Ngày Mai (Demain)

Chương 15: Những vết thương của sự thật



Những sự thật người ta ít muốn biết nhất lại chính là

những điều có lợi nhất khi được biết.

Ngạn ngữ Trung Hoa

Boston, 2010

17 giờ

Màn đêm đã buông. Một lớp tuyết dày êm ái phủ trên khắp những con phố Boston. Những bông tuyết lớn mịn như lông tơ đậu xuống kính chắn gió của chiếc taxi liền bị những thanh gạt nước quét phăng. Chiếc xe tới phố Boylston rồi thả Emma xuống trước khách sạn Bốn Mùa. Nhân viên gác cửa giúp cô xuống khỏi xe rồi dùng ô che cho cô tới tận cửa khách sạn.

Mải chìm đắm trong suy nghĩ, cô gái băng qua đại sảnh không hề dừng bước. Trong khi cô đang tiến về phía thang máy, trưởng bộ phận lễ tân gọi cô:

- Bà Lovenstein, cách đây một giờ em trai bà đã đã tới. Tôi đã nảy ra sáng kiến bố trí cho ông ấy nghỉ trong một phòng liền kề với phòng hạng sang của bà.

- Em trai tôi ư? Làm sao lại là em trai tôi được?

Cô lên tận tầng tám và bước vào phòng để rồi nhìn thấy…Romuald Leblanc. Nằm dài trên trường kỷ, cậu ta đang nhai khoai tây chiên lấy trong minibar và uống một lon soda. Cậu ta đã nối máy nghe nhạc ra loa phát một ca khúc của Jimi Hendrix.

- Đầu đất hả?

Emma nhìn xung quanh. Cậu nhóc đã mang theo mình toàn bộ mớ hành lý lủng củng: một va li, một ba lô, một túi đeo chéo… Ngay cả chiếc máy bay điều khiển từ xa của cậu nhóc cũng đang để trên bàn thấp nơi phòng khách.

- Cậu làm cái quái gì ở đây thế? Cô vừa hỏi vừa vặn nhỏ bớt nhạc.

- Tới giúp chị, cậu nhóc đáp với cái miệng đầy ứ.

- Giúp tôi chuyện gì?

- Tôi nghĩ chị đang gặp rắc rối: không thấy chị đi làm nữa, chị nhận những bức mail lạ lùng, chị lén lút mò vào nhà người khác. Rõ ràng là chị đang tiến hàng một cuộc điều tra.

- Và chuyện đó thì liên quan gì đến cậu?

- Liên quan đến tôi ở chỗ rốt cuộc chị luôn đề nghị tôi giúp đỡ.

Emma nheo mắt nhìn cậu nhóc. Dĩ nhiên cậu ta không nhầm, nhưng cô không chịu theo logic đó.

- Nghe này nhóc, cậu thật tử tế khi làm thế này, nhưng tôi sẽ thấy vui nếu cậu làm ơn thu dọn đồ đạc rồi biến khỏi chỗ này, nhanh!

- Tại sao?

- Thoạt tiên là bởi cậu vẫn còn vị thành niên. Kế đó là bởi cậu đang cư trú bất hợp pháp trên đất Mỹ, rồi bố mẹ cậu bên Pháp hẳn đang lo lắng vì cậu. Cuối cùng, bởi vì như thế này tôi đã có đủ rắc rối rồi, khỏi cần chất lên tôi thêm một gánh nặng là cậu nữa!

Cậu nhóc đứng phắt dậy khỏi trường kỷ, quyết tâm không bỏ đi.

- Nhưng tôi có thể giúp chị điều tra! Nếu có hai người chúng ta sẽ tiến nhanh hơn và suy nghĩ thấu đáo hơn. Vả lại, phần lớn những nhà điều tra vĩ đại đều hợp lại thành bộ đôi: Sherlock Holmes và bác sĩ Watson, Batman và Robin, Starsky và Hutch, Brett Sinclair và Danny Wilde…

- Thôi đủ rồi, cậu không cần phải kể hết ra cho tôi nghe! Emma nổi cáu.

- Loїs và Clark, Hit-Girl và Big Daddy, Richard Castle và Kate Beckett… Romuald vừa nói tiếp vừa khoan chân múa tay.

