sau đó ngước đôi mắt, ánh mắt tóe lửa, bộ dạng cực kỳ đề phòng.

Người nọ không hề để ý, thở dài một tiếng ôn hòa, nhẫn nại giải thích: “Bởi vì đây là tiệm của tôi”.

Đưa mắt quét qua vai hắn, nàng đã thấy Vinh lão bản từ cửa vội vã đi vào, người chưa tới nơi, trên mặt đã đắp nụ cười: “Nhị công tử rảnh rỗi ghé qua lúc nào thế?”.

Nàng không đổi sắc mặt, tỉnh bơ đưa cái hộp gấm vào tay người kia: “Cầm lấy đồ này, tôi có việc xin đi trước”, nói rồi nhanh chóng chuồn khỏi.

Trên phố ánh dương rạng rỡ, Tô Phong Nghi bâng quơ dạo một vòng, mua mấy bộ y phục, nhớ ra mình không có son môi, liền thả bước đi vào tiệm son phấn tên là “Tử Cẩm ký”.

Trên quầy không có ai ngoài một vị nữ nhân thân mình cao gầy đang ngồi im lặng thưởng trà trên chiếc thái sư kỷ đặt cạnh cửa sổ.

Cô gái đó khoảng hơn hai mươi, bận bộ áo bào thêu màu xanh sáng, trên đầu cài một cây trâm sừng tê giác, dung mạo tuyệt mỹ, đôi mắt như sương khói, trong ánh mắt có vẻ cao ngạo sắc bén phi thường.

Làn da của nàng vốn đã mịn màng mềm mại, lại thoa thêm một lớp phấn trang điểm. Mười ngón tay thon dài, đầu ngón tay thoa sơn phụng tiên hoa đỏ. Ngón giữa thon nhỏ đeo một chiếc nhẫn ngọc, chất ngọc có ẩn chứa mấy đường vân đỏ như máu.

Đầu tiên, Tô Phong Nghi cho rằng nàng là lão bản nương của cửa tiệm, vừa định mở miệng chợt thấy có người giúp việc đi ra từ cửa nhỏ trong quầy, nhìn mình với tư thế “Xin đợi một chút”, rồi mau bước tới bên chỗ cô gái kia ngồi, khom lưng cười nói: “Vất vả cho cô nương phải đợi lâu. Tiểu nhân vừa mới đi tìm lại một lần, vốn cho rằng tiệm hẳn còn một rương hàng, không ngờ loại kem ‘Dạ dung’ kia chưa tới hai ngày đã bán hết veo, đừng nói một rương, đến nửa hộp cũng không còn. Thật sự rất xin lỗi”.

Cô gái kia hừ một tiếng không thèm đưa mắt nhìn: “Kem Dạ Dung thì thôi, phấn Bát Bạch các người cũng không có. Ta thấy Tử Cẩm Ký còn chẳng bằng sạp hàng rong đầu phố, còn để làm gì nữa, chẳng bằng dỡ luôn cho xong”.

Giọng cô gái mềm mại thấu xương, còn mang theo chút lười biếng khiến người ta nghe thấy sung sướng cả lỗ tai. Có điều lời nói ra thì ngang ngạnh như muốn đòi mạng người ta, chẳng chút thông cảm cho người khác.

Tô Phong Nghi nghĩ thầm, cô gái này trắng trẻo như hoa lê, cho dù không thoa phấn thì vẻ đẹp tự nhiên cũng đủ kiều diễm lắm rồi, ai ngờ nàng vẫn cho là không đủ, còn muốn thoa thêm Bát Bạch phấn, thật là thái quá. Thế là không nhịn được, nàng mở miệng cười nói: “Vị tỷ tỷ, theo muội thấy, phấn Bát Bạch cũng thôi đi. Đinh Hương, Bạch Phụ ở đây cũng là hàng tốt. Chỉ là bên trong có cho thêm một ít tằm khô, làm mặt nạ thuốc thì chắc chắn làn da trơn nhẵn, nhưng lúc rửa thì lại rất phiền phức. Còn chưa nói phối phương ấy vốn là dùng dấm chua điều chế, không khỏi có vị chua, thật dùng không tốt bằng phấn ‘Ngọc Nữ Đào Hoa’ mà Vạn Hoa lâu mới ra”.

Đôi mắt cô gái kia sáng lên, cười nói: “Vị cô nương này hình như là người trong nghề, muội nói tiếp xem, phấn Ngọc Nữ Đào Hoa ấy có gì tốt?”.

Tô Phong Nghi tới ngồi cạnh nàng, nói: “Phấn ấy là hoa đào mùa xuân lấy phơi khô nghiền nát mà thành. Dùng kem Ô Kê xem rồi đánh lên mặt, không chỉ có thể dùng làm phấn, mà còn có tác dụng của son môi, chẳng phải một thứ đồ mà có hai công dụng sao?”.

