Percy Jackson Tập 4.5: Hồ Sơ Á Thần

Chương 2



PERCY JACKSON VÀ CON RỒNG BẰNG ĐỒNG

Một con rồng có thể làm hỏng cả một ngày của bạn.

Hãy tin tôi đi, là một á thần, tôi phải trải qua những thời khắc tồi tệ nhất. Tôi đã từng bị đớp, bị cào, bị đốt và bị đầu độc. Tôi đã từng chiến đấu với những con rồng một đầu, hai đầu, tám đầu, chín đầu và cả những con có quá nhiều đầu đến nỗi nếu bạn ngừng để đếm chúng, bạn sẽ nhận được một cái chết cực kỳ khốc liệt.

Nhưng còn quãng thời gian với con rồng bằng đồng? Tôi nghĩ chắc chắn rằng những người bạn của tôi và tôi sẽ kết thúc như Kibbles ‘n’ Dragon Bits.

Đêm đó bắt đầu khá đơn giản.

Hôm đó là ngày cuối cùng của tháng Sáu. Tôi quay trở lại từ cuộc truy tìm gần nhất khoảng hai tuần trước đây, và cuộc sống ở Trại Con Lai đang quay trở lại với guồng quay bình thường. Các thần rừng đang đuổi theo các nữ thần cây. Các con quái vật rít gào trong các khu rừng. Các trại viên đang chơi khăm lẫn nhau, và giám đốc trại của chúng tôi, thần Dionysus, đang biến bất cứ ai không vâng lời thành cây bụi. Những chuyện thường ngày của trại hè.

Sau bữa ăn tố tất cả các trại viên đang ở nhà ăn. Tất cả chúng tôi đều rất phấn khởi vì lần Cướp Cờ tối hôm đó sẽ rất ác liệt.

Đêm trước đó, nhà của thần Hephaestus đã tạo ra được sự lật đổ lớn. Họ đã cướp được cờ từ nhà của thần Ares – với sự giúp đỡ của tôi, cám ơn rất nhiều – điều đó có nghĩa là nhà thần Ares sẽ bị hạ nhục. Ừm... họ luôn hạ nhục người khác, nhưng tối nay lại đặc biệt.

Phía đội xanh gồm nhà thần Hephaestus, thần Apollo, thần Hermes, và tôi – á thần duy nhất thuộc nhà thần Poseidon. Tin xấu là, nhà nữ thần Athena và thần Ares – cả hai nhà thần chiến tranh – sẽ đối đầu với chúng tôi ở đội đỏ, cùng với nhà nữ thần Aphrodite, thần Dionysus và nữ thần Demeter. Nhà nữ thần Athena giữ lá cờ khác, và bạn tôi Annabeth là đội trưởng của họ.

Annabeth không phải là người mà bạn muốn làm kẻ thù.

Ngay trước cuộc thi đấu, cô ấy đi về phía tôi. “Này, Óc Tảo Biển.”

“Cậu ngừng việc gọi tớ như thế được không?”

Cô ấy biết tôi ghét cái tên đó, phần lớn vì tôi không tìm ra được lời nào hay ho để phản bác lại. Cô ấy là con gái của nữ thần Athena, điều đó không mang lại cho tôi nhiều sự kiện. “Đầu cú” và “Cô Gái Uyên Thâm” là những lời sỉ nhục nhàm chán.

“Tớ biết cậu thích cái tên đó mà.” Cô ấy đâm mạnh vào vai tôi, nhưng tôi đoán hành động đó thể hiện tình bạn, nhưng cô ấy đang mặc toàn bộ bộ giáp Hy Lạp, vì thế nó khá là đau. Đôi mắt xám của cô ấy sáng lấp lánh bên dưới chiếc mũ sắt. Mái tóc đuôi ngựa vàng óng của cô ấy quăn lại một bên vai. Chẳng mấy ai trông xinh trong bộ áo giáp trận, nhưng Annabeth thì khác.

“Nói cho cậu điều này.” Cô ấy hạ thấp giọng xuống. “Bọn tớ sẽ tiêu diệt cậu vào tối nay, nhưng nếu cậu chọn một vị trí an toàn... như ở hông núi bên phải, ví dụ thế... Tớ chắc cậu sẽ không bị đánh quá nhiều.”