- GIỜ THÌ ĐỦ RỒI ĐẤY! cô hét lên. Tôi đã nói không. Và không là không!

Cô lấy máy tính từ trong túi xách ra, đặt nó lên bàn rồi nhấc mở màn hình ra.

- Cậu đã giúp tôi, điều đó có thật và tôi cảm ơn cậu. Để bù lại, tôi sẽ mua tặng cậu vé quay về Paris. Tôi cũng muốn đãi cậu một đêm ngủ khách sạn, nhưng là khách sạn Hilton gần sân bay kia, chứ không phải ở đây.

Cậu nhóc mê tin học phát ta một tếng làu nhàu bực bội. Nói sao làm vậy, Emma di con trỏ để kết nối với trang web của hãng hàng không Delta Airlines.

- Khoan đã! Romuald kêu lên.

Emma vội ngưng lại.

- Gì nữa thế?

- Bức ảnh này! Cậu nhóc thảng thốt chỉ vào màn hình máy tính.

Đó là một bức ảnh chụp màn hình đang phát cảnh phim được quay trong quán bar có mặt Kate cùng “nguời tình”.

- Sao kia? Cậu biết người phụ nữ này ư?

- Người phụ nữ thì không, còn người đàn ông thì dĩ nhiên là biết!

Emma cảm thấy rùng mình như thể trong bụng vừa nảy sinh một cú tăng vọt adrenalin.

- Tôi đang nghe cậu nói đây.

- Đó là Nick Fitch. Đó thực sự là một huyền thoại và là một trong những doanh nhân bí ẩn nhất và giàu nhất thế giới.

***

Boston, 2011

Nằm dài trên một chiếc ghế êm ái cùng chú chó nhỏ, Emily cuối cùng cũng được xem bộ phim yêu thích: SOS Fantômes trứ danh.

- Phim này xem sợ nhỉ Clovis? Con bé vừa đùa vừa nép vào chú chó Shar-pei.

Ngồi trên một chiếc ghế đẩu bên bàn bếp, Matthew mải miết đọc hướng dẫn sử dụng của bộ dụng cụ vừa mua tại một trong những tiệm tạp hóa trên phố Charles. April nhìn anh bằng ánh mắt vừa rụng rời vừa bài xích.

Ở Mỹ, không gì đơn giản hơn là tiến hành một thử nghiệm xác minh quan hệ cha con. Với 30 đô, bạn có thể mua một bộ dụng cụ không cần đơn tại một trong số hai mười nghìn hiệu thuốc trên toàn quốc. Ngay cả một vài siêu thị lớn cũng đưa mặt hàng này vào kinh doanh.

Thử nghiệm này bất kỳ ai cũng có thể tiến hành: chỉ cần cung cấp hai mẫu tế bào trích từ bên trong má nhờ những cây tăm bông cỡ lớn. Mẫu đầu tiên lấy từ người cha và mẫu thứ hai lấy từ đứa con.

Matthew tiến hành đầu tiên. Anh đưa cây tăm bông vào miệng rồi chà xát bên trong má khoảng ba mươi giây trước khi nhét mẫu vào phong bì dành để đựng kết quả này, trên phong bì anh đã điền mẫu in sẵn. Rồi anh lấy từ trong túi áo vest ra gói kẹo đã mua tại tiệm tạp hóa.

- Con yêu, con muốn có những viên kẹo dẻo hình chú gấu con này không?

- Thật không ạ, bố vừa mua kẹo cho con hả bố? cô bé tròn mắt thốt lên.

Con bé đứng dậy khỏi ghế để chạy về phía anh.

- Cảm ơn bố ạ!

- Nhưng trước tiên, cần phải làm bài thực hành này đã.

- Thế ạ?

- Đơn giản lắm, rồi con sẽ thấy, con mở miệng ra nào.

Cô bé làm theo, và anh nhẹ nhàng lặp lại động tác để lấy lại một vài tế bào da của cô bé.

- Bố đếm đến ba mươi rồi con sẽ được ăn kẹo, đồng ý chứ? 1, 2, 3…

April ném cho anh ánh mắt đầy giận dữ và khinh bỉ.

