Percy Jackson Tập 2: Biển Quái Vật

Chương 8: Chúng tôi lên con tàu có tên công chúa andromeda



Tôi đang ngắm những con sóng nhấp nhô khi Annabeth và Tyson tìm thấy tôi.

“Có chuyện gì thế?” Annabeth hỏi. “Tớ nghe thấy cậu gọi kêu cứu.”

“Tớ cũng nghe thấy!” Tyson nói. “Nghe cậu kêu to, “Có chuyện tồi tệ đang tấn công!’”

“Tớ không gọi các cậu!” tôi đáp. “Tớ ổn.”

“Thế nhưng ai…” Annabeth chợt nhận ra ba chiếc túi vải dùng để đi du lịch màu vàng, rồi cả cái bình và cái lọ vitamin mà tôi đang cầm. “Cái gì thế…?”

“Nghe này,” tôi nói. “Chúng ta không có nhiều thời gian đâu.”

Tôi kể cho họ về cuộc trò chuyện của tôi với thần Hermes. Và khi tôi vừa kể xong, tôi có thể nghe thấy tiếng rít từ đằng xa – các nữ yêu quái mình người cánh chim thuộc đội tuần tra đã ngửi thấy mùi của chúng tôi.

“Percy này,” Annabeth nói, “chúng ta phải thực hiện cuộc tìm kiếm này.”

“Chúng ta sẽ bị trục xuất ra khỏi trại, cậu biết đấy. Hãy tin tớ. Tớ là một chuyên gia bị đuổi mà.”

“Thì sao nào? Nếu chúng ta thất bại cũng chẳng còn trại nào để quay về cả.”

“Ừ, nhưng cậu đã hứa với bác Chiron rằng…”

“Tớ hứa sẽ giúp cậu khỏi nguy hiểm. Tớ chỉ có thể làm được điều đó nếu đi cùng cậu. Tyson có thể ở lại và nói với họ…”

“Tớ muốn đi,” Tyson phản đối.

“Không được!” Giọng của Annabeth gần như hoảng sợ. “Ý tớ là… Percy, thôi nào. Cậu biết chuyện này không thể mà.”

Tôi lại tự hỏi tại sao cô ấy lại có mối hận thù đối với người Cyclops tới vậy. Có điều gì đó cô ấy không kể cho tôi.

Cả Annabeth và Tyson đều nhìn tôi, chờ đợi câu trả lời. Lúc này, con tàu biển đang tiến ngày càng xa hơn.

Vấn đề là, một phần trong tôi không hề muốn cho Tyson đi cùng. Tôi đã có ba ngày qua quá gần gũi với cậu ấy, để rồi bị các trại viên chòng ghẹo và xấu hổ tới hàng triệu lần trong một ngày. Điều này nhắc nhở tôi rằng tôi có quan hệ họ hàng với Tyson. Tôi cần có một không gian riêng.

Hơn nữa, tôi không biết cậu ấy có thể giúp tôi đến mức nào hoặc làm thế nào để giúp cậu ấy được an toàn. Chắc chắn rằng Tyson rất khỏe mạnh nhưng cậu ấy vẫn chỉ là một đứa con nít theo ngôn ngữ của người Cyclops, có lẽ cậu ấy chỉ như đứa trẻ bày, tám tuổi. Tôi có thể thấy được hình ảnh cậu ta hoảng sợ và bắt đầu òa khóc khi chúng tôi đang cố để thoát khỏi một con quái vật hay cái gì đó tương tự. Cậu ấy sẽ làm tất cả chúng tôi bị giết mất.

Mặt khác, tiếng của các nữ yêu quái mình người cánh chim đang vọng tới ngày càng gần hơn…

“Chúng ta không thể để cậu ấy lại,” tôi quyết định. “Tantalus sẽ trừng phạt cậu ấy vì đã để chúng ta đi.”

“Percy,” Annabeth nói, cố gắng giữ điềm tĩnh, “Chúng ta đang tới đảo của Polyphemus. Polyphemus là một… S-i-k… một C-y-k…” Cô ấy dậm chân với vẻ thất vọng. Thông minh như Annabeth mà giờ cũng như người mắc bệnh khó đọc. Chúng tôi không thể ở đây cả đêm để chờ cô ấy đánh vần chữ Cyclops. “Cậu biết tớ có ý gì rồi đấy!”

