Percy Jackson Tập 3: Lời Nguyền Của Thần Titan

Chương 11: Chiếc Lamborghini của Grover



Khi đang băng qua sông Potomac, chúng tôi phát hiện một chiếc trực thăng. Nó có màu đen bong nhoáng kiểu quân đội giống hệt với chiếc chúng tôi đã gặp ở Maine. Và nó đang tiến thẳng về phía chúng tôi.

“Chúng thấy chiếc xe rồi,” tôi nói. “Chúng ta phải bỏ nó lại thôi.”

Zõe ngoặt vào làn đường chính. Chiếc trực thăng tăng tốc.

“Mong rằng quân đội sẽ bắn hạ nó,” Grover nói đầy hy vọng.

“Không chừng họ lại nghĩ đó là máy bay của họ,” tôi nói. “Tại sao tên Tướng quân lại dùng người trần mắt thịt vậy nhỉ?”

“Bọn lính đánh thuê đó mà,” Zõe chua chát nói. “Thật khó chịu làm sao nhưng con người thường sẽ sẵn sàng làm mọi thứ nếu như họ được trả tiền.”

“Nhưng chẳng lẽ bọn họ không biết mình đang làm việc cho ai sao?” Tôi nói. “Họ không để ý đến những con quỷ xung quanh họ chắc?”

Zõe lắc đầu. “Tớ không dám chắc họ thấy được những gì sau Màn Sương Mù. Tớ nghĩ nếu biết được sự thật họ sẽ phải suy nghĩ ít nhiều. Đôi khi người thường có thể còn kinh khủng hơn quái vật đấy.”

Chiếc trực thăng vẫn bám theo, tăng tốc độ hơn nhiều so với khi chúng tôi vật lộn với giao thông ở D.C.

Thalia nhắm mắt và cầu nguyện. “Cha. Sẽ thật tốt nếu có được một tia sấm chớp vào lúc này. Cầu xin cha đấy.”

Nhưng bầu trời vẫn xám xịt và tuyết vẫn tiếp tục rơi. Chẳng có dấu hiệu của một cơn bão sấm sét hữu ích nào cả.

“Kìa!” Bianca nói. “Bãi đỗ xe đó!”

“Chúng ta sẽ mắc bẫy đấy,” Zõe nói.

“Tin em đi,” Bianca nói.

Zõe băng qua hai làn đường và phóng vào bãi đỗ xe nhỏ trên bờ phía nam của dòng sông. Chúng tôi rời chiếc xe và bước xuống theo Bianca.

“Lối vào tàu điện ngầm đây rồi,” Bianca nói. “Đi về phía nam. Alexandria.”

“Thế nào cũng được,” Thalia hưởng ứng.

Chúng tôi mua vé, đi qua những chiếc cửa quay và ngoảnh đầu lại xem có ai bám theo không. Vài phút sau chúng tôi đã an toàn trên chiếc tàu đang rời D.C. hướng về phía nam. Khi chiếc tàu rời khỏi mặt đất, chúng tôi thấy chiếc trực thăng đang bay lòng vòng trên bãi đỗ xe, nhưng nó không đuổi theo chúng tôi.

Grover thở phào. “Tốt lắm Bianca, vì cậu đã nghĩ ra việc đi tàu ngầm.”

Bianca trông có vẻ hài lòng. “Ừ em nhớ cái ga tàu đó từ khi em và Nico đến vào mùa hè năm ngoái. Vừa rồi, em đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy nó vì nó không có ở đây khi em và Nico còn sống ở D.C.”

Grover cau mày. “Nó mới xuất hiện ư? Nhưng chiếc tàu này trông cũ rích rồi mà.”

“Em đoán vậy.” Bianca nói. “Nhưng tin em đi, khi bọn em còn nhỏ thì ở đây chẳng có đường xe điện ngầm đâu.”

Thalia ngồi rướn về phía trước. “Gì cơ? Không có đường ngầm sao?”

Bianca gật đầu.

Hiện giờ tôi không hề biết gì về D.C cả nhưng tôi không thể nghĩ cả cái hệ thống tàu điện ngầm này lại dưới mười hai năm tuổi. Tôi đoán mọi người cũng đang nghĩ như tôi vì trông họ khá bối rối.

“Bianca này,” Zõe nói. “Đã bao lâu rồi…” Cô ta ấp úng. Tiếng máy bay trực thăng lại dần trở nên rõ hơn.