- Anh đúng là đồ tồi, cô nói khẽ.

Anh không buồn trả lời cô.

- … 28, 29 và 30. Hoan hô con yêu, con xứng đáng được thưởng kẹo lắm.

- Con có thể cho Clovis ăn kẹo được không ạ?

- Chỉ một mẩu nhỏ để nó nếm thử thôi nhé, anh dung túng trong lúc nhét mẫu của Emily vào phong bì thứ hai.

Rồi anh nhét cả hai phong bì đó vào phong bì thứ ba bằng ni lông xốp hơi kèm theo khoản thanh toán (159 đô cho phòng thí nghiệm cũng như một khoản phụ phí 99 đô để phân tích được tiến hành ngay trong ngày). Anh kết thúc thao tác bằng cách viết lên phong bì tên phòng thí nghiệm:

InfinitGene

425 phố Orchid

West Cambridge, MA 02138

Khi mua bộ test, anh đã cố tình chọn một phòng thí nghiệm tại Massachusetts để phân tích có thể được thực hiện càng nhanh càng tốt và để người ta trả lại anh kết quả ngay trong tối nay, trước nửa đêm, vào hộp mail của anh. Tuy nhiên cũng có một deadline: phòng thí nghiệm phải nhận các mẫu trước 14 giờ.

Anh nhìn đồng hồ treo tường.

13 giờ 10.

Dĩ nhiên đã quá muộn để sử dụng dịch vụ UPS hoặc FedEx, nhưng anh vẫn có thể tự lái xe mang phong bì tới phòng thí nghiệm. Thậm chí nếu có tắc đường thì anh cũng vẫn sẽ tới nơi trong vòng chưa đầy nửa giờ nữa.

- Em cho anh mượn chiếc Camaro nhé April?

- Anh có thể xéo đi được không Matthew?

Emily đột ngột xen ngang từ đầu kia phòng:

- Không nên nói bậy thế đâu cô April! Cô nhóc trách móc cô, tay bịt chặt tai của chú chó giống Shar-pei.

Matthew mặc áo khoác rồi xách theo chiếc cặp da.

- Thôi kệ em, tới phố Beacon anh sẽ vẫy taxi, anh vừa nói vừa kẹp chiếc phong bì dưới cánh tay,

***

Còn lại một mình, April sốc nặng. Cô nhất định phải ngăn bạn mình làm chuyện xuẩn ngốc.

Cô tiến lại gần tấm đệm nơi Emily và Clovis đang nằm thoải mái.

- Cô phải để cháu lại một mình vài phút nhé cháu yêu, cháu hứa với cô sẽ không làm điều gì ngốc nghếch chứ, đồng ý không nào?

Cô nhóc cắn môi vẻ hơi lo lắng.

- Cháu không được nghịch diêm đúng không ạ?

- Cháu ngồi ngoan xem SOS Fantômes rồi đợi Bibendum Chamallow xuất hiện nhé. Đó là đoạn cháu thích nhất đúng không?

Cô bé im lặng gật đầu.

Sau đó April giơ ngón trỏ đầy đe dọa về phía chú chó giống Shar-pei.

- Còn mày, hà mã, khôn hồn thì để ý canh nhà đấy nhé!

Cô mặc áo khoác, vớ lấy chùm chìa khóa xe rồi ra quảng trường Louisburg. Chiếc Camaro đậu phía bên kia công viên. Cô khởi động xe rồi phóng một mạch tới phố Charles, nhanh nhẹn vượt đèn đỏ ở ngã tư đường dẫn sang phố Beacon.

Nếu Matt đã lên một chiếc taxi từ đại lộ thì hẳn là anh vẫn còn đang ở quanh đây. April lượn ngoằn ngoèo giữa các xe và mỗi lần bắt gặp một chiếc taxi cô lại nhìn chằm chặp vào mặt các hành khách ngồi ghế sau xe.

Sau chừng năm trăm mét, cô nhận ra Matthew ngồi trên một chiếc CleanAir Cab, một trong những hãng taxi sử dụng động cơ tiết kiệm nhiên liệu đang được nhân rộng trong thành phố từ hai đến ba năm trở lại đây. Sau một cú vặn ga tăng tốc, cô đã tới ngang tầm chiếc taxi và ra hiệu yêu cầu anh xuống xe. Nhưng Matthew đã quyết tâm không nghe theo. Ngược lại, anh còn nghiêng sang phía tài xế để yêu cầu anh ta chạy xe nhanh hơn.