“Gee, cám ơn,” tôi nói, “nhưng tớ chơi để giành chiến thắng.”

Cô ấy mỉm cười. “Gặp lại cậu ở trận chiến nhé.”

Cô ấy đi về phía đồng đội của mình, tất cả đều đang cười lớn và đánh tay với cô ấy. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cô ấy hạnh phúc như thế, như thể cơ hội đánh bại tôi là điều tốt nhất mà cô ấy từng có

Beckendorf bước đến với mũ sắt bên dưới tay anh ấy. “Cô ấy thích cậu đấy, anh bạn.”

“Chắc rồi,” tôi lầm bầm. “Cô ấy thích em vì mục tiêu luyện tập.”

“Không, họ luôn làm thế. Một người con gái bắt đầu muốn giết cậu, cậu biết cô ấy say mê cậu.”

“Nghe có vẻ đúng quá nhỉ.”

Beckendorf nhún vai. “Anh biết nhiều về điều đó. Cậu nên mời cô ấy đến lễ hội pháo hoa.”

Tôi không thể nói liệu anh ấy có nghiêm túc không. Beckendorf là người đứng đầu nhà thần Hephaestus. Anh ấy là một anh chàng to lớn với một cái nhìn cau có thường trực, cơ bắp như một cầu thủ nhà nghề, và hai bàn tay bị chai sạn do làm riết trong các lò rèn. Anh ấy vừa mới được mười tám tuổi và đang chuẩn bị theo học ở NYU vào mùa hè. Vì anh ấy là người lớn tuổi hơn, tôi thường lắng nghe về những điều nhỏ nhặt, nhưng ý tưởng về việc mời Annabeth đến lễ hội pháo hoa vào ngày lễ quốc khách mùng 4 tháng 7 ở bãi biển – như, một sự kiện hẹn hò lớn nhất của mùa hè – khiến dạ dày tôi lộn nhào.

Rồi Silena Beauregard, người đứng đầu nhà nữ thần Aphrodite, đi ngang qua. Beckendorf đã không giấu giếm gì chuyện phải lòng cô ấy trong ba năm. Cô ấy có mái tóc đen dài và đôi mắt nâu lớn, và khi cô ấy đi ngang qua, các chàng trai đều chăm chú nhìn theo. Cô ấy nói, “Chúc may mắn, Charlie.” (Chưa bao giờ có ai gọi Beckendorf bằng tên.) Cô ấy nở một nụ cười tươi rói với anh ấy và đi đến gia nhập cùng với đội Annabeth.

“Ừ...” Beckendorf nuốt như thể anh ấy quên cách để thở.

Tôi đánh vào vai anh ấy. “Cám ơn vì lời khuyên, anh bạn. Rất vui vì anh rất có kinh nghiệm về con gái và mọi điều. Đi thôi. Chúng ta đi vào rừng thôi.”

***

Dĩ nhiên, Beckendorf và tôi đảm nhận công việc nguy hiểm nhất.

Trong khi nhà thần Apollo làm nhiệm vụ phòng thủ với cung tên của họ, nhà thần Hermes sẽ đảm nhận nhiệm vụ đánh lạc hướng đối thủ ở giữa rừng. Trong khi đó, Benkendorf và tôi sẽ theo dõi quanh sườn trái, xác định cờ của đối thủ, đánh bật những người bảo vệ, và lấy cờ quay trở lại lãnh địa của chúng tôi. Đơn giản thế thôi.

Tại sao lại là sườn núi bên trái?

“Vì Annabeth muốn em đi về phía bên phải,” tôi nói với Beckendorf, “điều đó có nghĩa là cô ấy không muốn chúng ta đi về phía bên trái.”

Beckendorf đồng ý với tôi. “Hãy trang bị đồ nào.”

Anh ấy đang làm một loại vũ khí bí mật dành cho hai chúng tôi – bộ áo giáp bằng đồng có thể biến đổi màu sắc để hòa lẫn với bối cảnh. Nếu chúng tôi đứng trước núi đá, giáp che ngực, mũ sắt và khiên của chúng tôi biến thành màu xám. Nếu chúng tôi đứng trước một bụi cây, lớp kim loại biến thành màu xanh lá. Nó không thật sự vô hình, nhưng chúng tôi sẽ có được một vỏ bọc hoàn hảo, ít nhất là từ đằng xa.