“Chúng ta cần chuyển tàu,” tôi nói. “Ở bến tới.”

Nửa tiếng sau đó, tất cả những gì chúng tôi nghĩ đến đó là thoát ra an toàn. Chúng tôi đã đổi tàu hai lần. Tôi không biết mình đang đi đâu nữa, nhưng sau một hồi chúng tôi đã thoát khỏi chiếc trực thăng.

Nhưng thật không may khi cuối cùng ra khỏi tàu thì chúng tôi đang ở cuối đường ray, trong một khu công nghiệp trống huếch với những nhà kho và đường ray xe điện. Và cả tuyết nữa. Rất nhiều tuyết. Có vẻ như ở đây lạnh lẽo hơn rất nhiều.Tôi mừng vì mình đang mặc chiếc áo lông sư tử.

Chúng tôi đi bộ qua sân ga, mong rằng có thể gặp một chiếc tàu chở khách khác, nhưng chỉ có từng hàng từng hàng các toa tàu bị phủ trong tuyết như thể chúng không hề chuyển động hàng năm trời.

Một gã vô gia cư đang đứng cạnh một đống lửa được đốt trong thùng rác. Chắc hẳn trông chúng tôi thật thảm thương vì anh ta nở nụ cười không còn chiếc răng nào với chúng tôi và nói, “Mấy người đều cần sưởi ấm phải không? Lại đây nào!”

Chúng tôi xúm lại quanh đống lửa của anh ta. Hai hàm răng của Thalia đập vào nhau. Cô ấy lập cập, “Thật tuyệttttttt!”.

“Móng của mình đông cứng lại rồi,” Grover phàn nàn.

“Chân chứ,” tôi sửa lại, vì gã vô gia cư đó.

“Có lẽ chúng ta nên liên lạc với trại,” Bianca nói “Chiron…”

“Không được,” Zõe cản lại. “Họ không thể giúp chúng ta được nữa rồi. Chúng ta phải tự giải quyết vụ này.”

Tôi xót xa nhìn quanh sân ga. Ở một nơi nào đó về phía tây xa xôi. Annabeth đang gặp nguy hiểm. Nữ thần Artermis đang bị xiềng xích. Một con quái vật của ngày tận thế đang lang thang đâu đó. Còn chúng tôi bị kẹt lại ở vùng ngoại ô của D.C. và cùng chia sẻ lửa với một gã lang thang.

“Mấy cậu biết không,” gã lang thang nói, “các cậu sẽ không trở nên hoàn hảo nếu không có bạn bè quanh mình”. Khuôn mặt gã cáu bẩn, bộ râu thì rối tung nhưng vẻ mặt gã rất chân thành. “Mấy cậu đang cần một con tàu đi về phía tây đúng không?”

“Vâng, đúng ạ,” tôi nói. “Anh có biết chiếc nào không?”

Gã ta chỉ bằng bàn tay bóng mỡ.

Đột nhiên tôi nhìn thấy một chiếc tàu chở hàng lấp lánh và không bị tuyết phủ. Đó là một trong những chiếc tàu chở hàng tự động với những tấm rèm mắt lưới bằng thép và ba tầng xe hơi bên trong. Bên hông chiếc tàu có ghi ĐƯỜNG TÀU VỀ PHÍA TY.

“Thật… quá tiện lợi rồi,” Thalia nói. “Cám ơn…”

Cô ấy quay về phía gã lang thang nhưng gã ta đã biến mất. Thùng rác trước mặt chúng tôi lạnh ngắt và trống không, như thể gã lang thang ấy đã mang ngọn lửa đi mất.

Một giờ sau chúng tôi vẫn đang tiến về phía tây. Giờ thì chẳng có vấn đề về việc ai sẽ lái xe nữa vì mỗi chúng tôi đều có riêng những chiếc xe hơi sang trọng. Zõe và Bianca nhảy vào chiếc Lexus ở tầng thứ ba. Grover đóng vai một nhà đua xe đằng sau tay lái của chiếc Lamborghini. Thalia thì bật đài radio trong chiếc Mercedes SXL màu đen để có thể bắt được tất cả các kênh nhạc rock ở D.C.

“Tớ đi cùng xe được chứ?” tôi hỏi.

Cô ấy nhún vai và tôi ngồi vào ghế trước.