April thở dài rồi lùi lại phía sau để theo bén gót chiếc Toyota. Cô để chiếc taxi tiến lên khối kiến trúc bằng sắt của cầu Harvard rồi mới tăng tốc. Suốt vài mét đường, hai chiếc xe chạy sát cạnh nhau nguy hiểm tới mức quệt vào nhau. Rồi tài xế taxi phát hoảng nên quyết định đỗ lại ở lề đường bên phải.

- Ra khỏi xe tôi ngay! Ông ta ra lệnh cho Matthew. Anh sẽ gây rắc rối cho tôi mất.

Đến lượt mình, April đỗ xe đằng sau chiếc green cab.

Matthew cố thuyết phục tài xế tiếp tục chở anh nhưng ông ta không cần biết gì hết và nhanh chóng khởi động xe quay lại trung tâm thành phố.

April bật đèn cảnh báo rồi đóng sập cửa chiếc Camaro trong một bản hòa tấu những tiếng chuông báo động. Việc dừng đỗ xe tại một trong bốn làn đường trên cầu bị nghiêm cấm và rất nguy hiểm.

- Thôi nào, Matt, chúng ta về nhà thôi, cô kêu lên trong lúc bước tới chỗ anh trên đoạn đường dốc dành cho người đi dạo và chạy thể dục.

– Không có chuyện đó đâu! Em đừng xen vào chuyện này được chứ?

- Thực hiện xét nghiệm này thì giúp gì được cho anh nào? April cao giọng hỏi để át đi tiếng xe cộ đi lại. Có phải nếu Emily không phải là con đẻ của anh thì anh sẽ bớt yêu thương con bé hơn?

- Dĩ nhiên là không, nhưng anh không muốn sống trong dối trá.

- Hãy nghĩ cho kỹ đi Matt, cô vừa khuyên nhủ vừa đặt bàn tay lên cánh tay anh.

- Việc này đã được cân nhắc kỹ. Anh có quyền được biết sự thật. Anh muốn hiểu chuyện gì đã xảy ra với Kate. Anh muốn biết tại sao cô ấy lại lừa dối anh và với ai.

- Kate mất rồi, Matt. Sẽ đến lúc anh chấp nhận chuyện đó. Anh đã sống những năm hạnh phúc cùng chị ấy và bất kể trước đó có xảy ra chuyện gì thì anh cũng là người lựa chọn để trở thành bố của con chị ấy.

Matt lắng nghe lý lẽ đó, nhưng nỗi đau của anh quá lớn.

- Em không hiểu đâu. Kate đã phản bội anh. Anh đã đặt trọn niềm tin vào cô ấy. Anh đã bỏ vợ vì cô ấy, anh đã…

- Anh đã không còn yêu Sarah từ lâu rồi, cô vặc lại.

- Không quan trọng. Trong vòng bốn năm, anh đã để một người phụ nữ xa lạ bước vào cuộc đời mình, một người mà anh ngỡ đã biết rõ. Anh cần phải biết cô ấy thực sự là ai. Anh cần phải điều tra về cô ấy.

April túm lấy cổ áo Matthew rồi lắc lấy lắc để không chút nể nang.

- Nhưng chị ấy qua đời rồi, khỉ thật! Tỉnh lại đi! Tại sao lại mất thời gian đào bới quá khứ của một người?

- Để thực sự hiểu họ, anh đáp và thoát ta khỏi vòng tay cô.

- Thế còn em, anh có thực sự hiểu em không? Cô hỏi, thay đổi góc độ của cuộc trò chuyện theo cách bất ngờ.

Anh nhướng mày.

- Có chứ, anh nghĩ vậy. Rốt cuộc, em là bạn gái thân thiết nhất của anh và…

- Anh thực sự biết gì về em hả Matt?

