Mê Thần Ký

Chương 23



Khám xong một lượt cho toàn bộ ba mươi bảy bệnh nhân cuối cùng, cho uống thuốc, thoa thuốc lên vết loét xong, Tử Hân đã mệt tới đầu váng mắt hoa, chàng cảm thấy bàn tay chống trượng không ngừng run lẩy bẩy.

Chàng vịn vào thành cửa bước ra khỏi nhà của bệnh nhân cuối cùng, đang định quay về căn phòng nhỏ tạm thời của mình thì thân thể không kìm được mà loạng choạng. Đúng lúc ấy, có người giữ lấy tay chàng, người chàng mềm rũ đi, gần như đổ vào lòng người đó.

“Phong Nghi?”, Tử Hân quay đầu lại, kinh ngạc thốt lên.

“Ha ha, không ngờ là muội đúng không? Huynh trốn ở đây sao, báo hại muội phải tìm đến khổ!”, Tô Phong Nghi cười, nâng nâng cái làn trong tay: “Xem huynh đói tới mức hai mắt bị dại đi rồi kìa, muội mua cho huynh đồ ăn ngon rồi đây! Màn thầu cỡ lớn, canh ý dĩ bí đao, mướp đắng xào. Phải ăn nhiều mướp đắng vào, để trừ hỏa, nếu không toàn thân nổi mụn nhọt thì phiền to đấy”.

Tử Hân nắm lấy tay nàng, vội vàng hỏi: “Sao muội lại vào được đây? Muội đi một mình à?”.

“Đương nhiên không phải một mình.”

Chàng ngập ngừng một chút rồi nói: “Đường Hành…”.

Tô Phong Nghi vội vàng ngắt lời chàng: “Chuyện hôm đó là như thế này. Đường Hành nói, huynh ấy muốn dạy muội Ngọc Nữ Tâm Kinh, cũng là một loại võ công tuyệt thế. Chỉ là lúc luyện loại võ công này cần hai nữ tử khỏa thân ngồi đối diện nhau, bàn tay áp vào nhau để nội khí đi một vòng chu thiên. Kinh Thiền đang bị trọng thương, muội không tiện phiền tỷ ấy, lại nghĩ đây là cơ hội hiếm có, mà Đường Hành về cơ bản thì cũng xem như một nữ nhân, bọn muội bèn tìm chỗ phong thủy cực đẹp cùng nhau luyện công. Lúc huynh tới thì vừa luyện xong thức thứ nhất, đang nghỉ ngơi. Huynh không được hiểu lầm đâu đấy!”, nói xong nàng vỗ vỗ vai Tử Hân rồi lại nói tiếp: “Hiểu lầm muội thì chẳng sao đâu, nhưng Đường Hành là bằng hữu tốt của huynh. Nếu huynh hiểu lầm huynh ấy, huynh ấy sẽ rất buồn đấy. Được rồi, bây giờ chúng ta ăn cơm thôi!”.

Tử Hân vẫn chưa kịp hiểu cho rõ ràng là có chuyện gì thì đã bị Tô Phong Nghi kéo về phòng của chàng như một cơn gió lốc.

Ăn xong hai cái màn thầu, Tử Hân nói: “Phong Nghi, mau mau ra đi, đây không phải nơi muội có thể ở lại”.

“Huynh không mắc bệnh sao?”, Tô Phong Nghi quan sát chàng thật kỹ rồi hỏi ngược lại.

“Không! Loại ôn dịch này hay xảy ra ở những chốn hẻo lánh nghèo đói. Ta từng đi qua quá nhiều nơi thế rồi, đều không bị lây nhiễm.”

“Có cách trị khỏi không?”

“Trong sách y cũng có ghi đấy, ta đã viết mấy đơn thuốc để Đinh tướng quân theo đó mà sắc. Bây giờ những bệnh nhân này ngày nào cũng uống canh thuốc, đáng tiếc hiệu quả quá chậm, chỉ có thể kéo dài thời gian mà thôi, hôm qua lại chết thêm một người. Đại phu quá ít, một mình ta làm không xuế”, Tử Hân húp vội ngụm canh, vừa húp canh, một tay vừa túm chặt lấy Tô Phong Nghi kéo đi.

“Huynh kéo muội làm cái gì?”

“Cảm ơn muội mang thức ăn tới. Ta giờ lập tức đưa muội ra ngoài, muội tuyệt đối không thể ở lại đây lâu!”

“Không phải nói một mình huynh làm không xuể sao? Muội không đi, muội ở lại giúp huynh. Lúc vào đây, muội đã giúp mấy người rồi”, nàng dương dương đắc ý nói: “Có một vị nãi nãi xin muội chôn giúp con trai bà ấy, muội liền đào một cái hố, giúp bà ấy chôn con xuống, Ai dà, người chết thật là nặng”.

Tử Hân nghe thế toàn thân chấn động như bị sét đánh, giọng nói không khỏi to thêm mấy lần: “Muội nói cái gì? Muội đã chạm vào mấy người chết đấy?”.

“Thì cũng là kéo bọn họ xuống hố thôi.”

“Phong Nghi, ngồi lên giường, cởi y phục ra”, mặt Tử ân tái xanh trông đến đáng sợ.

“Tại sao?”

“Căn bệnh này phát tác cực nhanh, ta phải kiểm tra một chút.”

Nàng ngoan ngoãn nằm xuống, để Tử Hân cởi bỏ y phục của mình.

Trong mộng nàng từng tưởng tượng ra cảnh mình lõa thể trước mặt Tử Hân, nàng mơ thấy mình nằm trên một chiếc lá sen, bên dưới là mặt hồ khe khẽ lăn tăn, một đàn cá nhỏ vây bên lá sen đớp nước, sương sớm từ đóa sen nhỏ xuống, Tử Hân chèo thuyền, uyển chuyển nhẹ nhàng đưa nàng xuống thuyền như hái một đóa sen. Nàng cuộn người, chờ đợi Tử Hân khai mở nàng tựa như khoa mở đóa hoa còn e ấp nụ.

Nhưng tình cảnh bây giờ khiến nàng ngượng ngùng, thái độ của Tử Hân khi nghiên cứu thân thể nàng giống hệt như đang nghiên cứu một loại bệnh tình. Nàng như một đứa bé sơ sinh, mở to đôi mắt ngây ngô nhìn chàng, không biết rốt cuộc chàng đang làm cái gì.

“Đừng căng thẳng”, Tử Hân cười.

Chàng phát hiện ba nốt ban đỏ to bằng móng tay ở eo nàng. Chàng biết những nốt ban đỏ này tới tối sẽ biến thành một mảng lớn, giống như chiếc đai lưng ôm lấy bụng nàng. Sau đó nó sẽ bắt đầu lan toàn thân, kế đến là lên cơn sốt, lở loét, trong vòng ba tới năm ngày sẽ mất mạng.

“Thế nào rồi?”, Tô Phong Nghi khẽ hỏi.