Cô gái vui mừng nói: “Nghe hay đấy, nhưng không biết ở đây có bán không?”.

Người giúp việc vội thưa: “Có, có, có, đương nhiên có. Đây là hàng mới của năm nay, gọi là kem Ngọc Nữ Đào Hoa. Lúc xoa lên mặt thậm chí có thể không cần dùng kem Ô Kê, một hộp bảy loại, bảy màu sắc, hạnh hồng, đào hồng, ngân hồng, phấn hồng, thoái hồng, tía hoa hồng, tía ngó sen. Giá có hơi cao, hai mươi mốt lượng một hộp. Có điều cũng có thể chia ra bán lẻ”.

“Làm phiền lấy cho ta hai hộp đi”.

Cô gái nhàn nhã bước tới, trả tiền, nói kiểu gì cũng phải tặng cho Tô Phong Nghi một hộp. Tô Phong Nghi ngượng ngùng nhận lấy, cảm thấy nhận không thế này có chút e thẹn, bèn hẹn nàng tới một trà lâu uống trà.

Trò chuyện một canh giờ đã trở nên thân thuộc, cô gái kia họ Thẩm, tên có hai chữ Khinh Thiền.

“Tỷ tỷ làm nghề gì?”, Tô Phong Nghi nhìn thanh kiếm tinh xảo đeo trên bộ eo mềm mại như không xương của Thẩm Khinh Thiền, hỏi.

“Ta là một kiếm khách”, lúc nói câu này, nàng tỏ ra rất nghiêm túc, nói rồi tháo kiếm đưa cho Tô Phong Nghi cầm xem.

“Đây là tác phẩm của Lỗ Ẩn Tuyền đại sư năm xưa phải không?”, Tô Phong Nghi cười hỏi.

Thẩm Khinh Thiền hơi biến sắc hỏi: “Sao muội biết?”.

“Muội là một giám định sư, thanh kiếm này cũng xem như một món đồ cổ. Loại kiếm sắc tím kiểu này, tổng cộng Lỗ đại sư làm ba thanh. Chỉ còn một thanh lưu truyền tới nay, vốn luôn là trấn sơn chi bảo của núi Nga My. Người trên giang hồ gọi nó là ‘Ngư Lân Tử Kim kiếm’. Sau này nghe nói kiếm vào tay người năm xưa đứng đầu kiếm bảng là Sở Hà Y, vị này lại đánh mất nó trong đại sơn ở Đường môn.

Thẩm Khinh Thiền gật đầu nhẹ: “Muội nói không sai”.

“Nhưng mà, tỷ tỷ làm thế nào lại có được nó?”

“Là ta nhờ người đào nó trong núi ra”.

“Không thể thế chứ”, Tô Phong Nghi bán tín bán nghi: “Nghe nói chỗ đó vốn là một sơn động, sau đó bị người ta đặt thuốc nổ, cả tòa núi sụp xuống. Đương thời ai cũng cho rằng đấy là nơi chôn thây của Sở Hà Y, đến cả thần y Mộ Dung cũng nhất mực tin thế, không ngờ nàng lại thoát được ra ngoài... Có lẽ thông qua mạch suối ngầm trong lòng núi... Còn thanh kiếm ấy rõ rành rành còn lưu lại trong động”.

“Cho nên ta thuê rất nhiều người, mất cả nửa năm mới đào được nó ra”, Thẩm Khinh Thiền tự hào nói.

“Nơi đấy không phải địa bàn của Đường môn sao?”

“Đương nhiên. Làm việc gì cũng phải trả cái giá của nó.”

“Giá như thế nào?”, Tô Phong Nghi bất an nhìn Thẩm Khinh Thiền.

“Trinh tiết.”

Dùng trinh tiết đổi lấy bảo kiếm, đây là lần đầu tiên nàng nghe qua chuyện như thế. Tuy cuộc nói chuyện đã mấy lần bàn tới việc bí mật chốn phòng khuê, nhưng nghe thấy lời bộc bạch thản nhiên như thế, nàng vẫn cảm thấy hoảng hốt, tay run mạnh một cái, suýt chút nữa đánh rơi thanh kiếm.

“Sau đó”, Thẩm Khinh Thiền nói tiếp: “Ta đem nó tới Vân Mộng cốc bái kiến Mộ Dung phu nhân, định để vật quy nguyên chủ, nói thế nào phu nhân cũng không chịu tiếp nhận. Còn bảo, nếu đã vất vả như thế mới lấy được thanh kiếm này, vậy ngoài ta ra, nó không thể thuộc về ai khác. Phu nhân giữ ta lại ăn bữa cơm tối, còn tặng ta một bản kiếm phổ”.

