Nhớ Mãi Nụ Hôn (A Kiss Remembered)

Chương 1



Cô cố ý chọn chổ ngồi gần chót lớp để có thể kín đáo quan sát anh. Thật tuyệt vời là anh không hề thay đổi gì cả. Về thể chất, mười năm qua chỉ làm nổi rõ thêm vẻ đàn ông của anh mà thôi. Tuổi hai mươi anh là một chàng trai hấp dẫn đầy hứa hẹn, tuổi ba mươi hoàn thiện con người đầy nam tính của anh. Cây viết của Shelly rạch một đường ngang cuốn tập của cô khi cô ghi chép lại bài giảng của anh. Mới chỉ tuần thứ 2 của khóa học mùa thu, nhưng anh đã dạy gần đủ bài cho kì thi cuối khóa vào mùa giáng sinh. Anh khiến cả lớp say mê chăm chú.

Khóa học Khoa học - Chính trị được nằm sâu trong một trong những tòa nhà cũ kỹ nhất trường. Những sợi dây Thường Xuân phủ đầy những bức tường tạo cảm giác đây là một ngôi trường đại học uy thế Miền Đông chứ không phải là một trường cao đẳng tọa lạc ở thôn làng đông bắc Oklahoma. Tòa nhà cao tuổi, sàn gỗ ọp ẹp một cách vui thích, mái nóc cao, những hành lang bí ẩn làm nên bầu không khí mê mội xuất hiện trước những sinh viên trường Luật.

Giảng viên, Grant Chapman đứng dựa vào bàn giảng viên trước mặt cả lớp. Chiếc bàn gỗ sồi này đã là nơi dựa lưng cho những giảng viên suốt ba mươi năm qua, và những năm tháng đáng chán tiếp theo sau nữa. Như là người đàn ông này, Shelly thầm nghĩ, Chapman vẫn là một chàng trai bắp thịt cuồn cuộn.

Rất nhiều trái tim non trẻ đã đập loạn lên khi anh chơi bóng rổ cho trường đấu lại trường đại học. Mặc quần đùi thể thao và áo ba lổ, Grant Chapman đã làm cho toàn bộ nữ sinh trường trung học Poshman Valley phải nín thở. Shelley Browning cũng ở trong số đó. Mười năm chỉ mài dũa thêm cho bắp thịt rắn chắc. Sợi tóc màu bạc trên mái tóc đen cẩu thả rơi xuống vẫn là cái mốt thời xưa đến nay. Ngày ấy có một luật lệ mỏng manh cấm tóc dài ở trường trung học Poshman Valley, và những thầy giáo trẻ đẹp trai lại là một trong những người phạm luật thường xuyên nhất. Shelley có thể nhớ rõ ràng ngày mà lần đầu cô nghe đến tiếng tăm của Grant Chapman.

“Shelley, Shelley, hãy chờ cho đến khi cậu thấy mặt thầy dạy môn Chính Quyền mới trong mộng nha!”.

Đó là ngày nhập học sau mùa nghỉ hè. Khuôn mặt bạn cô hồng lên khi chạy đến báo tin đó cho Shelley “Chúng mình sẽ được học thầy vào học kỳ 2 và thầy thì đẹp trai vô cùng. Và thầy hiểu là cậu nói về Chicago chứ không phải là một thành phố ở Illinois. Thầy mới trẻ làm sao! Môn Chính Quyền được thêm xăng rồi!”

Cô bạn vừa ríu rít xong, chạy ù đi báo tin tốt này cho các bạn khác.

“À, và tên thầy là thầy Chapman.” cô bạn nói với qua vai.

Giờ đây Shelley đang lắng nghe để tận hưởng âm sắc của anh khi anh trả lời câu hỏi của một sinh viên. Nhưng câu trả lời của anh cùng câu hỏi cũng chẳng nhập được vào tâm trí cô. Shelley chỉ đang chú tâm đến giọng nói của anh mà thôi. Tựa hẳn người vào bàn và kín đáo nhắm mắt, cô nhớ rất rõ lần đầu tiên được nghe giọng nói trầm trầm chuẩn xác đó.

“Browning, Shelley? Em có mặt ở đây không?”

Trái tim cô bỗng nặng như chì. Không ai muốn bị gọi tên vào ngày đầu nhập học cả. Hai mươi đôi mắt tò mò dán chặt vào cô. Cô run run giơ tay lên.

“Dạ có, thưa thầy”.

“Em Browning, em để quên quần sóc thể dục. Em có thể đến nhận lại tại văn phòng thể dục nữ. Cô Virgil gởi nhắn.”