Tử Hân ngây ra nhìn nàng, không nói gì.

Tô Phong Nghi liền cúi đầu xuống nhìn thấy chấm đỏ trên eo mình.

Bàn tay đang giữ nàng khe khẽ run, Tử Hân cúi gằm cố giấu đi đôi mắt đã ướt nhòe, nhẹ nhàng nói: “Những người chết đó… muội không nên chạm vào”.

Tô Phong Nghi không tỏ ra lo buồn chút nào, chỉ tĩnh lặng chăm chú nhìn chàng: “Muội biết”.

Tử Hân khép mắt, lại nhìn thấy Tiểu Mi.

“Tại sao thế? Sao muội phải vào đây tìm ta?”, tim chàng quặn đau, tuyệt vọng tột cùng.

Ánh mắt Tô Phong Nghi mênh mang nhìn vào cô gái trần truồng nằm giữa bãi đất, thầm thì nói: “Từ hồi còn rất nhỏ, muội đã muốn chết rồi, cho tới sáu năm trước gặp được huynh. Lúc ấy muội mới biết trên đời này, thì ra cũng có người tốt, muội không nên tuyệt vọng trong cuộc sống. Trong sáu năm rồi, mỗi lần gặp phải phiền não, muội đều nghĩ tới huynh. Muội quen một người xa lạ, nhưng lại vào được một thế giới ấm áp. Trong ảo tưởng của muội, mỗi thời, mỗi khắc muội đều ở cùng huynh… Loại ảo tưởng ấy rất buồn cười, thật đấy. Đến chính muội còn tự cười nhạo bản thân cơ. Nhưng đời người thì luôn cần một chút ảo tưởng, không phải sao?”.

Tử Hân sững sờ nhìn nàng, không biết vì sao chợt nhớ tới Tử Duyệt.

Trừ việc tính tình có hơi nóng nảy khó chiều ra, chàng luôn cho rằng Tô Phong Nghi giống hệt Tử Duyệt, nàng là cô gái vui tươi cởi mở.

Không phải, nàng không phải.

Đời người thì ra mâu thuẫn như thế. Đằng sau khuôn mặt tươi cười hớn hở, chẳng chút lo sợ lại ẩn giấu linh hồn cô đơn, nhút nhát. Giống như cái chết bất chợt của Tiểu Mi đã ảnh hưởng tới cả đời chàng, một lần gặp gỡ tình cờ của chàng với Phong Nghi đã thay đổi thế giới của nàng.

Lần này, chàng tuyệt đối không để một cô gái chết trong tay mình nữa.

Chàng ngồi bất động bên cửa sổ chăm chú suy tư, nửa canh giờ qua đi, rồi thêm một canh giờ nữa.

Trời dần dần chuyển tối.

Tô Phong Nghi nằm bên cạnh chàng yên ổn ngủ say.

Ánh sao lấp lánh, dãy núi phương xa hằn vào trời đêm như vẽ.

Đôi mắt chàng chợt động, đột nhiên đứng phắt dậy đưa Tô Phong Nghi lên yên ngựa, phi về phía dãy núi tối tăm kia.

“Thống lĩnh, hai người này chúng ta có bắn không?”, một binh sĩ hỏi.

“Đinh tướng quân có dặn, phàm là người Diêu đại phu đưa đi thì không bắn.”



Tử Hân vừa đưa Phong Nghi ra khỏi tiểu trấn đã có một người cưỡi ngựa nhanh chóng đuổi theo sau.

“A Phong! A Phong! Đợi ta với!”

Tử Hân ghìm ngựa, quay đầu nhìn thấy Vương Lộc Xuyên lập tức nói: “Đừng qua đây, muội ấy nhiễm bệnh rồi”.

Tử Hân nói: “Tôi đưa muội ấy tới Thanh Lĩnh sơn. Nghe nói bệnh này đầu tiên chính là do sơn phỉ trên Thanh Lĩnh sơn truyền xuống. Người trong núi kiếm đồ chốn hoang dã mưu sinh, ăn uống không sạch sẽ, dễ bị nhiễm bệnh lạ. Nếu có thể biết căn nguyên của bệnh thì có khả năng tìm ra thuốc chữa”.

Vương Lộc Xuyên nói: “Nếu là như vậy, tôi đưa huynh đi hỏi một người, không cần thiết phải chạy đâu xa”.

Tử Hân hỏi: “Huynh quen sơn phỉ sao?”.

“Vừa mới quen được một vị.”

Vương Lộc Xuyên bộ dạng lén lén lút lút, đưa Tử Hân và Phong Nghi đi lòng vòng khu chợ ngoài trấn một lúc, cuối cùng tới một ngôi nhà nhỏ ẩn mật. Gõ cửa vài cái, trong nhà có người ứng tiếng rồi mới đẩy mở cửa.

“Thật khéo quá, mọi người đều có mặt đông đủ cả”, Vương Lộc Xuyên vừa vào cửa vừa nói.

Trong phòng đèn đón sáng sủa, quanh cái bàn tròn có Quách Khuynh Quỳ, Thẩm Khinh Thiền, Đường Hành cùng một vị trung niên dáng hình tiều tụy và một sơn dân lùn tịt.

Thấy ở đó toàn bằng hữu, Tử Hân mừng rỡ, nói luôn: “Phong Nghi vừa mới nhiễm bệnh, rất nguy hiểm, hai người bọn tôi sẽ đứng ở cửa nói chuyện, xin mọi người không cần tới đây, càng không được chạm vào cô ấy”.

Vương Lộc Xuyên tìm ghế cho hai người, sau đó nói với Tử Hân: “Không phải huynh muốn tìm sơn phỉ sao? Vị Ngân đao Tiểu Sái này chính là lão đại của sơn phỉ”.

Chẳng buồn nhiều lời, Tử Hân trực tiếp hỏi luôn: “Chẳng hay mấy tháng nay, Sái huynh có từng nghe trong sơn trại nào có số lượng lớn người đột nhiên mắc bệnh. Bệnh trạng đầu tiên toàn thân nổi ban đỏ, kế đến là sốt cao, lở loét rỉ máu, cuối cùng thì không chữa được mà qua đời không?

Tiểu Sái nói: “Chính trong trại của tôi có người mắc bệnh ấy. Ba tháng trước có tới năm chục người mắc bệnh, một hơi chết mất mười sáu vị huynh đệ. Sau đó mọi người lại dần khỏe lên”.

Mắt Tử Hân sáng lên, hỏi: “Nói như vậy, bệnh dịch không hề phát tán rộng ra? Xin hỏi Sái huynh, mấy người đó rốt cuộc đã uống loại thảo dược gì?”.