Lúc nói câu này, nàng đưa mắt nhìn bầu trời xanh lam bên ngoài song cửa, trên khuôn mặt kiêu ngạo lộ ra vẻ sùng kính: “Tuy thời gian Mộ Dung phu nhân đi lại trên giang hồ cực kỳ ngắn ngủi, nhưng người vẫn là nữ nhân đầu tiên liệt danh đầu bảng trong võ lâm trăm năm nay. Về điểm này, chỉ sợ cả đời ta cũng không theo kịp”.

Tô Phong Nghi nói: “Vậy tỷ đã gặp được thần y Mộ Dung sao? Vị ấy là người thế nào?”.

Thẩm Khinh Thiền lắc đầu: “Không, lúc ta tới đó đương là mùa đông, tiên sinh đang bệnh, không thể tiếp khách”.

“Tử Hân đặc biệt thích ông ấy. Đầu giường của chàng đều là sách của Mộ Dung Vô Phong. Dưới mỗi chữ chàng đều ghi đầy ký hiệu, chắc sắp bị chàng vò hỏng mất thôi”, Tô Phong Nghi tay chống cằm, ngọt ngào nói.

Tự nhiên nghe thấy cái tên xa lạ này, Thẩm Khinh Thiền thoáng sửng sốt, hỏi: “Ai là Tử Hân?”.

“Bằng hữu của muội”, ánh mắt Tô Phong Nghi long lanh, vẻ mặt mang nét ấm áp khó tả: “Sớm muộn gì muội cũng sẽ gả cho chàng. Tỷ xem, chàng chính là đang hành y ở góc kia kìa, ngày nào giờ này cũng ở đấy”, nàng kéo Thẩm Khinh Thiền tới bên song cửa sổ, chỉ bóng người áo xám nơi con phố lớn phía xa.

Thẩm Khinh Thiền nhìn một hồi, không khỏi nhíu mày lại: “Trông hắn cũng không tệ”.

“Há chỉ là không tệ? Có mà nhìn mãi không chán!”

“Có điều, hắn làm nghề gì? Mở sạp trên con phố hỗn loạn như thế, lẽ nào hắn không có nơi ở cố định sao?”

“A, chàng là giang hồ lang trung... cũng tức là hành nghề y tự do”, nàng lắp bắp giải thích: “Một ngày có thể kiếm mười lăm lượng bạc đấy!”.

“Chân của hắn bị thương sao? Tại sao đi đường lại phải dùng trượng?”

“Đúng là rất cà nhắc à? Sao muội không cảm thấy...”, Tô Phong Nghi nhỏ giọng lí nhí.

“Muội làm sao lại quen người này?”

“Quen từ lâu rồi, rất tình cờ... Chàng đối với muội khá tốt.”

“Nhưng mà, trời trong lành thế này, cũng không nóng lắm, sao hắn choàng cái khăn to thế?”

“À chuyện này... mũi chàng có chút bệnh. Cứ ngửi thấy mùi lạ là sẽ hắt hơi”, tránh cho Thẩm Khinh Thiền hỏi mãi không thôi, Tô Phong Nghi dứt khoát kể hết một lượt: “Chàng không thể ăn rất nhiều thú, không ăn cá, tôm, cua, trứng; không ăn đậu tương, lạc, vừng; không ăn hành, tỏi, ớt, tiêu; không ăn hạnh đào, hạnh nhân, hạt dẻ; không ăn ngải, mùi, nấm, cần; không ăn quýt, cải, dưa hấu; không uống nước lạnh; không ăn thịt”.

“Chẳng thà muội kể xem hắn có thể ăn những thứ gì, có khi còn đỡ mệt đầu hơn.”

“Những thứ còn lại đều có thể ăn.”

Thẩm Khinh Thiền buồn cười nhưng không dám cười: “Đấy chính là người muội thích? Hắn cứ như một đống bệnh gom lại, rất khó hầu hạ đấy”.

Tô Phong Nghi xua tay lia lịa: “Trước giờ chàng không cần hầu hạ. Trừ bữa sáng ra, hai bữa còn lại chàng đều tự mình làm. Nếu như có vào khách điếm, chàng sẽ đưa cho chưởng quỹ nhiều tiền hơn một chút, sau đó vào nhà bếp tự mình làm món ăn, không cho người khác động tay vào... Tỷ phải biết, người trong thiên hạ, cứ có bệnh là có vấn đề. Có bệnh nhưng không thành vấn đề như Tử Hân, quả thật rất hiếm đấy!”.

“Thế à... thật là kỳ lạ lắm thay. Tay nghề của hắn có tốt không?”

“Rất tốt, làm rất tinh tế. Chỉ là chẳng có mấy mùi vị. Có điều, nhiều năm như thế rồi, chắc chắn chàng đã có tiến bộ...”