Đài radio đang phát bài White Stripes. Tôi biết bài hát nà vì nó là đĩa CD duy nhất của tôi mà mẹ tôi thích. Bà nói rằng nó gợi cho bà nhớ đến Led Zeppelin. Nghĩ về mẹ lại khiến tôi thấy buồn vì có thể tôi sẽ không trở về nhà vào dịp Giáng sinh. Có khi tôi còn không thể sống lâu được đến lúc ấy.

“Áo đẹp đó,” Thalia nói với tôi.

Tôi quấn chiếc khăn che bụi màu nâu quanh người cho ấm. “Ừ nhưng con sư tử Nemean không phải con quái vật mà chúng ta đang tìm kiếm.”

“Không gần như vậy đâu. Chặng đường vẫn còn xa lắm.”

“Dù con quái vật này có là gì đi chăng nữa thì theo tên Tướng quân nói, nó sẽ bám theo cậu. Chúng muốn tách biệt cậu ra khỏi nhóm. Sau đó con quái vật sẽ xuất hiện và đấu tay đôi với cậu.”

“Hắn ta nói vậy sao?”

“Ừ, đại loại như vậy đấy.”

“Tuyệt. Mình muốn được dùng làm mồi nhử.”

“Cậu không biết gì về con quái vật đó hả?”

Cô ấy lắc đầu ủ rũ. “Nhưng cậu biết chúng ta đang đi đâu đấy chứ? San Francisco. Đó là nơi nữ thần Artermis cũng đang tiến đến.”

Tôi nhớ lại một điều mà Annabeth nói tại buổi khiêu vũ: là cha cô ấy đến San Francisco như thế nào và cố ấy sẽ không thể đi. Con lai không thể sống được ở đó.

“Tại sao lại như vậy?” tôi hỏi. “Có điều gì tồi tệ ở San Francisco à?”

“Màn Sương Mù ở đó rất dày vì Ngọn Núi Trừng Phạt rất gần đấy. Ma lực của thần khổng lồ Titan – phần còn vương lại – vẫn tồn tại. Quái vật bị thu hút đến khu vực đó, cậu không tưởng tượng nổi đâu.”

“Ngọn Núi Trừng Phạt là gì vậy?”

Thalia rướn lông mày. “Cậu thật sự không biết sao? Hãy hỏi Zõe ngu ngốc xem. Cô ta là một chuyên gia đấy.”

Cô ấy quay ra nhìn gương chắn gió. Tôi muốn hỏi lại xem những điều cô ấy vừa nói có ý nghĩa gì, nhưng cũng không muốn khiến mình giống một tên ngốc. Tôi thấy thật khó chịu khi Thalia biết nhiều hơn mình nên tôi im lặng.

Ánh nắng ban chiều rọi lên tấm rèm lưới bằng thép, phủ bóng lên gương mặt Thalia. Tôi thấy cô ấy thật khác so với Zõe – Zõe thì trang nghiêm và điềm tĩnh như một cô công chúa, còn Thalia với bộ quần áo bụi bặm và thái độ nổi loạn. Nhưng giữa họ vẫn có một điểm chung nào đó. Cũng cái tính ngoan cố đó. Giờ đây khi đang ngồi trong bóng tối với gương mặt u ám, Thalia trông rất giống các Thợ Săn.

Đột nhiên một ý tưởng lóe lên trong đầu tôi. “Đó là lý do vì sao cậu không hợp với Zõe.”

Thalia cau mày lại. “Cái gì cơ?”

“Hội Thợ Săn đã cố gắng thu nạp cậu,” tôi đoán.

Mắt Thalia sáng lên đầy nguy hiểm. Tôi nghĩ cô ấy chuẩn bị đạp phăng tôi ra khỏi chiếc xe Mercedes, nhưng cô ấy lại chỉ thở dài.

“Suýt chút nữa tớ đã gia nhập với họ,” Thalia thú nhận. “Luke, Annabeth và tớ đã chạm trán họ và Zõe đã cố thuyết phục. Cô ấy đã gần như thành công nhưng…”

“Nhưng sao?”

Thalia nắm chặt bánh lái, “Nhưng tớ sẽ phải rời xa Luke”.

“Ồ.”

“Tớ đã cãi nhau với Zõe, cô ấy cho rằng tớ thật ngu ngốc và rồi tớ sẽ phải hối tiếc lựa chọn của mình. Cô ấy nói rằng một ngày nào đó Luke sẽ bỏ rơi tớ.”