Tiểu Sái lắc đầu: “Làm gì có thảo dược đâu? Là một loại thịt hồ ly. Nghe người già trong trại nói, trên núi này có nhiều rắn, người trong núi thích ăn thịt rắn, ăn nhiều sẽ bị mắc loại bệnh nổi ban này, Mà trong núi lại có một loại hồ ly cũng thích ăn thịt rắn, người già nói nếu ăn thịt loài hồ ly ấy thì sẽ chữa khỏi bệnh nổi ban đỏ. Chúng tôi trước giờ chưa từng ăn thịt hồ ly, nghĩ tới là cảm thấy khó chịu, nhưng mà chết mất nhiều người như thế thì không dám không liều thử một phen. Thế là đi bắt vài con về, nấu lên thành canh thịt chia nhau ăn. Ai ngờ ăn rồi không lâu sau thì ban đỏ dần hết, tránh cho bao nhiêu người phải chết uổng. Sao rồi? Lẽ nào trận ôn dịch ở Sơ An trấn này chính là loại bệnh ban đỏ trên núi chỗ chúng tôi?”.

Tử Hân nói: “Nghe huynh nói thế thì có tám chín phần là vậy. Trong trấn này, không ít người có quan hệ với Thần Thủy trại, có lẽ là mắc bệnh ở trên núi rồi lúc quay về truyền cho hương dân cũng nên”.

Tiểu Sái chỉ người thấp lùn bên cạnh nói: “Nếu tôi sớm biết thì tốt rồi. Bây giờ huynh cũng không cần tìm người đi bắt hồ ly nữa. Vị này là huynh đệ của tôi, hồ ly cả trại chúng tôi ăn, toàn bộ là do một mình hắn bắt. Tiểu Kim, cứu người là chuyện gấp, hay là giờ đệ lên núi bắt mấy con về giải nguy?”.

Tiểu Kim đáp một tiếng rồi đi. Thấy bệnh tình của Tô Phong Nghi có hy vọng, mọi người đều thở phào một tiếng.

Tô Phong Nghi nghe xong tinh thần cũng khá lên gấp bội, cười nói: “Kỳ quái thật, sao mọi người lại tụ tập hết ở đây thế này?”.

Quách Khuynh Quỳ nói: “Bởi vì bọn ta có một chuyện phải làm”.

Tô Phong Nghi hỏi: “Chuyện gì thế?”.

Quách Khuynh Quỳ thầm nghĩ Tử Hân và Tô Phong Nghi đều không phải người ngoài, liền kể chuyện của Tiểu Sái cho hai người nghe, nói là vốn dự định đêm nay sẽ cùng nhau tới quân doanh của Đinh tướng quân cướp người.

Tử Hân nghe xong lắc đầu: “Không ổn”.

Tiểu Sái hỏi: “Sao lại không ổn?”.

Tử Hân nói: “Tôi đã từng tiếp xúc với Đinh tướng quân, người này khắt khe tàn nhẫn nhưng am tường binh pháp, quân kỷ cực kỳ nghiêm minh, dưới tay có ba vạn nhân mã, không dễ đối phó đâu”.

Tiểu Sái than: “Huynh nói không sai. Nếu chẳng phải thế, ông ta cũng không thể đoạt lấy Thần Thủy trại nhanh như vậy. Bọn tôi cũng đã đi tới đường cùng, đành mạo hiểm thử thôi”.

Tô Phong Nghi hỏi: “Sao không nghĩ cách tìm lại tiền quân lương bị mất?”.

Đường Hành nói: “Không tính hôm nay, thời hạn giao bạc cho Đinh tướng quân chỉ còn có hai ngày. Chúng ta thì tới tung tích bạc ở đâu còn chưa mò ra”.

Tô Phong Nghi hỏi: “Ban nãy nghe Sái đại ca nói, mười tám vạn lượng bạc đó chưa vào núi đã bị cướp đi?”.

“Không sai, bị cướp ngay trong doanh trại bọn họ dựng ngoài núi… người trong doanh trại đều bị giết sạch.”

“Có khả năng do người trại khác cướp”, Tử Hân nói: “Tuy Thần Thủy trại là lão đại nhưng người thấy tiền động tâm chẳng ít”.

“Có một chuyện rất kì quái”, Thẩm Khinh Thiền nãy giờ im lặng đột nhiên nói: “Thời gian ấy Tam Hòa tiêu cục chúng tôi cũng áp tải một chuyến tiêu từng ấy tiền theo lộ trình từ tây sang đông có đi ngang Thanh Lĩnh. Bọn họ đi hết sơn đạo mà vẫn bình an vô sự”.

“Đúng vậy”, Đường Hành cũng nói: “Cướp bạc của tiêu cục an toàn hơn nhiều cướp bạc của quan phủ. Kẻ đi cướp sao lại phải bỏ dễ tìm khó như thế?”.

Tô Phong Nghi nghĩ ngợi rồi hỏi: “Kinh Thiền, tỷ có biết Tam Hòa tiêu cục áp tiền cho nhà nào không?”.

Thẩm Khinh Thiền đáp: “Là dược ngân của Vân Mộng cốc, áp tải tới Thông Nguyên Ngân hiệu ở Gia Khánh”.

“Người áp tiêu sau khi quay về có từng nói gặp phải phiền phức gì không?”

“Không hề… Bởi vì chuyến tiêu ấy số tiền quá lớn cho nên phụ thân, nhị ca, tam ca tôi đều đi cả.”

Tô Phong Nghi định nói gì đó nhưng rồi lại ngậm miệng lại.

Tiểu Sái nói: “Tô cô nương nghĩ gì, xin cứ nói đừng ngại. Chuyện này can hệ tới hơn tám chục mạng người. Chỉ còn cách thời hạn sau cùng có hai người nữa, chỉ cần có một tia hy vọng, chúng tôi cũng sẽ tận lực mà làm”.

Tô Phong Nghi cười nhẹ: “Muội chỉ đoán linh tinh, gần như là hoang đường. Mọi người có muốn nghe chăng?”.

Quách Khuynh Quỳ lên tiếng: “Mau nói đi, đừng vòng vo nữa”.

Tô Phong Nghi nói: “Có khả năng hai nhà đều sợ sơn phỉ trên Thanh Lĩnh, đều sợ nhỡ mà mất bạc thì khó ăn nói, lại cùng biết số lượng bạc hai bên tương đương, cho nên đây đó đổi nhau, để không ai cần áp tiền mạo hiểm đi qua chân Thanh Lĩnh Sơn”.

Mọi người cùng hỏi: “Thế nào là ‘đây đó đổi nhau’?”.

“Chính là hai bên phái người tới chỗ đối phương, coi quân tiền là dược ngân áp tải tới Thông Nguyên ngân hiệu, lại coi dược ngân là quân tiền áp tải lên tây bắc. Như thế hai bên đổi người chứ không đổi tiền, chỉ có người là đi qua núi, như thế tự nhiên an toàn hơn nhiều.”

Tiểu Sái nghe chưa hiểu: “Nhưng tiền vẫn bị cướp!”.

Tô Phong Nghi cười khổ, không tiện nói tiếp.

Đường Hành nhạt giọng nói: “Ý Tô cô nương là, tiền bị cướp không phải là tiền quân lương mà là dược ngân”.