Cả lớp vỡ ra, và đâu đó vài tiếng huýt sáo và nhại tiếng mèo kêu. Cô lắp bắp một lời cảm ơn với thầy giáo mới, hai gò má cô đỏ lựng. Anh chắc đã nghĩ rằng cô là một con bé ngốc nghếch. Nực cười thay, ý kiến của anh khiến cô quan tâm hơn của lũ bạn cùng lớp. Khi cô cùng ào ra khỏi lớp hôm ấy anh đã dừng cô tại cửa.

“Tôi xin lỗi nếu tôi đã làm em xấu hổ,” anh nói với vẻ hối lỗi.

Các bạn nữ của cô đứng vây quanh, tròn mắt thèm thuồng.

“Dạ thưa, không sao”, Shelley rụt rè nói.

“Sao lại không. Em sẽ được thêm năm điểm cho bài kiểm đầu tiên.”

Sheley chưa bao giờ cần đến năm điểm đó vì cô luôn đạt điểm tối đa một trăm cho bài kiểm đó và hầu hết những bài sau đó. Môn Chính Quyền trở thành môn học thích thú nhất của cô trong học kỳ đó.

“Anh đang nói về chuyện trước Việt Nam hay là sau?” Ông Chapman đang hỏi một sinh viên, người vừa ra câu thảo luận về việc ảnh hưởng của công luận trên những quyết định của Tổng Thống.

Shelley vụt trở lại hiện tại. Anh không bao giờ nhớ ra một “Browning, Shelley” và cái quần sóc thể dục bị mất của cô ta. Cô còn ngờ rằng anh chẳng còn nhớ gì đến bốn tháng ngắn ngủi dạy ở trường trung học Poshman Valley. Nhất là sau những khó khăn anh đã trải qua. Một là không thể leo cao lên những cấp bậc vào Quốc hội để trở thành một phụ tá thượng nghị sĩ cao giá đa sầu đa cảm. Một là không thể thoát khỏi một vụ tai tiếng, Grant Chapman đã dính dáng đến một sự kiện nghiêm trọng xảy ra nhiều năm trước đó trong một vùng nông thôn nhỏ, đã giữ một vai trò không nhỏ trong cuộc sống muôn màu của anh. Có lẽ đó là lý do mà anh trông chẳng có gì thay đổi đối với cô. Cô đã trông thấy anh thường xuyên trên tivi khi mà những kí giả vẫn còn săn đuổi anh để lấy tin cho vụ tai tiếng, vụ đó đã làm rung chuyển cả cộng đồng xã hội Washington. Cô đã nghiên cứu những tấm hình của anh đi kèm với hàng tít lớn trên báo. Chân thật như những hình thường đăng trên mặt báo. Cô không thể tìm thấy nét khiếm khuyết nào trên khuôn mặt đã in sâu vào tâm khảm cô và từ chối, ngay cả sau mười năm, bị lãng quên đi.

Shelley chắc chắn rằng anh không biết cô. Ở tuổi 16 cô là con bé mảnh khảnh dại khờ. Giờ vẻ mảnh mai đã giảm đi, cô mềm mại, đầy đặn vẻ đàn bà. Năm tháng làm tan đi nét trẻ con mũm mĩm trên khuôn mặt cô để lại những đường nét xương xương thú vị. Gò má cao làm nổi bật đôi mắt xanh vương khói. Mất rồi mái tóc phủ ngang mặt đã từng một thời là mốt nữ sinh trung học. Giờ đây tóc cô được búi lại phía sau khoe đôi chân mày cong tuyệt mỹ và đường chân tóc hình trái tim. Một cô gái tóc nâu thực sự, cô được trời ban cho một mái tóc dày óng ả buông trôi xuống vai như rượu vang đỏ được ánh mặt trời soi thấu óng ánh. Mất rồi cô bé má bầu bĩnh trong bộ đồng phục đội trưởng đội cổ vũ. Cũng đã mất rồi ngây thơ và lý tưởng. Người đàn bà đã từng trải với thế giới bên ngoài cùng sự ích kỉ, bất công của nó. Grant Chapman cũng biết những điều đó. Họ không còn là những người của mười năm trước, và cô đã tự hỏi cả ngàn lần tại sao cô lại đăng kí học lớp của anh.

“Hãy đặt mình vào vị trí của Tổng thống Jonhson lúc đó.” Anh đang giảng.

Shelley liếc xuống đồng hồ đeo tay của cô. Chỉ còn mười lăm phút nữa là hết giờ và cô chỉ ghi lại được có mỗi hai dòng. Nếu không cẩn thận, cô không thể đạt xuất sắc như cô đã được với môn Chính Quyền học kỳ đầu năm thứ 2 trung học. Cô nhớ lại một ngày mùa đông gió rét sau đợt gió bấc đầu tiên của mùa.

“Em có thể nào giúp tôi chấm điểm một vài buổi chiều trong tuần được không?” Anh hỏi.