“Cái thứ này mất rất nhiều thời gian để rèn,” Beckendorf cảnh báo tôi. “Đừng làm hỏng nó!”

“Đã biết, đội trưởng.”

Beckendorf càu nhàu. Tôi có thể nói anh ấy thích được gọi là “đội trưởng”. Toàn bộ trại viên nhà thần Hephaestus chúc chúng tôi may mắn, và chúng tôi lẻn vào rừng, ngay lập tức biến thành màu nâu và xanh lục phù hợp với màu cây.

Chúng tôi đi băng qua con sông nhỏ được xem như ranh giới của hai đội. Chúng tôi nghe tiếng đánh nhau ở đằng xa – tiếng kiếm va chạm vào khiên. Tôi nhìn thoáng qua ánh sáng từ một vài loại vũ khí phép thuật, nhưng chúng tôi không thấy một ai.

“Không có người bảo vệ biên giới sao?” Beckendorf thì thầm. “Thật kỳ lạ.”

“Quá tự tin,” tôi đoán. Nhưng tôi cảm thấy hơi lo lắng. Annabeth là một nhà chiến lược đầy kinh nghiệm. Cô ấy không phải là một người tùy tiện trong việc phòng thủ, ngay cả khi đội cô ấy nhiều người hơn đội chúng tôi.

Chúng tôi đi vào lãnh địa của đối thủ. Tôi biết chúng tôi phải vội vàng, vì đội chúng tôi đang chơi một trò chơi không cân sức, và trò chơi này sẽ nhanh chóng kết thúc. Những đứa trẻ nhà thần Apollo sẽ nhanh chóng tấn công sang phần lãnh thổ của chúng tôi không sớm thì muộn thôi. Nhà thần Ares cũng sẽ không bị chậm lại bởi những điều nhỏ nhặt như mũi tên.

Chúng tôi bò men theo gốc của các cây sồi. Tôi gần như dựng đứng cả người khi khuôn mặt của một cô gái ló ra từ thân cây. “Shoo!” cô ấy nói, rồi biến mất sau lớp vỏ cây.

“Nữ thần cây,” Beckendorf cằn nhằn. “Thật hay giận dỗi.

“Không phải thế mà!” một giọng nói nghẹt lại phát ra từ cây.

Chúng tôi tiếp tục đi. Thật khó để nói chính xác nơi chúng tôi đang ở. Một vài cột mốc nhô ra, như dòng sông và các vách đá và một vài cây thật sự cổ xưa, nhưng rừng cây thường di chuyển vòng quanh. Tôi đoán các linh hồn thiên nhiên đang thao thức. Các con đường thay đổi. Các cây di chuyển vị trí.

Rồi đột nhiên chúng tôi đang ở rìa của khu rừng. Tôi biết chúng tôi đang gặp rắc rối khi tôi thấy ngọn núi đất tơi.

“Thần Hephaestus linh thiêng,” Beckendorf thì thầm. “Ngọn đồi Kiến.”

Tôi muốn lùi lại và bỏ chạy. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy Ngọn đồi Kiến trước đây, nhưng tôi đã nghe những câu chuyện từ các trại viên lớn hơn. Ụ đất cao gần đỉnh ngọn cây – cao ít nhất bốn tầng. Các mặt của nó lỗ chỗ các đường hầm, và bò lúc nhúc vào và ra từ các đường hầm đó là hàng ngàn con...

“Myrmekes,” tôi thì thầm.

Đó là từ Hy Lạp cổ của từ “con kiến”, nhưng những điều này còn nhiều ý nghĩa hơn những gì nó thể hiện. Chúng sẽ làm cho những người hủy diệt lên cơn đau tim mất thôi.

Con Myrmekes có kích thước của những con cừu Đức. Vỏ của chúng được vũ trang sáng lấp lánh màu đỏ tươi. Đôi mắt chúng có màu đen, tròn, nhỏ và sáng, hàm trên sắc bén có thể cắt và đớp. Một số chúng tha những cành cây. Một số tha những miếng thịt tươi mà tôi thực sự không muốn biết. Hầu hết chúng đều tha những miếng kim loại – áo giáo cũ, kiếm, đĩa đựng thức ăn mà bằng cách nào đó tìm được cách xuất hiện ở ngoài này từ nhà ăn. Một con kiến đang tha một ca-pô xe hơi thể thao màu đen bóng loáng.