Thẩm Khinh Thiền há hốc miệng, kinh ngạc thốt: “Cái gì? Có chuyện như thế sao?”.

Tiểu Sái gật đầu: “Như thế đúng là có thể giải thích vì sao quân tiền tới trước núi rồi lại chần chừ không xuất phát”.

Tô Phong Nghi nói: “Muốn chứng minh cũng rất dễ. Chỉ cần phái người tới Thông Nguyên ngân hiệu lấy về một đĩnh bạc dược ngân là mọi chuyện sẽ sáng tỏ ngay”.

Tử Hân hỏi: “Lẽ nào trên đĩnh bạc có ký hiệu?”.

“Chớ quên muội chính là làm nghề đồ cổ, đối với tiền nong các đời đều hứng thú cả”, Tô Phong Nghi dương dương tự đắc: “Bình thường thì trên đĩnh bạc sẽ có rất nhiều ký hiệu. Bạc từ phiên khố nhà quan xuất ra, quá nửa là do cùng một xưởng đúc nấu, bên trên có khắc tháng năm, tên quan chủ quản cho tới tên thợ. Còn dược ngân của Vân Mộng cốc tuy không phải là bạc của quan phủ nhưng bên trên chí ít cũng sẽ khắc tên tiệm bạc và tên thợ đúc bạc”.

Tiểu Sái nói: “Tôi vẫn không hiểu rốt cuộc là ai cướp bạc”.

Tô Phong Nghi muốn nói lại thôi.

Đường Hành nói: “Ý của Tô cô nương là, nếu như muội ấy đoán đúng, chí ít cuối cùng chúng ta cũng đã có một đầu mối”.

Tiểu Sái và Thẩm Khinh Thiền cùng hỏi: “Đầu mối gì?”.

Đường Hành nói: “Muốn kiểm chứng cũng dễ thôi. Sáng mai chỉ cần phái một người tới Thông Nguyên ngân hiệu lấy về một đĩnh bạc kiểm tra là tất cả sẽ rõ ràng”.

Quách Khuynh Quỳ nhẹ giọng nói: “Vậy thì phải phiền Tử Hân đi một chuyến. Tôi nghĩ Tô cô nương nên ở lại đây uống canh hồ ly”.



Sáng ngày hôm sau, Tử Hân phóng ngựa tới Thông Nguyên ngân hiệu, đem về một đĩnh bạc năm mươi lượng. Ngân hiệu kia vốn là sản nghiệp của Vân Mộng cốc, dược ngân sớm đã được chia ra vận chuyển đi các nơi, mày mà vẫn còn một vạn lượng còn nguyên trong bao, niêm phong chưa mở.

Lúc ấy, Tiểu Sái đã sốt ruột tới mức lòng như lửa đốt, vội đón lấy đĩnh bạc vào tay kiểm tra kỹ càng, rồi thân thể chợt run bắn, “bịch” một tiếng đã quỳ xuống trước mặt Tô Phong Nghi: “Tô cô nương, cô cứu được tám mươi lăm mạng người rồi!”.

Ở giữa đĩnh bạc kia có mấy hàng chữ khắc chìm:“Một đĩnh quan ngân của Lưỡng Chiết phiên khố, nặng năm mươi lượng. Bố Khố đại sứ Vệ Đông Thăng, thợ bạc Dương Côn”.

Vương Lộc Xuyên đứng một bên nói: “Chỉ cần giao đĩnh bạc này cho Đinh tướng quân, chí ít ông ta sẽ biết Thần Thủy trại bị oan uổng. Chắc là sẽ lập tức thả tám mươi lăm người kia, rồi lại phái người tra hỏi Tam Hòa tiêu cục xem rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì”.

Mọi người đang mừng rỡ, Đường Hành chợt than: “Đĩnh bạc này chỉ sợ khó mà tới được tay Đinh tướng quân”.

Ngoài cửa bỗng truyền tới bước chân ồn ã.

Mặt sau ngôi nhà là cái sân lớn, ở giữa có một giếng lục giác, bốn phía trồng dày đặc một giống hoa quỳ[1] cao hơn đầu người.

[1] Hướng dương.

Thẩm Khinh Thiền thấy một lão nhân cầm đao ngồi trên thành giếng, kinh hãi kêu lên một tiếng, xong ra gọi: “Cha, sao người lại ở đây?”.

Thẩm thái lạnh nhạt liếc nàng một cái, ánh mắt rỗng không, nét hiền từ ngày xưa chẳng thấy đâu nữa: “Khinh nhi, con đứng phe nào?”.

Thẩm Khinh Thiền bất giác lùi lại hai bước, lùi đến bậc cửa, giọng run run: “Cha, lẽ nào tiêu cục… tiêu cục của chúng ta đã cướp quan ngân?”.

“Chúng ta cũng là bị ép không biết làm sao”, Thẩm Thái lạnh lùng đưa mắt dò xét nàng: “Vốn đã thương lượng xong với Vệ đại nhân việc hai bên tráo đổi, không ngờ đêm trước hôm tráo đổi, có kẻ thần không biết quỷ chẳng hay cướp mất tiêu hàng của chúng ta. Khoản tiền ấy lớn như thế, chúng ta quả thật không đền nổi, vả lại thể diện của tiêu cục cũng chẳng biết để vào đâu”.

Thẩm Khinh Thiền Nói: “Là ai cướp tiêu của chúng ta?”.

Ánh mắt Thẩm Thái quét qua khuôn mặt hoảng hốt của con gái, rơi xuống người Đường Hành: “Phụ thân ngươi cũng tới rồi, ắt hẳn cũng là vì chuyện này, đúng không?”.

Đường hành lãnh đạm nhìn lão, đáp: “Không sao, Đường môn cũng đang tìm khoản tiền ấy”.

“Đây chẳng phải là ý của Đường đại tiên sinh sao?”, Thẩm Thái cười lạnh: “Đường môn nợ nồng chất đống, hắn thì nóng lòng lập công, tự nhiên bèn sai khiến thủ hạ trong giang hồ minh tranh ám đoạt”.

“Người phát hiện ra chuyện này trước tiên là Đường Ấn Tăng, tổng quản tài vụ trước đây của Đường môn. Lão nhân gia người thân già tâm không già, từ lời chuyện phiếm với thủ hạ trước của mình nhanh chóng phát hiện có một khoản tiền lớn nhập vào sổ sách, việc tài vụ trước nay khó khăn bỗng nhẹ nhàng đi nhiều. Người bèn đề cập chuyện này với Đường đại, muốn phái người kiểm tra sổ sách”, Đường Hành điềm đạm kể: “Không ngờ lại bị Đưởng Hoàn nhanh tay hạ độc thủ trước”.

Thẩm Thái lạnh lùng hừ một tiếng, nói: “Nếu chẳng phải Đường môn hạ độc, há bọn ta lại có thể dễ dàng bị cướp sao? Hôm đó tất cả đội ngũ nhân mã của bọn ta đều hôn mê ngủ gục, lúc tỉnh lại, tiêu hàng đã không cánh mà bay”.