Cô đang mặc chiếc áo khoác bằng da của người yêu cô lúc ấy, và hai tay cô nắm chặt thành quả đấm nhỏ đút sâu trong túi áo. Thầy Chapman đã dừng cô trên khuôn viên giữa phòng thể dục và dãy lớp học. Mái tóc chấm cổ của anh, dài hơn một chút so với luật, đã quất quanh đầu anh một cách man dại. Chỉ mặc mỏng manh một chiếc áo thể thao, anh gồng lưng trước cơn gió bấc.

“Dĩ nhiên nếu em không muốn, thì cứ nói ...”

“Không, không,” cô vội vã nói và liếm đôi môi, mong rằng chúng không nứt nẻ và khô khan. “Vâng, em muốn lắm. Nếu thầy nghĩ là em làm được.”

“Em là học sinh xuất sắc của tôi. Đúng là một bản báo cáo tuyệt vời em đã làm về hệ thống tòa án.”

“Cảm ơn thầy.” Cô bối rối và tự vấn sao tim mình đập mạnh dữ vậy. Anh chỉ là thầy giáo thôi mà. Hừm, đâu “chỉ là” một thầy giáo đâu.

“Nếu em có thể chấm phần ngữ pháp, tôi sẽ đọc những bài luận. Tiết kiệm được nhiều giờ cho tôi vào ban đêm.”

Cô tự hỏi anh làm gì trong những đêm đó. Anh có đi gặp một cô gái nào không? Đó vẫn là đầu đề đặc biệt tại những cuộc hội họp của bọn con gái. Cô chưa bao giờ thấy anh đi với một cô gái nào ngoài phố.

Một đêm khi cả gia đình cô đến nhà hàng Wagon-Wheel Steak House để dùng bữa tối thì gặp anh ngồi một mình. Khi anh đến nói chuyện với cô, cô tưởng như mình sắp chết. Cô lúng túng giới thiệu với cha mẹ và anh đứng lên bắt tay cha cô. Sau khi tìm được chỗ ngồi, thằng bé em cô lại làm đổ bình sữa và cô những muốn chẹt cổ nó đi cho rồi. Khi cô có đủ can đảm để liếc sang phía bàn Chapman, thì anh đã đi rồi.

“Dạ được, ngày nào ạ?”

Anh nhíu mắt trước ánh mặt trời, càng chói chang trong cơn gió lạnh. Cô chưa bao giờ xác định được đôi mắt anh màu xám hay màu xanh lá cây, hoặc màu gì gần giống như vậy. Nhưng cô thích cách hàng mi đen của anh vút cong lên khi anh nhíu mắt như thế.

“Thì em nói xem.” Anh bật cười.

“À để xem, em có giờ tập của đội cổ vũ vào thứ Năm bởi vì tổng dợt là thứ Sáu.” Ngu ngốc! Anh dư biết khi nào tổng dợt mà. “Thứ Ba em có giờ học đàn piano.” Anh đâu thèm biết tới chứ, Shelley? “Em nghĩ thứ Hai và thứ Tư là tiện nhất.”

“Được vậy thì tốt,” anh nói. “Ồ, lạnh quá. Thôi chúng ta hãy vào trong đi.”

Cô gần như vấp ngã trên chính đôi chân lóng ngóng của mình khi anh đột nhiên nắm khuỷu tay và dìu cô qua khung cửa tòa nhà. Ngay vào lúc cánh cửa vừa đóng sập sau lưng họ, cô tưởng như mình ngất đi vì sự đụng chạm ấy. Cô chưa bao giờ kể cho lũ bạn gái mình chuyện này. Lúc ấy, bí mật đó quá trân quí để tiết lộ.

Những buổi chiều yên lặng trôi qua trong gian phòng học của anh là tâm điểm vần xoay cuộc đời còn lại của cô. Cô bồn chồn trong những ngày cô không đến được, và cô bồn chồn cả trong những ngày cô phải đến cho đến khi hồi chuông tan học réo vang lần cuối. Cô đã cố không vội vã vượt qua hành lang trống vắng để đến gian phòng học của anh, nhưng thường thường cô vẫn hụt hơi khi đến nơi. Đôi khi anh không có mặt ở đó, nhưng có để lại cho cô cả chồng bài kèm theo những lời chỉ dẫn. Cô đi ngay vào việc chấm điểm cho các bài tập của các bạn cùng lớp với một sự siêng năng mà cô chưa từng dành cho công việc nào khác trong đời. Thường thường khi anh cùng tham dự với cô, anh có mang sô đa cho cô. Một ngày khi cô đang kiểm tra những bài tập với cây viết đỏ anh đưa cho, anh đứng trong bàn làm việc cố đọc cho xong một bài luận khó hiểu.