Tôi ngắm nhìn mặt trời qua tấm rèm kim loại. Chúng tôi như đang tiến nhanh hơn mỗi giây trôi qua – những bóng tối bập bùng như chiếc máy chiếu phim cũ kĩ.

“Chuyện đó thật khó khăn,” tôi nói. “Thật khó khi phải chấp nhận rằng Zõe đã đúng.”

“Cô ấy đã không đúng! Luke không bao giờ bỏ rơi tớ. Không bao giờ.”

“Chúng ta sẽ phải chiến đấu với anh ta,” tôi nói. “Không có cách nào khác cả.”

Thalia không đáp lại.

“Gần đây cậu đã không gặp anh ta,” tôi cảnh báo. “Tôi biết thật khó để tin là như vậy, nhưng…”

“Tớ sẽ làm những gì phải làm.”

“Thậm chí nếu như phải giết anh ta sao?”

“Cậu làm ơn ra khỏi xe của tớ đi,” Thalia nói.

Tôi không tranh luận gì thêm vì thấy tội nghiệp cô ấy. Khi tôi chuẩn bị bước đi Thalia gọi, “Percy này.”

Tôi nhìn lại và thấy mắt cô ấy đỏ hoe. Nhưng tôi không biết đó là do cô ấy tức giận hay đau khổ. “Annabeth cũng muốn gia nhập hội Thợ Săn. Có lẽ cậu cũng nên nghĩ tại sao lại như vậy.”

Trước khi tôi kịp trả lời, cô ấy đã kéo cửa kính lên không cho tôi vào.

Tôi ngồi vào ghế lái xe trong chiếc Lamborghini của Grover. Cậu ta đang ngủ ở phía sau. Cuối cùng thì Grover cũng thôi không cố gây ấn tượng với Zõe và Bianca bằng âm nhạc từ chiếc sáo của cậu ấy sau khi chơi xong bài “Poison Ivy” khiến cho thứ cây đó trồi ra từ máy điều hòa của chiếc xe Lexus.

Tôi nghĩ về Annabeth khi đang ngắm nhìn mặt trời lặn. Tôi sợ mình sẽ chìm vào giấc ngủ. Tôi lo lắng về những gì sẽ hiện ra trong giấc mơ.

“Đừng sợ hãi những giấc mơ như vậy chứ,” một giọng nói vang lên bên cạnh tôi.

Tôi nhìn qua hướng đó. Không hiểu sao tôi không hề thấy ngạc nhiên khi thấy gã lang thang ở sân ga đang ngồi bên cạnh. Chiếc quần bò đã sờn của gã gần như trắng xóa. Với cái áo khoác rách nát lòi bông ra ngoài trông gã giống như con gấu teddy bị một chiếc xe tải chẹt ngang qua người.

“Nếu không có những giấc mơ,” gã nói, “ta đã không hiểu được một nửa những gì ta biết về tương lai. Chúng còn tốt hơn nhiều so với những tờ báo khổ nhỏ của Đỉnh Olympus.” Gã hắng giọng rồi đột nhiên giơ tay lên:

“Giấc mơ như một podcast[14],

Truyền tải sự thật vào tai ta.

Cho ta biết điều hay.”

“Thần Apollo ư?” Tôi nghĩ như vậy vì tôi nghĩ không ai có thể làm một bài Haiku tệ đến thế.

Gã đặt ngón tay lên môi. “Ta là một người giấu tên. Hãy gọi ta là Fred.”

“Một vị thần tên là Fred ư?”

“Ừ thì… thần Zeus luôn khó tính trong một số quy tắc. Không được nhúng mũi vào chuyện tìm kiếm của loài người. Cho dù sai sót đó có nghiêm trọng đến đâu. Nhưng không ai được chạm đến người em gái nhỏ của ta. Không ai.”

“Vậy thì Ngài có thể giúp chúng tôi được không?”

“Khẽ nào. Ta đã giúp rồi đó chứ. Cậu không nhìn ra bên ngoài sao?”

“Đoàn tàu ư. Chúng ta đang đi chuyển với tốc độ nào?”

Thần Apollo cười. “Đủ nhanh. Thật không may là chúng ta sắp hết thời gian, mặt trời sắp lặn rồi. Nhưng ít nhất ta có thể giúp mọi người đi được một đoạn dài trên đất Mỹ này đấy.”

“Nhưng nữ thần Artemis đang ở đâu?”