“Tyson có thể đi cùng,” tôi khăng khăng, “nếu cậu ấy muốn.”

Tyson vỗ tay reo lên. “Muốn đi mà!”

Annabeth liếc tôi bằng con mắt khó chịu nhưng tôi đoán rằng cô ấy có thể khẳng định rằng tôi sẽ không đổi ý. Hoặc có thể cô ấy biết rằng chúng tôi không có thời gian để cãi nhau.

“Được thôi,” cô ấy nói. “Giờ làm thế nào chúng ta lên được con tàu đó?”

“Thần Hermes nói rằng cha tớ sẽ giúp.”

“Vậy thì Óc Tảo Biển, cậu còn chờ gì nữa?”

Tôi luôn thấy khó khăn khi gọi cha mình hoặc cầu xin ông, hoặc bất cứ thứ gì mà các bạn muốn gọi, nhưng tôi tiến thẳng vào các con sóng.

“Ừm, cha ơi,” tôi cất tiếng. “Cha khỏe không?”

“Percy!” Annabeth thầm thì. “Chúng ta vội lắm đấy!”

“Chúng con cần cha giúp!” Tôi nói to hơn. “chúng con cần lên con tàu trước khi chúng con bị ăn thịt hay thứ gì tương tự như thế, nên…”

Thoạt đầu, không có gì diễn ra. Những con sóng vẫn vỗ bờ như bình thường. m thanh từ đám nữ yêu quái mình người cánh chim vọng tới như thể họ đã ở ngay sau đụn cát. Rồi khoảng một trăm mét trên mặt biển xuất hiện ba dòng nước trắng. Chúng di chuyển rất nhanh về phía bờ, như thể những bộ vuốt xé rách đại dương.

Khi chúng tới gần bờ, những con sóng nổ tung và đầu của ba con ngựa trắng nhô ra khỏi những con sóng.

Tyson nín thở, thầm thì “Ngựa cá kìa!”

Cậu ấy đã nói đúng. Khi những sinh vật đó tiến lên nãi cát, tôi nhận thấy thân trước chúng mang hình ngựa, còn nửa thân phía sau lại là mình cá màu bạc với những chiếc vảy óng ánh và vây hình cầu vồng.

“Cá ngựa!” Annabeth reo lên. “Chúng mới đẹp làm sao!”

Con gần nhất hí vang tán thưởng và dụi mõm vào Annabeth.

“Chúng ta sẽ thưởng thức chúng sau,” tôi nói. “Giờ đi thôi.”

“Chúng đây rồi! Một tiếng rít chói tai vang lên phia sau chúng tôi. “Lũ trẻ hư trốn khỏi nhà kìa. Tới giờ ăn điểm tâm cho các nữ quái mình người cánh chim may mắn rồi!”

Năm người trong số họ vẫy cánh đầy kích động trên đỉnh những đụn cát. Chúng là lũ phù thuỷ béo mẫm lùn dí với những gương mặt nhăn nhó, đầy móng vuốt và những đôi cánh lông vũ quá nhỏ so với thân hình. Chúng nhắc tôi nhớ tới những quý bà trong các quán ăn tự phục vụ được thu nhỏ - những người được lai giống với lũ chim cưu. Ơn trời, họ không được nhanh nhẹn cho lắm nhưng họ sẽ rất nguy hiểm nếu tóm được chúng tôi.

“Tyson!” tôi giục. “Cầm lấy chiếc túi đi”.

Cậu ấy vẫn đang há hốc mồm ngắm nghía không chán lũ ngựa biển.

“Tyson!”

“Gì thế?”

“Đi nào!”

Được Annabeth giúp đỡ, tôi cũng thúc cậu ấy chịu đi. Chúng tôi nhặt các mũi tên và cưỡi lên lũ ngựa. Thần Poseidon hẳn phải biết có Tyson đi cùng vì một con ngựa biển lớn hơn hai con kia rất nhiều – rất phù hợp để chở một Cyclops.