Anh kéo chiếc áo len cổ chữ V qua khỏi đầu. “Tôi nghĩ người ta vặn lò sưởi quá nóng ở đây. Cái trường này không làm đúng bổn phận để tiết kiệm điện rồi.”

Lúc đó, cô không thể để tâm thán phục lương tâm ái quốc của anh, vì anh đã làm cho cô hoa mắt. Đan ngón tay vào nhau, ngữa bàn tay lên, anh vươn dài tay qua đầu, đồng thời uốn lưng ra sau. Cô như bị bùa mê bởi bắp thịt cuộn lên dưới làn áo vải mềm mại. Anh thở dài khoan khoái khi hạ cánh tay xuống và xoay vai thư giãn. Shelley để rớt cây viết, những ngón tay của cô bỗng trở nên vô dụng. Cô những tưởng mình sẽ tan rã ngay trên bàn nếu da dẻ không cột chặt xương thịt cô lại. Cô bỗng nghi ngờ cảm giác nóng ran này không có liên hệ gì đến cái máy đo nhiệt độ trên tường. Hôm ấy cô rời phòng học của anh trong hoang mang. Cô càng muốn gần anh bao nhiêu, cô chợt cảm thấy phải ép buộc thoát ra khỏi anh bấy nhiêu. Nhưng không có một lối thoát nào cho cuộc công kích vào tình cảm cô bởi vì những xáo trộn là từ bên trong cô. Nó hoàn toàn mới, khác biệt và không một kinh nghiệm tình yêu nào của cô có thể chuẩn bị cho cô trước sự tấn công ấy. Cô không thể định nghĩa được nó là gì khi ấy. Chỉ có sau này, khi cô đã già dặn hơn, cô mới có thể định nghĩa được cái cảm giác cô có buổi chiều hôm đó: khao khát.

Suốt trong những ngày cuối thu, anh chưa bao giờ đối xử với cô khác hơn là cởi mở hiếu khách. Khi bạn trai cô đến đón cô sau những trận dợt banh để chở cô về nhà trên chiếc xe vá víu Cougar, thầy Chapman luôn gọi với theo sau họ “Đi chơi vui vẻ nhé!”

“Trước khi bước sang bài kế tiếp, anh chị nên đọc ba chương đầu của sách. Nhất định là chán lắm, nhưng nó sẽ cho anh chị những thông tin căn bản.”

Shelley bị rứt ra khỏi ảo mộng của cô bằng những lời dặn của anh. Anh ngồi nghếch một bên trên mé bàn, dáng điệu đầy tính đàn ông. Shelley ngờ rằng chẳng có người con gái nào trong phòng học này mà không đế ý tới vẻ đàn ông hấp dẫn của anh. Chỉ có người bị mù hoặc già yếu mới không bị ảnh hưởng, và cô nhìn quanh một vòng, cô chẳng thấy ai như vậy cả. Hơn thế, cô còn nhận ra những nữ sinh viên hầu hết ở tuổi trên mười tám hoặc dưới hai mươi. Những bộ ngực căng không nịt lộ ra dưới làn áo thun, và những cặp đùi thể thao thon đẹp bó trong những chiếc quần jean kiểu cách. Những lọn tóc dài buông thả dập dềnh đủ màu nâu, đỏ hung, vàng rực. Cô cảm thấy già và không đúng mốt bởi sự so sánh đó. Như là mình, Shelley tự nhắc nhở. Cô đang mặc chiếc áo len, màu trái nam việt quất, và cô mặc nịt ngực bên trong. Chiếc áo len hợp với dáng cao của cô và ăn khớp với chiếc váy len lửng ngang đầu gối màu xám. Ít ra cô cũng biết ăn mặc hợp thời trang và chưa nộp mình cho loại hàng lụa mỏng. Ở tuổi hai mươi sáu cô là người xếp hàng thứ 2 già nhất lớp. Một ông già tóc bạc nghiêm trang ngồi ở hàng đầu. Ông ghi chép cẩn thận trong khi một anh chàng trẻ tuổi đội nón cao bồi ngồi cạnh Shelley ngủ yên bình suốt giờ học.

“Chào tạm biệt,” giáo sư Chapman nói khi chuông reo. “Ồ vâng, xin cô Robins làm ơn dừng lại ở bàn giảng viên.”

Lịch sử tái lập.