Chợt nghĩ tới cái gì đó, Thẩm Khinh Thiền chạy vụt vào nhà, kéo Tiểu Sái hỏi nhỏ: “Khuynh Quỳ đâu? Sao tôi đi ăn sáng về đã chẳng thấy chàng đâu nữa?”.

Tiểu Sái lộ vẻ nghi hoặc: “Không phải cô nương sai người đưa tới chiếc nhẫn rồi gọi huynh ấy đi rồi sao? Khuynh Quỳ còn nói chỉ sợ cô nương gặp phải đại ca của huynh ấy. Ai là đại ca của huynh ấy?”.

Sắc mặt Thẩm Khinh Thiền biến hẳn đi, khàn giọng hỏi: “Cái gì? Tôi chỉ ra ngoài ăn chút đồ, không hề sai người gọi chàng!”.

Thấy nàng hoảng hốt như thế, Tiểu Sái lại càng không hiểu chuyện gì đang xảy ra, bèn chỉ tay nàng, hỏi: “Nhưng tại sao trong tay người kia lại có chiếc nhẫn này của cô nương?”.

Thẩm Khinh Thiền cắn răng, toàn thân chợt lạnh toát: “Chiếc nhẫn này là do mẫu thân tôi tặng, vốn có một đôi. Chiếc kia trong tay bà ấy”.

Mặt đất lầy phía cửa sau bỗng nghe đánh “bình” một tiếng, Thẩm Không Thiền quăng một bao gai to dài xuống đất phát ra âm thanh trầm nặng. Hắn dùng lực kéo mạnh đáy boa, một người mềm oạt bên trong lộn ra!

Đường Hành nhìn thấy người nọ bất giác nộ khí xung thiên, các đốt ngón tay bị siết chặt kêu lách cách!

Người kia thân hình vốn cao to, bây giờ đã bị vặn thành một đống. Mỗi đốt xương trên người đều bị đánh vỡ nát. Mặt mày hắn nhợt nhạt, thân thể máu me be bét, mọi người chỉ có thể từ hình dạng bộ râu quai nón của hắn mà miễn cưỡng đoán ra người này là Quách Khuynh Quỳ!

Thẩm Không Thiền đưa chân đá mạnh người dưới đất một cước, ngước lên trời gào to: “Quách Khuynh Trúc! Ngươi ra đây! Ngươi mau ra đây! Quách Khuynh Quỳ ở đây này! Ngươi còn không chịu ra đây nhận xác đệ đệ của mình à?”.

Hắn điên cuồng gào liền mấy câu, người dưới chân hắn thì vẫn nằm yên lặng, chẳng cử động gì, tuy bị người ta đá cho một cước rất mạnh nhưng thân thể chẳng chút phản ứng. Thẩm Không Thiền cúi đầu xuống, nhận ra Thẩm Khinh Thiền bất tri bất giác đã đi tới trước mặt mình.

Bước đi của nàng cứng ngắc, thần sắc đáng sợ, một cước kia của Thẩm Không Thiền như đã đạp vào tim nàng.

“Thất muội, có phải muội muốn nghe tiếng xương cốt của hắn vỡ nát không?”, Thẩm Không Thiền cười lạnh lẽo: “Muội không nghe được rồi, bởi vì mỗi đốt xương của hắn đều đã bị đập nát”.

Nàng không thèm nhìn tới hắn, tiếp tục đi tới thẳng trước mặt Quách Khuynh Quỳ rồi nhẹ nhàng ngồi xuống, đưa tay sờ vào mũi hắn.

Hơi thở của hắn đã tắt.

Nàng quỳ xuống, chỉnh lại thân thể đang cuộn gập của hắn một chút, để cho tứ chi vắt vẻo của hắn được duỗi hết ra… giống như một thê tử thấy tư thế ngủ của trượng phu mình không ổn, liền nhẹ nhàng giúp chàng chuyển người lại. Sau đó, nàng nhẹ nhàng hôn lên trán hắn, thầm thì nói: “Khuynh Quỳ, thế này chàng đã thoải mái hơn chưa?”.

“Không cần đối tốt với hắn thế làm gì”, Thẩm Không Thiền nói: “Hắn chết lâu rồi”.

Thẩm Khinh Thiền quay đầu lại, lạnh lùng nhìn hắn, không đáp lời. Bỗng trong một thoáng ấy, ngón tay trỏ của nàng khẽ động, “choang” một tiếng, ánh tím lóe lên, thân thể nàng vụt bay, chớp mắt một làn kiếm quang đã trùm lên Thẩm Không Thiền!

Đây là sát chiêu thành danh nức tiếng giang hồ của nàng “Thanh Đình thập cứu thức”, nàng chưa từng nghĩ sẽ có một ngày dùng nó với người thân của mình.

Nàng cười nhạo Quách Khuynh Trúc, cảm thấy người này cả đời lụy vì thù hận, thật chẳng đáng.

Bởi vì đời người hãy còn rất nhiều chuyện đẹp đẽ khác.

Còn bây giờ, nàng chợt thấy hiểu cảm giác của Quách Khuynh Trúc, cái cảm giác đau đớn phải nhìn thấy người thân yêu bị giày vò đến chết thật không thể quên nổi, cũng không cách nào tha thứ!

“Dừng tay! Hỗn láo!”, Thẩm Thái gầm lên một tiếng: “Khinh Thiển, đấy là ca ca con, đến cả người nhà con cũng không tha à?”.

Thẩm Khinh Thiển không ngừng tay mà ngược lại càng đấu càng ác liệt, lạnh lùng trầm tĩnh giống như một cao thủ chân chính.

“Nói cho con biết, ra tay đập nát xương cốt của nó là ta”, Thẩm Thái trầm giọng nói: “Quách Khuynh Trúc đã giết hai con trai của ta, con nói xem, ta có tư cách làm thế không?”.

Thẩm Khinh Thiển cay đắng trong lòng, chợt thu kiếm lại, không dám tin vào tai mình: “Cha, là người sao? Thì ra là người!”.

Phụ thân luôn luôn yêu nàng, chiều nàng. Từ nhỏ tới lớn, nàng một mực cho rằng bất kể bản thân muốn làm gì, phụ thân đều sẽ đồng ý, đều sẽ bằng lòng. Phụ thân có thể lạnh nhạt với mẫu thân, có thể mắng chửi ca ca, chỉ có nàng mới là viên minh châu trong tay phụ thân.