“Đi nào!” Tôi hét vang. Con ngựa của tôi xoay người lại và lao thẳng vào những con sóng. Ngựa của Annabeth và của Tyson cũng theo ngay sau tôi.

Các nữ yêu quái mình người cánh chim nguyền rủa chúng tôi, rền rĩ kêu món điểm tâm của chúng quay trở lại. Nhưng lũ ngựa biển đã phi băng băng trên mặt nước với tốc độ của những chiếc moto nước. Lũ yêu quái mình người cánh chim bị bỏ lại phía sau và chẳng mấy chốc bờ biển của Trại Con Lai chỉ còn là một đường mờ tối. Tôi tự hỏi liệu mình còn cỏ thể nhìn thấy nơi này nữa không. Nhưng ngay lúc này tôi lại có những vấn đề khác.

Con tàu du lịch giờ đây đang hiện ra sừng sững trước mặt chúng tôi – chuyến đi của chúng tôi về hướng Florida và Biển Quái Vật.

Cưỡi ngựa biển thậm chí còn dễ hơn cưỡi thần mã Pegasus. Chúng tôi lao vun vút với gió sượt qua mặt, êm ái và vững vàng lướt nhanh qua những con sóng khiến tôi hầu như không cần ôm chặt lấy nó.

Khi chúng tôi tiến sát gần con tàu, tôi nhận ra nó mới to lớn làm sao. Tôi có cảm giác như mình đang ngắm một toà nhà ở Manhattan vậy. Thân tàu màu trắng cao ít nhất mười tầng, phía trên đó lại có tới một tá tầng khác với những chiếc ban công và ô cửa sổ được chiếu sáng. Tên con tàu được sơn màu đen ngay trên mũi tàu và được chiếu sáng bằng các ngọn đèn pha. Tôi phải mất vài giây mới có thể giải mã được nó:

CÔNG CHÚA ANDROMEDA

Đỉnh ở mũi tàu là một cột buồm khổng lồ - một phụ nữ cao ba tầng với áo mặc trong của người Hy Lạp màu trắng, được chạm trổ như thể bị xích vào phía trước con tàu. Cô ta nom rất trẻ và đẹp với mái tóc đen rủ xuống nhưng vẻ mặt lại đầy khiếp sợ. Tôi thật không thể hiểu tại sao người ta lại muốn một công chúa đang la hét được gắn vào phía trước con tàu nghỉ mát của họ?

Tôi nhớ lại thần thoại về Andromeda(1) và việc cô bị xích vào một tảng đá bởi bố mẹ mình như một vật hiến tế cho một con thuỷ quái như thế nào. Có thể cô ta có quá nhiều điểm F trong bảng điểm, hoặc điều gì đó. Dù thế nào đi chăng nữa thì người trùng tên với tôi, Perseus, cũng đã kịp cứu cô ta và biến thuỷ quái thành đá bằng đầu của Medusa.

(1) Là con gái của vua Cepheus xứ Ethyopia và hoàng hậu Cassiopeia, người có sắc đẹp khiến thần thánh phài ganh tị. Quá kiêu hãnh về sắc đẹp của con gái mình, hoàng hậu Cassiopeia đã xem thường nhan sẵc của các nữ thần biển. Để trừng phạt, thần Poseiden đã sai thủy quái đến tàn phá đất nước Ethiopia. Nhà vua đã cầu xin sự giúp đỡ của thần Zeus và được chỉ rằng để cứu đất nước ông phải hiến tế cô con gái đồng trinh vủa mình cho thủy quái. Thương con nhưng để cứu đất nước, ông đành nghe theo lời tiên tri, xích công chúa vào một tảng đá gần bờ biển để làm mồi cho thủy quái. Cuối cùng cô đã được Perseus cứu thoát và trở thành vợ của người anh hùng này.(ND)

Anh chàng Persius đó luôn chiến thắng. Đó là dý do tại sao mẹ tôi đã đặt tên tôi giống tên anh ta, mặc dù anh ta là con trai thần Zeus và tôi là con trai thần Poseidon. Perseus thứ thiệt là vị anh hùng duy nhất trong thần thoại Hy Lap có cái kết có hậu. Những ngừơi khác đều chết do bị phản bội, thương tật, bị đầu độc hoặc bị nguyền rủa bởi các vị thần. Mẹ tôi hy vọng rằng tôi được thừa hưởng may mắn của Perseus. Xét thấy cuộc đời mình diễn ra từ trước đến nay, tôi thật chẳng lạc quan chút nào.