Shelley sửng sốt đến nỗi buông rơi chồng sách cô vừa gom lại trong tay khi anh đưa ra yêu cầu. Ít gây chú ý hơn đám bạn học cùng lớp ở Poshman Valley, bốn mươi hay hơn sinh viên tràn ra khỏi lớp, hầu hết chỉ muốn đốt một điếu thuốc lá đầu tiên sau hơn một tiếng đồng hồ. Đầu cúi thấp, cô tập trung vào việc luồn lách qua đống bàn ghế mất trật tự hơn gian phòng học gọn ghẽ của anh mười năm trước. Qua khoé mắt, cô thấy sinh viên cuối cùng vừa rời khỏi phòng. Một cách bất cẩn, anh ta để cánh cửa sập kín lại sau lưng. Cô cố bóp nghẹt sự thôi thúc điên cuồng yêu cầu anh ta làm ơn để cửa mở. Khi cô chỉ còn cách xa bàn giảng viên vài mét, khi cô đã không còn lý do gì để không phải nhìn thẳng vào anh, cô ngước hàng mi dầy lên và gặp cái nhìn đăm đăm của anh cho lần đầu sau mười năm.

“Xin chào, Shelley!”

Cô kinh ngạc. Hoặc ít nhất cũng cảm thấy mình bật ra tiếng nghẹn ngào trong cổ và chỉ hy vọng được chặn lại đúng lúc. “Xin chào, thầy Chapman”.

Một tiếng cười dội ra trong cổ, nhưng anh cũng thế, chặn lại trước khi phát ra thành tiếng. Đôi môi dầy dặn gợi cảm của anh dễ dàng mỉm một nụ cười, nhưng đôi mắt anh ráo riết khám xét khuôn mặt cô. Chúng thu nhận ngay mái tóc của cô, đôi mắt vô tư dễ tổn thương, sống mũi thanh nhã, và đôi môi cô, anh nghiên cứu đôi môi cô một lúc lâu, và khi chiếc lưỡi của cô hồi hộp liếm ướt chúng, cô tự rủa thầm đã để chúng làm thế. Nguy hiểm và im lặng bao trùm trong phòng. Anh bước ra khỏi bàn để đứng đối diện với cô. Anh luôn luôn trông có vẻ cao quá khổ. Không phải để đe dọa, nhưng để bảo vệ.

“Em... tôi không nghĩ thầy nhận ra tôi.”

“Tôi nhận ra em ngay ngày đầu tiên em đến lớp,”

Đứng gần thế này, giọng anh nghe trầm hơn. Khi anh phải phô trương giọng trong những bài giảng, không có âm hưởng thân mật khiến cô mất cân bằng như bây giờ.

“Tôi đã bắt đầu tưởng rằng em sẽ học hết cả khóa học mà không chào tôi một tiếng.”

10 năm chín chắn trưởng thành bị quét sạch bởi lối bông đùa thanh lịch của anh và cô lại cảm thấy mình non trẻ và khờ dại như ngày đầu gặp anh.

“Tôi không định làm thầy xấu hổ bằng cách nói chuyện và để thầy phải chật vật cố gắng nhớ ra tôi. Điều đó sẽ đưa thầy vào chỗ không tiện cho lắm.”

“Tôi lấy làm biết ơn em đã nghĩ cho tôi, nhưng không cần thiết đâu. Tôi nhớ em rất rõ.”

Anh vẫn quan sát tỉ mỉ khuôn mặt cô, cô tự hỏi liệu anh có nhận ra sự tô điểm hoặc sự bôi xóa mà thời gian đã để lại trên người cô. Cô tự bản thân không cảm thấy mình kém hấp dẫn đi hoặc hơn, cô chỉ biết cô đã khác hẳn cô bé năm nào đau khổ chấm bài cho anh. Liệu anh có thấu rõ mối tình cuồng si cô dành cho anh? Liệu anh có đem ra làm đầu đề bàn thảo với bạn gái không? “Em nên thấy điệu bộ của cô bé, ngồi thẳng băng, hai bàn tay đổ đầy mồ hôi, mỗi lần anh cử động, cô bé nhảy dựng như một con thỏ chết nhát.” Cô tưởng như thấy anh vừa cười vừa lắc đầu tội nghiệp.

“Shelley?” anh kéo cô khỏi dòng suy tưởng không vui ấy bằng cách gọi tên cô, thậm chí phải nhắc lại nhiều lần.

“Vâng?” cô ngộp thở hỏi. Tại sao đột nhiên không khí lại bị thiếu thế này?

“Tôi hỏi em đã là bà Robins bao lâu rồi?”

“Ồ ...ưm, 7 năm. Nhưng tôi không là bà Robins 2 năm rồi.”

Đôi mày rậm, mang đầy khí chất đàn ông của anh, nhướng lên thầm hỏi.

“Đó là một câu chuyện dài và chán.” Cô liếc nhìn xuống chân mang đôi giày da mềm gót thấp. “Bác sĩ Robins và tôi đã chia tay cách đây 2 năm. Đó là lúc tôi quyết định đi học lại.”

“Nhưng đây là lớp chưa tốt nghiệp mà.”