– Này nhé, em sinh ra gần San Diego. Bố mẹ em điều hành một tiệm đồ cổ. Em đã theo học ngành nghệ thuật tại UCLA[1], em…

[1] Đại học California, Los Angeles. (Chú thích của tác giả)

- Đó là những gì em đã kể anh nghe, nhưng sự thật không phải vậy. Mẹ em hẳn đã ngủ với một nửa số đàn ông tại Nevada và không bao giờ nói được cho em biết ai là bố em. Bà không kinh doanh đồ cổ: đó là một kẻ nát rượu cả đời chẳng bao giờ làm gì ngoại trừ việc lừa đảo mọi người và say bí tỉ. Nghệ thuật ư? Em không học nghệ thuật ở đại học đâu, mà ở Chowchilla, anh thấy rồi đó, em từng ngồi tù.

Chưng hửng, Matthew nhìn vào mắt cô bạn sống cùng nhà. Trong vòng vài giây, thậm chí anh nghĩ là cô đùa, nhưng không phải vậy.

- Em sẽ không vẽ cho anh một bức tranh theo kiểu Dickens đâu, April nói tiếp, nhưng em từng có một thời niên thiếu và tuổi trẻ phức tạp: những mối giao du xấu, những cuộc bỏ nhà đi bụi từ ngày bé và ma túy. Rất nhiều ma túy. Có một thời em sẵn sàng làm bất cứ điều gì để kiếm được ma túy. Thực sự là bất cứ điều gì.

Một dòng nước mắt bỗng chảy trên má cô gái. Trong đầu cô, những hình ảnh đau xót và nhục nhã hiện lên như nước tràn bờ, nhưng cô gạt chúng đi.

- Dĩ nhiên, con đường sa xuống địa ngục đó đã dẫn em tới nhà tù. Năm hai mươi hai tuổi, em bị cảnh sát tóm sau một vụ cướp. Em đã bị giam ba năm tại Chowchilla. Đó mới là con người thực sự của em…

Cô dừng lại để lấy hơi, vén một lọn tóc bị gió thổi hất ra nước mắt.

- Nhưng em đâu chỉ có thế, cuối cùng cô cũng nói tiếp. Em cũng là người phụ nữ đã đấu tranh để có được cơ hội thứ hai, người đã tìm đến đầu kia đất nước để làm lại cuộc đời, người đã không đụng đến hàng trắng từ mười năm nay và gây dựng thành công gallery nghệ thuật của riêng mình.

- Em có thể tin tưởng anh mà, Matthew khẳng định. Tại sao từ đầu em không kể với anh chuyện này?

- Vì cần phải hướng về phía trước. Vì quá khứ là quá khứ. Vì cần phải để những người chết ở lại với những người chết…

Matthew cúi đầu. April đã thuyết phục được anh.

- Hãy dừng lại ở đó. Đừng mạo hiểm lật lại toàn bộ vấn đề và chuốc thêm đau khổ. Những vẻ bề ngoài đều dối lừa và Kate sẽ không bao giờ có thể nói với anh sự thật được. Hãy để cho chị ấy được lợi từ nỗi ngờ vực. Nếu thực hiện xét nghiệm huyết thống này, nếu moi móc cuộc đời Kate thì anh chỉ tạo nên hai nạn nhân mà thôi: chính anh và đứa con gái bé bỏng của anh. Hãy sang trang đi Matt, em van anh đấy.

Bàng hoàng, mắt ằng ậc nước, Matthew đưa cặp xách cho April. Cô lấy từ trong đó ra chiếc máy tính xách tay và chiếc phong bì định gửi cho phòng thí nghiệm. Từ trên lan can cầu, cô vội vàng thu hết sức lực quẳng chúng xuống sông. Rồi cô giúp Matthew đang chán nản ngồi lên chiếc Camaro sau đó lái xe đưa anh về nhà.

***

Chiếc phong bì bằng ni lông xốp hơi bị cuốn theo dòng chảy sông Charles rồi nhanh chóng chìm đắm trong Đại Tây dương. Còn về phần chiếc laptop, nó chìm xuống làn nước lạnh nơi không một ai có thể vớt lên được, vĩnh viễn ngăn trở việc tiếp tục liên hệ giữa Matthew và Emma.

***

Chỉ trừ có điều mọi việc lại không đơn giản được như vậy…

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.