“Làm thế nào lên được thuyền?” Annabeth gào to hơn cả tiếng sóng ì ầm, nhưng lũ ngựa biển như hiểu chúng tôi cần gì. Chúng bay sát mạn phải của con tàu, nhẹ nhàng đi xuyên qua đường rẽ nước khổng lồ của nó, và dừng lại kế bên chiếc thang được gắn cố định ở một bên thân tàu.

“Cậu lên trước đi!” tôi giục Annabeth.

Cô ấy đeo chiếc túi vải trên vai và chộp vội lấy thanh ngang bên dưới của chiếc thang. Khi cô ấy đã nhấc được người lên trên cái thang, con ngựa biển mà cô ấy cưỡi đã hí vang tạm biệt và lặn xuống mặt nước. Annabeth bắt đẩu trèo. Tôi chờ cô ấy chèo lên trên được vài bậc liền theo sát.

Cuối cùng chỉ còn Tyson đang ở dứoi nước. Con ngựa biển của cậu ấy đang thực hiện những cú xoay trên không một vòng 360 độ và cú nhảy giật lùi. Tyson đang cừơi đầy vui vẻ, tiếng cừơi vang cả một mạng tàu.

“Tyson, suỵt!” Tôi giục giã. “Đi nào, anh bạn to lớn!”

“Chúng ta không thể mang Cầu vồng theo sao?” cậu ấy hỏi, nụ cười mất dần.

Tôi nhìn cậu ấy chằm chằm. “Cầu vồng ư?”

Con ngựa biển hí vang như thể nó thích cái tên mới của mình.

“Ừm, chúng ta phải đi thôi,” tôi nói. “Cầu vồng… ừm, nó không thể trèo cẩu thang được.”

Tyson sụt sịt. Cậu ấy giấu mặt trong bộ bờm ngựa. “Tao sẽ nhớ mày lắm, Cầu vồng à!”

Con ngựa biển hí lên một tiếng mà tôi có thể thề đó là tiếng khóc của nó.

“Có lẽ sau này chúng ta sẽ gặp lại nó,” tôi gợi ý.

“Ôi, xin cậu đấy!” Tyson nói và phấn khởi ngay lập tức: “Ngày mai!”

Tôi không đưa ra lời hứa hẹn gì cả nhưng cuối cùng tôi cúng thuyết phục được Tyson nói lời từ giã với con ngựa và nắm lấy cái thang. Với một tiếng hí buồn rẩu cuối cùng, con ngựa Cầu vồng thực hiện một củ lộn ngược và lao vụt xuống mặt biển.

Cái thang dẫn tới tầng bảo dưỡng chứa đầy những chiếc thuyền cứu sinh màu vàng. Có cửa hai cánh bị khóa mà Annabeth đang thử mở bằng con dao của mình và một số lời nguyền rủa bằng tiếng Hy Lạp cổ.

Tôi đoán chúng tôi phải lén lút đi vòng quanh, trở thành những kẻ đi lậu vé. Nhưng sau khi kiểm tra vài hành lang và nhìn chăm chú từ một ban công vào boong tàu dạo mát khổng lồ ở khu vực trung tâm với các cửa tiệm đóng kính, tôi nhận ra rằng trên tàu không có ai để chúng tôi phải lẩn trốn. Ý tôi là, hẳn bây giờ đang là nửa đêm và chúng tôi đi được nửa chiều dài con tàu và chẳng gặp một ai. Chúng tôi băng qua bốn mươi hoặc năm mươi cánh cửa của các buồng trên tàu và không hề nghe thấy bất kỳ tiếng động gì đằng sau chúng.

“Đây là con tàu ma!” tôi thì thầm.

“Không phải,” Tyson cãi và nghịch vớ vẩn với vai chiếc túi của cậu ấy. “Mùi rất tệ.”