Mặt thần tối sầm lại. “Ta biết và chứng kiến rất nhiều chuyện. Nhưng ta lại không biết con bé đang ở đâu. Nó như bị bốc hơi rồi ấy. Ta không thích điều đó chút nào.”

“Còn Annabeth thì sao?”

Anh ta cau mày lại. “Ồ ý cậu là cô gái mà cậu để lạc mất đó hả? Hừm, ta không biết.”

Tôi cố gắng không nổi điên lên. Tôi biết các vị thần đã phải rất vất vả để hiểu rõ về con người, kể cả con lai. So với các vị thần thì chúng tôi sống một cuộc đời thật ngắn ngủi.

“Thế còn con quái vật mà nữ thần Artemis đang truy tìm thì sao?” tôi hỏi. “Ngài có biết không?”

“Không,” thần Apollo nói, “nhưng có một người có thể biết. Nếu cậu đến San Francisco rồi mà vẫn chưa tìm ra con quái vật đó thì hãy tìm Nereus, ông già biển cả. Ông ta có một trí nhớ siêu phàm và đôi mắt sắc lạnh. Ông ta có được món quà trí tuệ đôi khi làm lu mờ cả Lời Sấm Truyền của ta.”

“Nhưng đó là lời tiên tri của thần mà,” tôi phản kháng lại. “Thần không thể nói cho tôi biết lời tiên tri đó nghĩa là gì sao?”

Thần Apollo thở dài. “Cậu có thể đi hỏi một họa sĩ về tác phẩm của anh ta hay yêu cầu một nhà thơ giải thích bài thơ của mình. Nhưng nó sẽ làm hỏng đi mục đích của họ. Ý nghĩa chỉ có thể được tìm thấy trong cuộc tìm kiếm.”

“Hay nói cách khác là thần không biết gì cả.”

Thần Apollo nhìn đồng hồ. “A! Nhìn đồng hồ này, đã đến lúc ta phải đi rồi. Không biết ta có thể liễu lĩnh giúp đỡ cậu một lần nữa hay không. Nhưng hãy nhớ những gì ta nói. Hãy ngủ một chút đi. Và khi cậu trở lại, ta mong chờ một bài thơ Haiku hay về cuộc hành trình của cậu.”

Tôi muốn cãi lại rằng mình không hề cảm thấy mệt mỏi và tôi chưa từng làm một bài thơ Haiku nào trong cả cuộc đời cả. Nhưng thần Apollo bật tách ngón tay và điều tiếp theo tôi còn nhớ là mình đang từ từ nhắm mắt lại.

Trong giấc mơ, tôi là một người khác. Tôi đang mặc một bộ tunic – thời trang Hy Lạp cổ. Nó khẽ bay khi tôi bước xuống bậc thang, chân đi đôi dép buộc dây bằng da. Da của con sư tử Nemean buộc lại sau lưng tôi như chiếc áo choàng và tôi đang chạy đến một nơi nào đó. Một cô gái đang nắm lấy tay tôi và kéo tôi chạy theo.

“Nhanh lên nào!” cô gái đó nói. “Nó sẽ tìm thấy chúng ta mất!”

Lúc đó là buổi tối. Hàng triệu ngôi sao lấp lánh trên cao. Trời quá tối để có thể nhìn rõ gương mặt cô gái, nhưng tôi hiểu cô ấy đang sợ hãi. Chúng tôi đang chạy giữa những lùm cỏ cao và mùi hương của hàng trăm loài hoa khác nhau khiến cho không khí trở nên thật say đắm. Đó là một khu vườn tuyệt đẹp nhưng giọng nói của cô gái vô cùng khẩn khoản như thể chúng tôi đang sắp chết.

“Tôi không sợ gì cả,” tôi cố nói với cô gái.

“Anh nên sợ mới phải!” cô ấy nói và lại kéo tôi đi. Cô ấy có mái tóc đen dài được tết lại sau lưng. Tấm áo choàng lụa của cô gái phát sáng yếu ớt trong ánh sao.

Chúng tôi chạy lên một ngọn đồi. Cô ấy kéo tôi lại sau một bụi gai rồi cả hai ngồi phịch xuống, thở hổn hển. Tôi không biết tại sao cô gái đó lại sợ hãi đến vậy. Khu vườn trông rất yên bình. Và tôi thấy mình thật mạnh mẽ. Tôi chưa từng thấy mình mạnh mẽ như vậy.