Đã có người đàn ông nào mặc quần Jean, đi giày bốt viễn tây với áo khoác thể thao mà trông không giống tài tử chứ, nhưng Grant Chapman chắc chắn sẽ còn gây choáng váng hơn. Nó phải có cái gì liên hệ tới chổ hở cổ áo sơ mi, làm lộ ra khoảng ngực đậm lông của anh? Cô buộc mình phải quay mắt ra khỏi chỗ ấy để trả lời anh.

“Đó chính là tôi, một kẻ chưa tốt nghiệp, là tôi.”

Cô không thể biết được khuôn miệng mình trông thú vị làm sao khi cô tự nhiên mỉm cười. Vài năm qua nụ cười đã không đến dễ dàng. Nhưng khi chúng đến, chúng đã xóa đi vết mệt mỏi chán ngán hằn in trên khuôn mặt cô, chấm hết nơi má lúm đồng tiền trên khoé miệng cô. Grant Chapman dường như bị mê hoặc bởi đôi lúm hai bên khoé môi cô. Phải mất một lúc lâu anh mới trả lời.

“Tôi tưởng một học sinh giỏi như em, đã vào ngay đại học sau khi tốt nghiệp ở Poshman Valley.”

“Tôi có. Tôi vào đại học Oklahoma, nhưng...” Cô liếc nhìn ra xa như đang nhớ lại khóa học đầu tiên ở Norman và cuộc gặp gỡ bác sĩ Robins đã thay đổi hướng đi cuộc đời cô. “Rồi chuyện gì xảy ra cũng đã xảy ra,” Cô yếu ớt dứt lời.

“Mọi thứ ở Poshman Valley như thế nào? Tôi chưa về lại đó từ khi ra đi. Lạy chúa, hẳn là đã phải...”

“Mười năm,” cô buột miệng nói, và ngay khi đó cô muốn cắn lưỡi cho rồi. Cô hành động giống như một đứa học trò ngoan đưa ra câu trả lời đúng ý thầy giáo. “Đại loại như vậy,” cô chêm vào cố ý ra vẻ tự nhiên.

“Vâng, bởi vì tôi đã đi ngay Washington từ đó. Tôi bỏ đi trước khi năm học kết thúc.”

Bản năng tự vệ khiến cô quay mắt đi. Giờ học buổi chiều sắp bắt đầu. Chỉ một vài sinh viên trôi dạt trên lối đi bộ bên ngoài những cửa sổ nhiều tầng. Cô không thể nói về chuyện ra đi của anh. Anh sẽ không nhớ và cô đã cố gắng mười năm để quên.

“Chuyện ở Poshman Valley không có gì thay đổi. Tôi trở lại đó luôn để thăm cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đó. Em trai tôi thì đang dạy môn Toán và cũng là huấn luyện viên cho đội bóng năm thứ 2 trung học,”

“Không đùa chớ!” Anh cười lớn.

“Vâng, cậu ấy đã lập gia đình và có hai con.”

Cô loay hoay xóc lại chồng sách nặng trĩu trong tay cho thoải mái dựa vào ngực. Thấy vậy, anh nghiêng người xuống đỡ lấy chúng từ tay cô và đặt lên bàn phía sau. Không biết làm gì với đôi tay thừa thãi của mình, cô vụng về khoanh tay ngang hông, mong là anh không đoán ra được cô cảm thấy bị phơi bày như thế nào.

“Có phải em sống ở đây, tại Cedarwood?”

“Vâng. Tôi sẽ đi học toàn thời gian, tôi có mướn một căn phòng nhỏ.”

“Một căn phòng cũ rích?”

“Sao thầy biết?”

“Ở đây có nhiều nhà cũ như vậy. Một ngôi phố cổ kỳ dị. Nhắc tôi nhớ tới phố George, nơi tôi từng sống qua vài năm khi tôi ở Washington.”

“Ồ.” Cô cảm thấy mình vô duyên hết sức. Anh đã từng có quan hệ mật thiết với giới thượng lưu, giới người mẫu, giới thế lực chính trị. Với anh, cô chỉ là một con bé nhà quê mà thôi. Cô di chuyển để lấy lại sách.

“Tôi không muốn giữ chân thầy....”

“Em đâu có. Tôi đã hết giờ hôm nay rồi. Thực ra, tôi đang định đi uống một ly cà phê ở đâu đó. Em vui lòng đi với tôi không?”

Tim cô đập mạnh. “Không, cám ơn thầy Chapman, tôi...”

Tiếng cười lớn của anh ngắt ngang lời cô. “Thực là..., Shelley, tôi nghĩ em có thể gọi thẳng tên tôi. Em không còn ở trường trung học nữa.”

“Không, nhưng thầy vẫn là giáo sư của tôi mà,” Cô nhắc khéo anh, hơi bị rối loạn vì anh đã cười cô.

“Rất hân hạnh. Em tô điểm cho phòng học của tôi, hơn bao giờ hết.”