Annabeth cau mày. “Tớ chả ngửi thấy mùi gì cả.”

“Cyclops cũng như các thần rừng ấy,” tôi giải thích. “Họ có thể ngửi thấy mùi quái vật. Đúng không, Tyson!”

Cậu ấy gật đầu đầy lo lắng. Bây giờ, chúng tôi đã ra khỏi Trại Con Lai và Màn Sương Mù lại bóp méo gương mặt cậu ấy. Trừ phi tôi phải rất tập trung, nếu không thì dường như cậu ấy đã có hai mắt, thay cho một mắt.

“Được rồi,” Annabeth nói. “Vậy chính xác là cậu ngửi thấy mùi gì?”

“Thứ gì đó rất tệ,” Tyson đáp.

“Tuyệt,” Annabeth cằn nhằn, “Nó làm sáng tỏ nhiều điều đấy.”

Chúng tôi ra ngoài về phía khu bể bơi. Có rất nhiều dãy ghế xếp trống và một quán bar được đóng bởi một tấm màn làm bằng xích. Nước trong bể rực sáng một cách kỳ lạ, chuyển động lên xuống theo chuyển động của con tàu.

Ở phía trên bọn tớ, suốt chiều con tàu là một bức tường tập leo núi trong nhà, một sân golf pitch-and-putt (1), một nhà hàng xoay nhưng nó không hể có bất cứ dấu hiệu nào của sự sống.

(1) Một sân golf thu nhỏ được thiêt kế chủ yếu cho việc đánh từ đường lăn đến thảm cỏ và đánh vào lỗ.(ND)

Và giờ… tôi lại cảm nhận được điều gì đó quen thuộc. Một điều gì đó rất nguy hiểm. Tôi có cảm giác rằng nếu tôi không quá mệt và đã đốt cháy hết chất adrenalin trong suốt đêm dài, tôi có thể đặt tên cho mối nguy hiểm đó là gì.

“Chúng ta cần một nơi để trốn,” tôi nói. “Nơi nào đó an toàn để ngủ.”

“Ngủ.” Annabeth mệt mỏi đồng ý.

Chúng tôi thăm dò thêm một vài hành lang cho tới khi tìm được một buồng trống ở tầng chín. Cánh cửa mở sẵn khiến tôi thấy khó hiểu. Trên bàn để sẵn một giỏ bánh kẹo socôla, một chai rượu táo ướp lạnh được đặt trên bàn đầu giường và một nhánh bạc hà trên gối kèm theo một tờ giấy viết tay có dòng chữ: Hãy tận hưởng chuyến du hành của các bạn!

Chúng tôi mở túi du lịch ra trước và nhận ra rằng thần Hermes đã thực sự suy nghĩ hết mọi việc – quần áo để thay, các vật dụng dùng khi tắm rửa, khẩu phần ăn của trại, một túi đầy tiền mặt, một bao da nhỏ đầy những đồng tiền vàng. Thậm chí thần Hermes còn bỏ vào cho Tyson chiếc túi chứa tấm vải dầu đựng các dụng cụ và những mảnh kim loại của cậu ấy và chiếc mũ tàng hình cho Annabeth, điều đó giúp họ thấy dễ chịu hơn.

“Tớ sẽ ở ngay kế bên,” Annabeth nói. “Đám các cậu đừng ăn uống bất cứ thứ gì nhé!”

“Cậu nghĩ rằng nơi này bị bỏ bùa sao?”

Cô ấy cau mày. “Tớ không biết. Có thứ gì đó không ổn. Chỉ là… nên cẩn thận.”

Chúng tôi khóa cửa lại.

Tyson đổ sầm xuống đi văng. Cậu ấy ngó ngoáy một vài phút với mô hình kim loại của mình - thứ mà cậu ấy vẫn chưa muốn cho tôi xem - nhưng chẳng mấy chốc, cậu ấy đã ngáp ngắn ngáp dài. Tyson gói túi dầu lại và ngủ say như chết.