“Không việc gì phải chạy cả,” tôi nói với cô ấy như vậy. Giọng tôi nghe trầm hơn nhưng tự tin hơn rất nhiều. “Tôi đã đánh bại cả trăm con quái vật bằng tay không.”

“Nhưng không phải với con này,” cô ấy nói. Ladon quá mạnh. Anh cần phải đi lên ngọn núi đó đến gặp cha tôi. Đó là cách duy nhất.”

Nỗi đau trong giọng nói của cô ấy khiến tôi vô cùng ngạc nhiên. Trông cô ấy thật sự lo lắng, gần như cô ấy quan tâm đến tôi.

“Tôi không tin cha của cô đâu,” tôi nói.

“Đúng vậy,” cô gái đồng ý. “Anh sẽ phải lừa ông ấy. Anh không thể đạt được điều mình muốn một cách trực tiếp được. Anh sẽ chết ngay!”

Tôi cười. “Vậy tại sao cô không giúp tôi, hả cô gái xinh đẹp?”

Thật khó để giám chắc vì trời quá tối, nhưng tôi nghĩ cô gái ấy đỏ mặt. “Tôi sợ… sợ lắm. Ladon sẽ ngăn tôi lại. Còn các chị em nữa, nếu họ biết… họ sẽ không nhìn mặt tôi mất.”

“Vậy thì không còn gì để chần chừ nữa cả.” Tôi đứng dậy, xoa hai tay vào nhau.

“Đợi đã,” cô gái nói.

Cô gái có vẻ đau đớn, dằn vặt khi đưa ra quyết định. Rồi sau đó các ngón tay của cô ấy run lên, cô giơ tay lên giật lấy chiếc trâm cài đầu. “Nếu như anh buộc phải chiến đấu thì hãy dùng đến vật này. Mẹ Pleoine đã trao cho tôi vật này. Bà là con gái của đại dương và sức mạnh của biển cả hiện hữu trong nó. Sức mạnh bất tử của tôi.”

Cô ấy thổi hơi lên chiếc trâm cài và nó phát sáng yếu ớt. Nó lấp lánh trong ánh sao như một con bào ngư được mài bóng.

“Hãy cầm lấy,” cô gái ấy nói với tôi. “Và hãy sử dụng nó như một vũ khí tự vệ.”

Tôi bật cười. “Một cái trâm cài tóc ư? Làm sao nó có thể giết chết Ladon được hả cô gái xinh đẹp?”

“Có thể là như vậy,” cô gái ấy nói. “Nhưng đó là tất cả những gì tôi có thể đưa cho anh, nếu như anh cứ tỏ ra ngoan cố.”

Giọng nói của cô gái khiến tôi mềm lòng. Tôi cúi xuống và nhận lấy chiếc trâm cài tóc. Và khi tôi nhận lấy, nó dần biến thành một chiếc gươm đồng quen thuộc.

“Khá đấy,” tôi nói. “Dù tôi thường thích sử dụng tay không hơn. Tôi phải gọi lưỡi kiếm này là gì đây?”

“Anaklusmos,” cô gái nói giọng buồn rầu. “Đó là ngọn sóng khiến cho ta bất ngờ. Khi anh nhận ra thì nó đã quét anh ra biển xa rồi.”

Trước khi tôi kịp nói lời cảm ơn thì có tiếng dậm trên trên bãi cỏ, một tiếng rít lên như tiếng không khí xì ra khỏi lốp xe và cô gái nói, “Quá muộn rồi! Nó đang ở đây!”

***

Tôi ngồi bật dậy trên ghế lái trong chiếc Lamborghini. Grover kéo mạnh tay tôi.

“Percy,” cậu ta nói. “Trời sáng rồi, con tàu đã dừng lại rồi, chúng ta đi thôi.”

Tôi cố gắng tỉnh táo trở lại, Thalia, Zõe và Bianca đã cuộn tấm rèm kim loại lên. Bên ngoài là những dãy núi phủ đầy tuyết trắng lốm đốm với những cây thông, mặt trời đang mọc đỏ rực giữa hai đỉnh núi.

Tôi lôi chiếc bút trong túi ra và nhìn nó. Anaklusmos – tên bằng tiếng Hy Lạp cổ đại nghĩa là Thủy Triều. Hình dạng có khác song tôi nghĩ nó chính là lưỡi gươm mà tôi đã nhìn thấy trong giấc mơ.

Và tôi cũng chắc chắn một điều nữa. Cô gái trong giấc mơ chính là Zõe Nightshade.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.