Cô những mong anh cứ cười như thế. Dẫu sao cô cũng dễ dàng đối phó hơn là cái nhìn soi mói của anh.

“Nhưng, làm ơn, đừng có đóng khung tôi thành ông “giáo sư đại học”. Cái từ “giáo sư đại học” vẽ nên hình ảnh một ông già lãng trí với mái tóc bạc phơ, lục lọi túi áo choàng rộng thùng thình để tìm cặp mắt kiếng đang chễm chệ ngồi trên đầu ông ta.”

Cô cười lớn. “Có lẽ thầy nên thử dạy viết luận văn. Đó là bức tranh từ ngữ rất sinh động mà thầy vừa mới vẽ ra.”

“Vậy thì em đã hiểu ý tôi rồi đấy. Gọi là Grant đi, làm ơn.”

“Tôi sẽ thử,” cô chỉ có thể hứa vậy thôi.

“Thử ngay đi.” Anh năn nỉ.

“Được rồi.” Cô thở dài. “Grant.” Cái tên được gọi lên dễ dàng trên đầu môi cô hơn là cô tưởng. Trong những giấc mơ tình yêu mười năm qua, cô đã lần nào gọi tên anh chưa? “Grant, Grant.” cô lặp lại.

“Thấy chưa? Nghe phải hay hơn không? Bây giờ thì tới phiên cà phê được không? Em không còn lớp nào nữa chứ? Mà nếu như em còn, thì giờ em đã trễ rồi đấy, cho nên...”

Cô vẫn còn do dự. “Tôi không…”

“Trừ phi là em không muốn bị bắt gặp đi với tôi.”

Giọng anh thay đổi đột ngột khiến cô vụt ngước nhìn lên. Những lời được nói một cách nhẹ nhàng, nhưng có cả một sự đắng cay phủ đầy. Cô bắt được ý anh ngay.

“Thầy muốn nói đến chuyện xảy ra ở Washington đó hả?”

Khi anh yên lặng trả lời cô bằng tia nhìn xuyên thấu với đôi mắt xám xanh, cô lắc đầu mãnh liệt. “Không, không, dĩ nhiên là không phải. Giáo sư… à, Grant. Chuyện đó không ăn nhập gì đến chuyện này đâu.”

Cô cảm động khi thấy vẻ nhẹ nhõm hiện ra trên mặt anh.

“Tốt”. Anh cào những ngón tay thon khoẻ vào mớ tóc mình. “Chúng ta đi uống cà phê đi.”

Không hiểu vì cái nhìn đắm đuối trong mắt anh hay thái độ lúng túng trẻ thơ đã ép buộc cô đi với anh, hay là vì giọng điệu cầu khẩn của anh cũng nên.

“Thôi được”, cô nghe chính giọng mình trả lời trước khi thâm tâm cô ra quyết định.

Anh mỉm cười, quay lại nhặt chồng sách của cô và hồ sơ của mình, và đẩy cô đi về phía cửa. Khi đến nơi, anh cúi nghiêng người qua lưng cô để tắt đèn. Cô nín thở cảm thấy cánh tay anh lướt nhẹ trên lưng. Có một thoáng, bàn tay anh đặt nhẹ nơi cổ cô trượt dài xuống nửa lưng. Động chạm ấy không khác gì một cử chỉ lịch sự, cô tự chỉnh mình khi cảm nhận được bàn tay anh qua lần áo len khi họ đi bộ qua khuôn viên trường.

Hal, một cộng đồng xã hội thu nhỏ của mỗi một trường đại học trên đất nước này, ồn ào, mịt mù khói thuốc và đông đúc. Ca sĩ Neil Diamond đang than khóc sự cô đơn của anh ta trên loa phóng thanh gắn dã chiến trên trần nhà. Người hầu bàn áo trắng tay đeo dải lụa đỏ đem bia cối đến những bàn chật chội bừa bãi. Sinh viên đủ loại, từ kẻ mới nhập trường, hội nữ sinh viên, những vị trí thức râu ria xồm xoàm đến những vận động viên bắp thịt cuồn cuộn, tất thảy đều bị nấu chảy trong mớ tiệc tùng hỗn loạn này. Grant nắm tay dẫn cô đến góc bàn riêng tư quen thuộc khuất mắt trong quán.

Ngồi vững vàng trong ghế, anh chồm ngang qua bàn thì thầm, “Hy vọng tôi không phải trình thẻ căn cước?”

Trước khuôn mặt ngơ ngác của cô, anh giải thích, “Tôi nghĩ không ai trên ba mươi được chào đón ở đây.”

Cô cười ngặt nghẽo, anh vỗ trán, “Lạy chúa, em chưa đủ ba mươi tuổi mà phải không? Tại sao càng lúc tôi càng giống ông giáo sư tóc bạc trắng đi run lẩy bẩy thế nhỉ?”