Tôi nằm trên giường và nhìn ra ô cửa sổ. Tôi nghĩ mình vừa nghe thấy tiếng động gì đó ở hành lang, giống như tiếng ai đó thì thầm. Tôi biết điều này là không thể. Chúng tôi đã đi khắp con tàu và không hề thấy ai. Nhưng những âm thanh này khiến tôi hoàn toàn tỉnh táo. Chúng nhắc tôi về chuyển đi xuống m phủ - cách các linh hồn đã chết phát ra tiếng khi họ bị cuốn đi.

Cuối cùng cơn mệt mỏi cũng chiến thắng tôi. Tôi ngủ thiếp đi… và mơ một giấc mơ tồi tệ nhất chưa từng có.

Tôi đang đứng ở gở của một chiếc hố khổng lồ trong một hang động. Tôi biết rất rõ chỗ này. Đường vào Tartarus. Và tôi nhận ra tiếng cười lạnh lẽo vọng lên từ bóng tối bên dưới.

Đây chẳng phải là người anh hùng trẻ tuổi. Giọng nói như một lưỡi dao bén cứa qua cứa lại trên phiến đá. Đang trên đường tới một chiến thắng vĩ đại khác.

Tôi muốn gào lên với Kronos rằng hãy để tôi được yên. Tôi muốn rút cây Thủy Triều và hạ gục ông ta. Nhưng tôi không thể nhúc nhích. Và thậm chí tôi có thể chăng nữa, làm thế nào tôi có thể giết được thứ đã bị phá hủy – bị cắt thành nhiều mảnh và bị ném vào bóng đêm vĩnh viễn không?

Đừng để ta chặn ngươi lại, người khổng lồ Titan nói. Có thể lần này, khi ngươi bị thất bại, ngươi sẽ muốn biết liệu việc làm nô lệ cho các vị thần có đáng không. Chính xác thì gần đây cha ngươi đã thể hiện sự cảm kích đó như thế nào?

Tiếng cười của ông vang khắp hang, và khung cảnh biến đổi.

Đây là một cái hang khác – phòng ngủ ngục tù của Grover nằm trong hang của người Cyclops.

Grover đang nằm ngồi chỗ khung cửi trong bộ đầm cưới dính đầy bùn đất, điên cuồng tháo gỡ những đường chỉ của phần đuôi chiếc đầm cưới chưa hoàn tất.

“Bánh mật ong của anh ơi!” Con quái vật gào lên từ phía sau tảng đá.

Grover kêu ầm lên và bắt đầu dệt lại các đường chỉ.

Căn phòng rung dữ dội khi tảng đá được đẩy sang một bên. Hiện ra lờ mờ trên lối ra là một Cyslops to tợn tới mức Tyson cũng chẳng bõ bèn gì. Hắn có bộ răng vàng khè lởm chởm, đôi tay xương xẩu to bằng cả người tôi. Hắn mặc chiếc áo phông màu đỏ tía đã bạc màu có dòng chữ TRIỄN LÃM CỪU THẾ GIỚI 2001. Hắn phải cao tới ít nhất năm mét. Nhưng thứ khiến người ta phải sửng sốt lại chính là con mắt khổng lồ màu trằng đục, bị sẹo và phủ một lớp màng bên ngoài như chứng đục nhãn mắt. Nếu hắn không hoàn toàn bị mù, ắt hẳn hắn sẽ nhìn tốt ở cự ly gần.

“Cưng đang làm gì thế?” con quái vật cất tiếng.

“Chả làm gì!” Grover đáp bằng giọng the thé. “Chỉ đang dệt cái đuôi chiếc đầm cưới như anh có thể nhìn thấy.”

Gã Cyclops thọc một tay vào căn phòng và sờ soạng tìm xung quanh cho đến khi hán tìm được khung cửi. Hắn mân mê chỗ vải. “Chẳng dài hơn tí nào cả!”

“Ôi không, có chứ, anh yêu. Có nhìn thấy không? Em đã may thêm được ít nhất ba centimét rồi đấy!”

“Quá nhiều sự trì hoãn!” con quái vật kêu rống lên. Rồi hắn ngửi ngửi trong khòng khí. “Mùi của cưng thật tuyệt! Y như lũ dê vậy!”