“Vẫn là chủ ý của mẹ con thật hay, trên đời này đúng là chỉ có mẫu thân mới hiểu được tâm tư con gái”, phụ thân lại khôi phục vẻ hiền từ ngày thường: “Khinh nhi, đợi chúng ta giết sạch đám người này, Tam Hòa tiêu cục sẽ không sao nữa. Con mau lấy đĩnh bạc ấy cho phụ thân. Haizzz, đám người trẻ tuổi các ngươi thật thông minh. Chuyện tráo đổi, các ngươi cũng đoán ra được. Tráo đổi quan ngân chúng ta thì không sao, Vệ đại nhân phải chịu không ít trách nhiệm, việc này trong triều đình là chuyện phi pháp. Sự tình nếu bị lộ ra, mọi người đều không thoát khỏi can hệ. Tam Hòa tiêu cục cũng sẽ đi đời theo. Cha biết con thích Quách Khuynh Quỳ, nhưng nam nhân tốt trong thiên hạ nhiều lắm, yên tâm đi, cha nhất định sẽ tìm cho con một phu quân tốt!”.

Nghe câu này, Thẩm Khinh Thiền khóc không thành tiếng: “Cha, Khuynh Quỳ không giết ca ca. Người… người tha cho chàng đi! Chàng sắp chết rồi!”.

Mọi người nghe mà xót xa trong lòng.

Quách Khuynh Quỳ đã chết lâu rồi, ban nãy, Thẩm Khinh Thiền còn tỉnh táo nhưng giờ thần trí lại trở nên hỗn loạn.

“Hắn đã chết rồi!”, thấy trong lúc quan trọng mà con gái cứ dây dưa quấy nhiễu, khẩu khí của Thẩm Thái đã có chút bực bội: “Quách Khuynh Trúc đang ở gần đây, con có biết không? Vừa rồi dọc đường chúng ta đã giao thủ với hắn. Con xem mặt cha này, còn bị hắn vạch một nhát! Có lẽ hắn đang ở trên một cái cây nào đó nhìn chúng ta. Lão nhị, đem đao tới đây chặt Quách Khuynh Quỳ thành tám mảnh, ta muốn xem Quách Khuynh Trúc hắn có xuống hay không?”, lão sờ vết kiếm trên mặt, đón lấy thanh đao lão nhị đưa qua, theo thói quen đưa chân đá người dưới đất.

Thẩm Khinh Thiền trong lòng thắt lại, tựa như bị đao xéo, đột nhiên đẩy mạnh phụ thân, gào lên: “Không được đụng vào chàng!”.

“Khinh nhi, với phụ thân mà con cũng dám động thủ?”, Thẩm Thái giận ra mặt, thét lên: “To gan! Láo xược!.

Nói rồi nâng đao định chém xuống!

Đúng vào lúc ấy, thân hình lão bỗng mềm nhũn, mặt mũi méo xệch, lão quay đầu lại, kinh ngạc nhìn con gái, rồi lại nhìn ngực mình, một thanh chủy thủ đã cắm thẳng vào tim lão.

“Ngươi… ngươi…”

Lão ú ớ trong cổ họng vài tiếng, không nói nổi nữa, ngực có cảm giác như bị một tảng đá ngàn cân đè xuống. Lão loạng choạng bước tới trước một bước, Thẩm Không Thiền vội vàng xông qua định đỡ lão, lão đã đâm đầu đổ ập xuống đất.

“Ngươi… ngươi giết cha rồi!”, Thẩm Không Thiền gầm lên, ngón tay đang chỉ vào nàng không ngừng run lên bần bật.

Lời của hắn Thẩm Khinh Thiền căn bản chẳng nghe thấy, nàng mặt mày tái nhợt cúi người xuống ôm xác Quách Khuynh Quỳ lên, hoang mang đi về phía trước.

Không biết đã đi bao lâu, nàng thấy ở sườn núi trước mặt có một người áo đen đứng trầm lặng trên đỉnh dốc, ánh dương đang rọi vào thanh trường kiếm trên vai hắn.

Nàng tiếp tục đi tới, người áo đen chợt nói: “Khoan đã”.

Thẩm Khinh Thiền đứng lại, cười một tiếng thê lương: “Quách Khuynh Trúc, sao ngươi còn chưa ra tay đi?”.

Con mắt hắn giờ có màu xanh xám, bi thương ẩn trong ánh mắt nhìn nàng.

“Cô muốn đưa đệ ấy đi đâu?”, hắn hỏi: “Ta tiễn cô”.



Trong sân viện, trừ huynh đệ Thẩm gia còn có bảy trợ thủ bọn họ mời tới. Bảy người này mặt mũi lạ hoắc, binh khí khác nhau, nhưng toàn bộ đều thuộc hạng thân pháp linh hoạt, động tác nhanh nhạy, nhìn cũng biết đều là bậc am tường sử dụng binh khí ngoại, trong số đó cái kẻ cao gầy dùng lưu tinh chùy có sức lực lớn nhất, có vẻ như thủ lĩnh đám đó.

Trong nhà chỉ còn lại Tiểu Sái, Đường Hành, Tử Hân, Vương Lộc Xuyên, Tô Phong Nghi năm người. Tiểu Kim đã lên núi săn hồ ly, Tiểu Sái võ công bị phế, Tô Phong Nghi tuy đã uống thuốc nhưng thân thể vẫn yếu ớt, chân chính có thể nghênh địch chỉ có Đường Hành, Tử Hân và Vương Lộc Xuyên ba người.

Tiểu Sái đang định rút ngân đao, Đường Hành đã giữ tay gã lại: “Huynh chớ có đi, bọn tôi ra trước… Bọn tôi đều không có gì vướng bận, huynh còn có con cái”.

Tiểu Sái vặn vẹo quai hàm, nói: “Nếu tôi có chuyện gì, xin huynh nói với con trai tôi rằng cha nó rất yêu nó, sau đó nói với các huynh đệ rằng tôi đã tận lực rồi”.

Tiểu Sái đẩy cửa xông ra trước tiên, còn chưa kịp thủ thế đã nghe “bụp” một tiếng, đầu đã bị lưu tinh chùy đột ngột bay tới đập trúng! Lập tức đầu óc nát bét, não bắn bốn phía, đổ ập xuống vong mạng. Tất cả tức đỏ mắt, nổi sát khí đánh giết ra sân sau. Mặt thấy chùy thứ hai lại đập tới, Tử Hân nhanh tay lẹ mặt, nhặt một cây chổi dưới đất xoay chọc vào sợi xích, quả chùy kia bay nhanh như sao băng, giữa không trung đổi hướng bay ngược về phía gã cao gầy nọ. Gã thõng vai lách người, đang định tránh đi thì đao của Đường Hành đã bổ tới.

“Ta không thích giết người!”, thấy mũi đao nhuốm máu, gã cao gầy đổ ập xuống, Đường Hành không khỏi lớn tiếng kêu lên.

“Người này không phải do đệ giết”, bỗng giọng nói lạnh lùng cất lên.

Đường Hành quay đầu lại, thấy Đường Phất đã đứng sau lưng từ lúc nào, đang quyết đấu với một người áo trắng dùng thương. Thì ra cái sân đó tuy lớn, nhưng bốn người càng đánh càng áp sát vào nhau, sau cùng thì hòa vào nhau như một cụm nấm, Đường Phất liền thừa cơ chém một đao, giúp Đường Hành giết gã cao gầy kia.