Khi người hầu bàn vụt qua, Grant chặn anh ta lại đủ lâu để gọi, “Hai ly cà phê.”

“Sữa không?” anh hầu bàn lẩn nhanh hỏi với lại qua vai.

“Sữa không?” Grant hỏi cô. Cô gật đầu. “Sữa!” Grant hét với theo anh hầu bàn.

“Lần chót tôi gặp em, em chưa đủ tuổi uống cà phê thì phải?” Anh hỏi cô.

Không thực sự để ý đến câu hỏi của anh, cô lắc đầu. Cô khó kềm chế không nhìn chằm chằm vào anh. Mái tóc anh bị gió thổi tung thật lôi cuốn, chiếc áo sơ mi hở cổ chữ V tiếp tục gây bối rối cho cô. Daryl Robins từng cho mình là biểu tượng của đàn ông, bộ ngực anh ta cũng chỉ lơ thơ ít lông nhạt màu, trong khi đây là cả một cánh rừng rậm trên làn da ngăm. Một ước muốn mãnh liệt được chạm ngón tay vào đó, cô vội nhìn chổ khác. Một cái liếc vòng quanh đủ cho cô nhận ra. Các nữ sinh cũng đang nhìn chằm chặp vào Grant không che dấu lòng ham muốn. Cô là đối tượng đáng đánh giá của họ. Grant Chapman khét tiếng xấu, nguy hiểm, loại mà không người đàn bà nào không tò mò muốn biết. Shelley cố gắng gạt bỏ làn sóng xôn xao gây ra bởi sự xuất hiện của họ, nhưng những cái nhìn trừng trừng trước mặt họ bây giờ thật là không thoải mái chút nào.

“Em sẽ quen dần thôi.” anh nhỏ nhẹ nói sau vài giây.

“Còn thầy?”

“Không, em không thể quen được, em chỉ học cách sống với nó thôi và phớt lờ nó đi nếu em làm được.” Anh xoay tít cái gạt tàn thuốc trên mặt bàn mi ca, “Đó chẳng qua là hậu quả của việc hình em được đăng trên báo vài tháng. Bất kể em là người xấu hay người tốt, thủ phạm hay nạn nhân, có tội hay không có tội, tiếng tăm luôn theo sát em. Không còn gì là riêng tư nữa.”

Cô không nói gì thêm cho đến sau khi anh hầu bàn lo lắng tiếp cà phê cho họ. Shelley khuấy sữa vào tách của mình và khẽ khàng nói, “Họ sẽ tập làm quen có thầy ở đây. Tin thầy gia nhập Khoa vào mùa thu này lan nhanh như lửa mùa xuân vừa qua. Một khi thầy ở đây lâu, mọi sôi nổi sẽ tắt dần đi.”

“Lớp tôi đủ người nhanh lắm. Tôi chẳng ngạc nhiên. Tôi biết hầu hết sinh viên xin học vì tò mò thôi. Tôi thấy anh chàng cao bồi ngồi kế bên em ngủ suốt hôm nay.”

Cô mỉm cưởi, vui mừng rằng anh không quá nhạy cảm, vẻ cảnh giác không còn trên khuôn mặt anh nữa. “Tôi không nghĩ anh ta sẽ biết ơn bài giảng cực hay của thầy.”

Grant mỉm trả nụ cười ngắn ngủi cho cô và liền lúc đó đăm đăm nhìn vẻ nghiêm chỉnh của cô, tìm kiếm tận đáy sâu thẳm trong mắt cô với ánh nhìn mạnh mẽ khiến cô nao núng run sợ.

“Tại sao em xin học lớp tôi, Shelley?”

Cô nhìn xuống tách cà phê của mình, rồi suy nghĩ rằng im lặng có nghĩa là nhận tội, cô nói một cách có ý chí, “Bởi vì tôi cần điểm.”

Anh phớt lờ cách pha trò của cô. “Em cũng tò mò lắm, phải không? Em muốn xem tôi đã mọc mấy cái sừng và có cái đuôi dài nào từ khi em chưa gặp lại tôi?”

“Không” Cô than khẽ. “Dĩ nhiên là không. Không bao giờ.”

“Em muốn xem coi tôi còn nhớ em không?” Anh nghiêng hẳn người lên bàn, hai cánh tay anh chống lên mép bàn. Khoảng cách giữa họ ngắn dần, nhưng đáng lẽ phải thu mình ra xa khỏi anh, cô lại thấy bị hối thúc đến gần anh hơn.

“Tôi... tôi đoán tôi đã làm thế. Tôi không nghĩ thầy nhận ra tôi. Đã lâu lắm rồi, và…”

“Em muốn xem coi tôi còn nhớ gì đến đêm chúng ta đã hôn nhau, phải không?”

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.