“Ồ!” Grover gắng cười khúc khích đầy yếu ớt. “Anh có thích không? Đó là loại nước hoa mùi dê đấy. Em dùng nó chỉ vì anh thôi.”

“Ừm!” Gã Cyclops phô cả hàm răng nhọn. “Đủ ngon để xơi đấy!”

“Ôi, anh thật biết đùa!”

“Không được trì hoãn nữa!”

“Nhưng cưng ơi, em vẫn chưa làm xong mà!”

“Ngày mai!”

“Không, không. Mất thêm mười ngày nữa cơ.”

“Năm ngày!”

“Ôi thôi, được rồi, bảy ngày nhé. Nếu anh cứ khăng khăng như thế!”

“Bảy ít hơn năm phải không?”

“Tất nhiên rồi. Đúng vậy.”

Con quái vật cằn nhằn, vẫn không chịu hài lòng với thỏa thuận của hắn. Nhưng rồi hắn cũng chịu để Grover ở lại với đồ đang làm dở và lăn tảng đá lại chỗ cũ.

Grover nhắm chặt mắt và run run thở, cố gắng giữ cho mình được bình tĩnh.

“Nhanh kên, Percy,” cậu ấy nói thầm. “Xin cậu đấy, xin cậu đấy. Xin cậu!”

Tôi tỉnh dậy bởi tiếng còi tàu và một giọng nói được phát ra từ hệ thống liên lạc – mấy gã nào đó với giọng Úc nghe rất hạnh phúc.

“Chào buổi sáng, các quý khách! Chúng ta sẽ ở trên biển cả ngày hôm nay. Thời tiết thật tuyệt vời cho bữa tiệc mambo cạnh bể bơi. Đừng quên trò bingo trị giá triệu đôla trong Sảnh Kraken vào lúc một giờ. Và đối với những vị khách đặc biệt của chúng ta, hãy thực tập trò mổ bụng ở Promenade!”

Tôi ngồi bật dậy trên giường. “Anh ta nói gì thế nhỉ?”

Tyson lầm bầm, nửa thức nửa tỉnh. Cậu ấy úp mặt xuống đi văng. Chân cậu ấy dài đến nỗi được đặt trong phòng tắm. “Người đàn ông hạnh phúc nói… thực tập chơi bowling phải không?”

Tôi hy vọng cậu ấy nói đúng. Nhưng tiếp theo đó là tiếng gõ cửa gấp gáp từ cánh cửa nội bộ trong căn buồng lớn này. Annabeth thò đầu vào… mái tóc vàng của cô ấy như cái ổ chuột. “Thực hành mổ bụng phải không?”

Sau khi ăn bận chỉnh tề, chúng tôi liều mạng đi ra ngoài và kinh ngạc khi nhìn thấy có rất nhiều người. Một tá hành khách là những người về hưu đang tiến đến khu vực phục vụ ăn sáng. Một ông bố đang dẫn lũ con ra bể bơi để bơi buổi sáng. Các thủy thủ trong bộ đồng phục trắng bảnh bao đang dạo quanh boong tàu, nghiêng mũ chào hành khách.

Không ai hỏi chúng tôi là ai. Không ai chú ý đến chúng tôi. Nhưng có điều gì đó thực sự bất ổn.

Khi cà gia đình đi bơi đi ngang qua chúng tôi, ông bố nói với các con rằng, “Chúng ta đang ở trên tàu. Sẽ vui lắm đấy.”

“Vâng,” ba đứa con đều nhất trí, nhưng biểu hiện của chúng lại trống rỗng. “Chúng ta có một vụ nổ. Chúng ta sẽ bơi trong bể.”

Họ thơ thẩn rời đi.

“Chào buổi sáng,” một thủy thủ cất tiếng với chúng tôi. Mắt anh ta thật đờ đẫn. “Tất cả chúng ta đều đang tận hưởng chuyến đi này trên con tàu Công chúa Andromeda. Chúc một ngày vui vẻ.” Anh ta bỏ đi.

“Percy này, ở đây kỳ quặc quá,” Annabeth thì thầm. “Tất cả bọn họ đều như đang bị hôn mê ấy.”