“Gả cho một người như thế, chẳng phải là quá nhiều phiền phức sao?”

“Không phiền phức, không phiền phức chút nào. Muội chỉ muốn kiếm nhiều tiền một chút, tương lai mua một ngôi nhà lớn, bọn muội sống cùng nhau. Chàng muốn mở quán khám bệnh thì mở quán khám bệnh, không muốn thì có thể hằng ngày đưa bọn trẻ ra ngoài câu cá.”

Thẩm Khinh Thiền đơn giản là không dám tim vào lỗ tai mình nữa: “Ý muội là, muội kiếm tiền, hắn nghỉ ngơi?”.

Nàng gật đầu thật mạnh: “Muội kiếm tiền dễ hơn chàng, tiêu tiền tiết kiệm hơn chàng. Nhất định phải là muội kiếm tiền mới được”.

“Phong Nghi”, Thẩm Khinh Thiền có chút cảm động: “Nếu muội có tấm lòng và quyết tâm như thế, làm gì không tìm được nam nhân tốt? Đáng tiếc Ngũ ca của ta vừa mới qua đời... nếu không...”.

“Tử Hân chính là nam nhân tốt nhất. Muội sẽ gả cho chàng, sau đó sinh cho chàng hai đứa con trai, một đứa gọi là Diêu Hoan, đứa kia gọi là Diêu Hỷ”, Tô Phong Nghi kiên định nói, gương mặt sáng bừng.

Thẩm Khinh Thiền vuốt ve khuôn mặt nàng, dịu dàng nói: “Yêu một người là một điều hạnh phúc. Phong Nghi, ta mừng thay cho muội. Muội ở khách điếm nào? Ta chuyển tới ở với muội. Kẻ nào dám bắt nạt muội, ta giết kẻ đó!”.

“Tốt quá!”

Ngày hôm ấy, thu hoạch lớn nhất của Tô Phong Nghi chính là quen biết Thẩm Khinh Thiền.

Tình bạn giữa nam nhân và tình bạn giữa nữ nhân khác nhau như thế.

Nàng cố hết sức nghĩ cách tạo dựng mối quan hệ với Tử Hân, từ đầu tới giờ vẫn là khó khăn trùng trùng, mỏng manh khôn tả.

Còn với Khinh Thiền thì hoàn toàn ngược lại, gặp nhau là hợp, trong vòng mấy canh giờ đã dốc gan dốc ruột, không rời được nhau.

Hai người dắt tay nhau dạo phố một canh giờ rồi cùng nhau về Dụ Long khách điếm.

Vừa vào cửa, đã nhìn thấy Tử Hân đang ngồi uống trà, bên cạnh lại có thêm một người trẻ tuổi.

Tô Phong Nghi nhìn kỹ, nàng lập tức cảm thấy không thoải mái.

Người trẻ tuổi này chính là hoa hoa công tử mà sáng nay nàng gặp gỡ ở tiệm đồ cổ Vinh Ký, trên tay hắn vẫn đang đeo chiếc nhẫn ngọc đắt tiền kia.

Lúc bước vào, hai người kia đang thấp giọng trò chuyện... Nói đúng ra, một mực nói mãi không thôi là người trẻ tuổi nọ còn Tử Hân chẳng qua là thi thoảng gật đầu, mỉm cười liên tục mà thôi.

Người kia vừa nói vừa vỗ vai Tử Hân, bộ dạng như hoạn nạn chi giao nhiều năm chưa gặp, thái độ thân mật còn hơn cả Quách Khuynh Quỳ mười lần.

Tô Phong Nghi đi tới bên bàn, hỏi: “Là công tử?”.

“Là tôi. Tô cô nương cũng ở đây sao?”, người nọ khách khí chào hỏi.

“Đúng thế! Chiếc nhẫn ấy...”

“Không, không, không, tôi không đến tìm cô nương.”

“Vậy công tử và Tử Hân... quen nhau?”

“Đương nhiên, bạn tốt thuở nhỏ, sau khi lớn lên vẫn thường qua lại, không ngờ lại gặp huynh ấy ở đây, người nọ cười, nụ cười có chút yêu mị: “Tôi chỉ mới biết cô nương họ Tô, đang định thỉnh giáo Tử Hân danh tự của cô nương.”

Tử Hân nghĩ ngợi, không nghĩ ra liền ngước mắt lên nhìn Tô Phong Nghi: “Xin lỗi, tên cô là Tô gì?”

“Tô Phong Nghi, phong trong phong vân, nghi trong nghi Thủy[1]”, nàng không hề tức giận.

[1] Nghi là tên một con sông ở Trung Quốc. Nghi Thủy tức là sông Nghi.

“Tôi tên là Đường Hành”, người trẻ tuổi kia cười nhẹ.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.