“Đệ không thèm nhận món ân tình này!”, Đường Hành oán ghét nói, lại nhớ tới vụ mái tóc của mình: “Huynh đền tóc cho đệ đi!”.

“Nói bao nhiêu lần rồi, ta làm sao biết đệ uống bát canh sâm đó thì sẽ rụng tóc”, Đường Phất đuổi theo gã dùng thương ấy lên mái nhà, vừa đánh vừa biện bạch: “Bất luận uống bao nhiêu canh sâm, tóc của ta cũng có rụng đâu! Không tin ta uống cho đệ xem”.

“Bây giờ huynh lớn rồi, đương nhiên không rụng được!”, Đường Hành cũng theo lên mái nhà, lật tay một đao, chém rụng gã áo trắng: “Món ân tình kia đệ trả xong rồi đấy!”.

Thì ra đao pháp Đường Hành luyện là đao pháp của Hà Tiềm Đao năm xưa, còn Đường Phất luyện là đao pháp của Đường Ẩn Đao. Đường Tiềm luôn hy vọng hai con trai mình sẽ có ngày song đao hợp bích, tái hiện lại uy lực của “Đường thị song đao” năm nào. Nhưng cặp huynh đệ này không hòa thuận, trước giờ chưa từng có cơ hội liên thủ kháng địch.

Bây giờ, cuối cùng cũng cùng nhau đối địch, song đao hợp bích quả nhiên uy lực đại tăng, chớp mắt đã đánh gục hai người.

“Cha đâu?”, đánh được một lúc, Đường Hành hỏi.

“Vẫn đang ở khách điếm đợi chúng ta. Ta muốn người nghỉ ngơi, loại chuyện này cần gì người phải ra mặt? Hai người chúng ta là được rồi.”

Cái bộ mặt lúc nào cũng nghiêm túc của Đường Phất bỗng cười với hắn.

Đường Hành cố ý lạnh mặt, không thèm để ý. Suốt mười năm qua, đây là lần đầu tiên hai huynh đệ nói chuyện.

“Chuyện hồi nhỏ thôi thì để nó qua đi! Chúng ta đều đã lớn cả rồi, còn có chuyện quan trọng hơn đầu tóc phải làm, đúng không nào?”, Đường Phất quyết định thể hiện sự nhẫn nhịn của người làm đại ca, nhưng vẫn sống chết không chịu nhận sai.

Đường Hành đang đánh vui, nghe thấy câu này bỗng nhiên thu đao quay đầu đi.

Đường Phất vội vàng nói: “Là ta sai! Trên đời này không có chuyện gì quan trọng hơn đầu tóc!”.

“Thế còn được!”



Vào lúc Đường Phất, Đường Hành quyết đấu với bảy người dùng binh khí kia, lão nhị, lão tam và lão lục của Thẩm gia cưỡi ngựa đuổi theo Tô Phong Nghi đang ôm đĩnh bạc cắm đầu chạy.

Nàng vừa mới uống canh hồ ly Đường Hành nấu. Tuy Đường Hành năm lần bảy lượt xưng là mình thạo nghề bếp núc, đảm bảo nấu được “mùi vị rừng núi”, nhưng nàng uống được hai ngụm đã chỉ chực muốn nôn ra. Thấy huynh đệ họ Thẩm quần đấu với Tử Hân và Vương Lộc Xuyên, nàng bèn đoạt lấy đĩnh bạc, nhảy lên ngựa chạy lên Thanh Lĩnh sơn.

Sườn núi càng lên cao càng dốc, nàng đành phải giắt đĩnh bạc vào eo, bỏ ngựa, tay vịn chân đạp trèo lên.

Một người nếu ôm đĩnh bạc năm mươi lượng mà leo núi, đương nhiên sẽ rất mệt. Nàng trèo được tới đỉnh, quay lại nhìn thì Thẩm Không Thiền và Thẩm Thông Thiền cách nàng không xa nữa. Trong lòng sợ hãi, lại nhìn bốn phía mới phát hiện mình trèo sai chỗ rồi.

Mỏm núi đó có vẻ không cao, thật ra đầu kia là vực thẳm, sâu không thấy đáy. Vô số chim ưng đang nhàn tản chao lượn trong không trung.

Tới lúc nàng quay đầu lại, một bàn tay đã túm lấy tóc nàng, kéo giật về phía sau, nhanh chóng khống chế hai cánh tay nàng.

Người này trông rất lạ, nhưng tướng mạo thì tương tự Thẩm Không Thiền, chỉ là nhỏ tuổi hơn nhiều.

Thẩm Thông Thiền.

Tô Phong Nghi sớm đã nghe nói lão lục của Thẩm gia tuổi bé nhất, nhưng tâm tính lại độc ác nhất, tính tình thích hành hạ người khác đến chết, lúc vận tiêu mà hơi không vui là hắn liền đại khai sát giới, đi tới đâu thì chỗ ấy máu thịt tung tóe. Tới cả Thẩm Khinh Thiền cũng không muốn dây tới hắn.

Thẩm Thông Thiền đoạt lấy đĩnh bạc trong tay nàng, cười gian ác: “Con nha đầu ngươi thật biết chọn chỗ để chết. Có biết không, chim ưng ở cốc này hung ác dị thường, chuyên môn moi mắt người ăn. Đợi chút nữa ta sẽ buộc ngươi thòng xuống, ngươi chỉ việc kêu gào, lũ bằng hữu của ngươi bên dưới nghe thấy sẽ ngoan ngoãn lên đây quyết một trận tử chiến với bọn ta!”.

Thì ra ba người Thẩm gia có chỗ sợ huynh đệ họ Đường và Vương Lộc Xuyên, vì không biết gì về Tử Hân nên không sợ chàng.

Thấy Thẩm Không Thiền đang khổ chiến với Vương Lộc Xuyên, còn Tử Hân dưới núi đang ngăn Thẩm Thính Thiền, Thẩm Thông Thiền liền tính toán, nảy ra một kế. Bèn lấy trong bọc ra một sợi dây thừng, tròng vào cổ Tô Phong Nghi, định treo nàng lên vách núi làm mồi cho chim ưng.

Thấy Thẩm Thông Thiền không ngừng đẩy mình lên vách đá, chim ưng trong cốc thì xao động không thôi, Tô Phong Nghi không nhịn được kêu gào.

Lúc ấy, mũi chân nàng đã tới sát mép đá, mấy hòn sỏi vụn trên vách rơi xuống vực mất tăm mất tích chẳng nghe thấy tiếng chạm đất.

“Cứu tôi với!”

“A Phong!”

Tô Phong Nghi nhìn thấy Vương Lộc Xuyên nhào lên, tay hắn đã bị trói lại rồi.

“Trông coi hắn cho ta, ta xuống tiếp ứng cho nhị ca!”, Thẩm Không Thiền nói.