Khi chúng tôi đi ngang qua một quán ăn tự phục vụ và nhìn thấy con quái vật đầu tiên của chúng tôi. Đó là một con chó ngao – giống chó lớn tai cụp màu đen với những chiếc móng trước đặt trên quầy và mũi thì vùi vào món trứng bác. Hẳn con chó này còn rất trẻ vì nó quá nhỏ so với con lớn nhất – không lớn hơn một con gấu xám Bắc Mỹ. Mặc dù vậy, máu trong người tôi đông cứng. Tôi từng suýt bị giết chết bởi một con như vậy trước đây.

Điều kỳ lạ là có một đôi trung niên đang đứng xếp hàng ở quầy giải khát, ngay phía sau con chó hung ác đó, kiên nhẫn chờ đến lượt mình. Họ dường như không hề chú ý tới bất cứ những điều khác thường khác.

“Không đói nữa,” Tyson lẩm bẩm.

Trước khi Annabeth và tôi đáp lại, giọng nói của loài bò sát từ bên dưới hành lang vọng tới. “Đã có hơn s-s-sáu người nữa gia nhập ngày hôm qua.”

Annabeth điên cuồng ra hiệu về phía chỗ trốn gần nhất - phòng vệ sinh của phụ nữ - và cả ba chúng tôi chui tọt vào trong đó. Tôi đã quá sợ tới mức thậm chí không kịp nghĩ tới chuyện xấu hổ.

Có cái gì đó – hoặc nhiều hơn như thể hai thứ gì đó – trườn ngang qua cửa phòng vệ sinh, tạo nên những âm thanh như tiếng đánh giấy nhám được chà trên thảm.

“Đúng th-ê-ế.” Giọng nói loài bó sát thứ hai nói. “Ông ta lôi kéo họ. Và ch-ch-ch-ẳng mấy chốc, chúng ta sẽ trở nên m-m-mạnh hơn.”

Chúng tôi soạt bò vào quán ăn tự phục vụ với tiếng xì xì lạnh lẽo như thể tiếng cười của loài rắn.

Annabeth nhìn tôi. “Chúng ta phải ra khỏi đây thôi.”

“Thế cậu nghĩ là tớ muốn ở phòng vệ sinh của phụ nữ lắm hay sao?”

“Ý tớ là con tàu này, Percy! Chúng ta phải rời khỏi con tàu này thôi.”

“Mùi rất tệ”, Tyson đồng ý. “Và con chó ăn tất cả các quả trứng. Annabeth nói đúng. Chúng ta phải ra khỏi phòng vệ sinh và rời khỏi con tàu này.”

Tôi run bắn lên. Nếu Annabeth và Tyson thực sự nhất trí với nhau về chuyện gì đó, tôi cho rằng tốt hơn hết là tôi nên lắng nghe.

Tiếp theo tôi nghe một tiếng nói khác bên ngoài – nó làm tôi ớn lạnh hơn nhiều so với bất kỳ con quái vật nào.

“… chỉ là vấn đề thời gian thôi. Đừng có thúc ép tao, Agrius!”

Đó là Luke, không còn nghi ngờ gì nữa . Tôi không bao giờ quên được giọng anh ấy.

“Tao không hề thúc ép mày!” Một giọng đàn ông khác gầm gừ. Tiếng của hắn trầm hơn và thậm chí còn giận dữ hơn cả tiếng của Luke. “Tao chỉ nói là, nếu trò chơi này không thể trả thù được…”

“Dĩ nhiên là được,” Luke búng ngón tay. “Chúng sẽ mắc câu. Giờ thì đi nào, chúng ta phải tới phòng đô đốc và kiểm tra quan tài nào.”

Giọng chúng xa dẩn về phía cuối hành lang.

Tyson thút thít. “Đi bây giờ chưa?”

Annabeth và tôi nhìn nhau và ngầm thỏa thuận.

“Chúng ta không đi được,” tôi nói với Tyson.

“Chúng ta phải khám phá ra Luke đang làm gì,” Annabeth nhất trí với tôi. “Và nếu có thể, chúng ta sẽ đánh anh ấy, xích anh ấy lại và lôi anh ấy lên đỉnh Olympus.”

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.