“Thì ra là anh hùng cứu mỹ nhân!”, Thẩm Thông Thiền vỗ tay: “Tóm lại là chết, ta cho hai người một cơ hội, để các ngươi tự quyết định ai sẽ làm mồi cho chim ưng trước, thế nào?”.

Tô Phong Nghi “phì” một tiếng, giận dữ thét “Dây thừng đã trên cổ ta, sao ngươi không dứt khoát đẩy ta xuống luôn đi?”.

Thẩm Thông Thiền chưa đáp, Vương Lộc Xuyên đã nói: “Thẩm huynh, loại chuyện này trước giờ nên là nam nhân trước, cơ hội làm anh hùng, vẫn xin huynh nhường cho ta thôi.”.

“Câu này ta thích”, Thẩm Thông Thiền ừm một tiếng, nói rồi gỡ dây thừng trên người Tô Phong Nghi, quàng vào cổ Vương Lộc Xuyên.

Khuôn mặt Tô Phong Nghi hiện vẻ sợ hãi: “Không! Lộc Xuyên! Huynh điên rồi à? Chớ có chết thay muội! Muội không hề yêu huynh chút nào đâu!”, nàng khóc lóc gào lớn: “Để muội chết! Cứ để muội chết!”.

“A Phong đừng sợ, Tử Hân ở ngay dưới núi, huynh ấy sẽ mau chóng lên cứu muội thôi.”

“Không, không, không, muội không muốn huynh là anh hùng, muội không cho huynh làm anh hùng, hu hu hu… Giờ này rồi huynh còn làm anh hùng cái gì, huynh thật ngốc quá!”, ngực nàng nôn nao, khóc không thành tiếng: “Muội không yêu huynh, một chút cũng không, huynh không cần chết vì muội!”.

Vương Lộc Xuyên đã đứng bên vách, cười với nàng và nói: “Cô bé ngốc, từ nhỏ ta đã thích muội rồi. Tuy không thể khiến muội yêu ta, nhưng chí ít ta có thể yêu muội. Ta có thể!”.

Đây là lời sau cuối của hắn, rồi hắn biến mất trước mặt nàng.

Nàng sợ hãi nhìn sợi dây thừng kia lắc lư rồi căng ra, tiếng chim ưng kêu náo động.

Thân thể nàng run bắn, run không ngừng, lệ nhòa mắt, nàng không biết bản thân đã co giật bao lâu, chợt có một bàn tay ấm áp đặt lên vai nàng, tháo dây thừng cho nàng. Nàng mở mắt ra, nhìn thấy Tử Hân, người chàng đẫm máu, trên tay toàn là vết thương nhưng nét mặt thì hiện vẻ vui mừng. Chàng nâng mặt nàng, cười nói: “Muội còn sống!”.

Mặt Tô Nghi Phong lạnh băng, chẳng hề biết Tử Hân một mình dưới núi khó khăn lắm mới giết được Thẩm Không Thiền, xong lại gặp phải Thẩm nhị, Thẩm lục chạy tới, quyết tử một trận thảm liệt, suýt chút nữa mất mạng, nàng gào lên: “Tại sao? Tại sao huynh tới đây muộn thế?”.

Tử Hân sững người, không hiểu nàng đang nói gì.

“Lộc Xuyên chết rồi!”, nàng chỉ xuống vách núi khóc nói.

Tử Hân kinh hãi: “Sao cơ? Huynh ấy… huynh ấy…”.

Chàng nhào tới bờ vực kéo sợi dây thừng đang lắc lư lên, trông thấy một thi thể thê thảm khôn tả, vội vàng cởi áo khoác trùm lại.

Người chết thi thể không được vẹn toàn, đã bị lũ chim ưng chia nhau rỉa thịt.

“Muội muốn nhìn huynh ấy, muội phải nhìn huynh ấy lần cuối!”, Tô Phong Nghi xông đến, định kéo tấm áo ra, Tử Hân sống chết ngăn nàng lại, nói: “Đừng nhìn”.

“Tại sao muội không được nhìn?”, nàng uất nghẹn: “Chẳng lẽ đến can đảm nhìn huynh ấy lần cuối, muội cũng không có sao?”.

Nàng nhè nhẹ kéo tấm áo, trông thấy mặt Vương Lộc Xuyên liền vội vàng nhắm mắt lại, rồi phủ tấm áo lại như cũ.

Chính vào lúc ấy, ánh mắt nàng lại liếc tới tay của hắn.

Trong bàn tay máu thịt bầy nhầy ấy lại vẫn đang nắm chặt một đóa xuân cúc.

Nàng thương tâm cùng cực, nước mắt lã chã tuôn rơi.



Bọn họ chôn Vương Lộc Xuyên ngay trên vách núi ấy.

“Lộc Xuyên, muội sẽ hay lui tới thăm huynh”, Tô Phong Nghi đặt đóa xuân cúc bên mộ, thì thầm nói.

Đường Hành và Tử Hân đứng sau lưng nàng, im lặng không nói.

Nàng gạt lệ, đội nón lên, đeo hành trang, nói: “Chúng ta chia tay ở đây thôi”.

Tử Hân nhìn nàng hồi lâu rồi nhẹ nhàng thỉnh cầu: “Phong Nghi, đi cùng ta”.

Nàng lắc đầu, nói: “Không”.

Tử Hân chần chừ một lúc, muốn nói cho nàng nơi mình định đi.

Nhưng nàng không hỏi.

Nàng không hỏi, chàng sẽ không nói.

“Khinh Thiền đỡ hơn chưa?”, Tô Phong Nghi tránh mặt chàng, quay sang hỏi Đường Hành.

Chôn cất xong cho Quách Khuynh Quỳ, Thẩm Khinh Thiền u uất buồn bã, một mực ở trong nhà Đường Hành, là Đường Hành chăm sóc cho nàng.

“Tốt hơn nhiều rồi.”

Bọn họ chia tay dưới chân núi, xa xa nhìn thấy một bóng người ghìm cương ngựa đơn độc đứng giữa sơn đạo.

“Quách Khuynh Trúc?”

Đường Hành chăm chú nhìn hắn, chợt hỏi: “Người này sao lại đeo năm cái hũ trên lưng?”.

Tử Hân nói: “Ta đã hỏi hắn. Hắn nói bên trong chứa tế phẩm. Hắn đã thu thập được ngũ tạng của kẻ thù, trong sách tế nói, nếu như ném chúng xuống cửu tuyền, thù hận ấy có thể kết thúc”.

Nghe thấy vậy, Đường Hành hỏi: “Trên đời này thật sự có cửu tuyền sao?”.

“Hắn cũng hỏi ta câu này. Còn nói ta đi nhiều, hẳn là biết. Ta nói với hắn, cửu tuyền ở dưới núi Côn Lôn.”

Tô Phong Nghi mở to mắt hỏi: “Thật à? Sao muội chưa từng nghe qua?”.

Tử Hân nói: “Ta thuận miệng bịa ra thôi”.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.