“Chúng yêu thích kim loại sáng chói,” Beckendorf thì thầm. “Đặc biệt màu vàng. Anh từng nghe nói trong tổ chúng có nhiều vàng hơn cả Fort Knox.” Anh ấy nói với vẻ ghen tị.

“Đừng bao giờ nghĩ về điều đó,” tôi nói.

“Anh bạn, anh không làm thế,” anh ấy hứa. “Chúng ta hãy ra khỏi đây khi chúng ta...”

Đôi mắt anh ấy mở lớn.

Cách đó mười lăm mét, hai con kiến đang cố gắng tha một mảng kim loại lớn về phía tổ chúng. Nó có kích thước của một cái tủ lạnh, tất cả đều có màu vàng và đồng sáng lấp lá với những ụ và chóp kỳ lạ ở một bên và một chùm dây ló ra từ bên dưới. Rồi khi những con kiến lăn các vật qua, và tôi nhìn thấy một khuôn mặt.

Tôi gần như nhảy dựng lên. “Đó là một...”

“Shhh!” Beckendorf kéo tôi lùi vào bụi cây.

“Nhưng đó là...”

“Đầu rồng,” anh ấy nói trong sự sợ hãi. “Đúng vậy, anh đã thấy nó.”

Cái mũi của nó dài bằng cơ thể tôi. Cái miệng của nó đang hé mở, cho thấy những chiếc răng kim loại, như của con cá mập. Da của nó là sự kết hợp của lớp vảy màu vàng và đồng, mắt của nó là những viên ngọc ruby to bằng nắm tay của tôi. Cái đầu như thể vừa bị chặt ra khỏi cơ thể - bị nhai bởi hàm của những con kiến. Các sợi dây bị tước vỏ và xoắn tít.

Chiếc đầu ắt hẳn cũng rất nặng, vì những con kiến đang cố gắng, di chuyển nó chỉ một vài phân với mỗi lần kéo.

“Nếu chúng kéo nó lên đồi,” Beckendorf nói, “những con kiến khác sẽ giúp chúng. Chúng ta phải ngăn chúng lại.”

“Gì chứ?” tôi hỏi. “Tại sao?”

“Đó là dấu hiệu từ thần Hephaestus. Đi nào!”

Tôi không biết anh ấy đang nói gì, nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy Beckendorf kiên quyết như thế. Anh ấy chạy hết tốc lực dọc theo rìa của cánh rừng thưa, áo giáp của anh ấy hòa trộn với màu của cây rừng.

Khi tôi chuẩn bị đuổi theo thì có cái gì đó sắc và lạnh áp sát vào cổ tôi.

“Ngạc nhiên không?” Annabeth nói, ngay sát bên tôi. Cô ấy ắt phải đang đội chiếc mũ Yankees ma thuật, vì cô ấy hoàn toàn vô hình.

Tôi cố di chuyển, nhưng cô ấy ấn con dao vào bên dưới cằm tôi. Silena xuất hiện phía ngoài khu rừng, kiếm được rút ra khỏi vỏ. Áo giáp nhà nữ thần Aphrodite có màu hồng và đỏ, màu sắc hợp với màu áo quần và trang điểm. Cô ấy trông như một búp bê Barbie Chiến tranh Du Kích.

“Làm tốt lắm,” cô ấy nói với Annabeth.

Một bàn tay vô hình tịch thu kiếm của tôi. Annabeth lấy mũ ra khỏi đầu và xuất hiện trước mặt tôi, nở một nụ cười tự mãn. “Thật dễ để theo đuôi các chàng trai. Họ còn ồn ào hơn cả một con Minotaur bị tương tư

Khuôn mặt tôi nóng bừng. Tôi cố nhớ lại, hy vọng tôi đã không nói bất cứ điều gì gây xấu hổ. Chưa kể đến việc Silena và Annabeth đã lắng nghe chúng tôi không biết trong bao lâu.

“Cậu là tù nhân của bọn tớ,” Annabeth thông báo. “Hãy đi bắt Beckendorf và...”

“Beckendorf!” Trong một phần giây tôi đã quên anh ấy, nhưng anh ấy vẫn đang tiến về phía trước – theo hướng của đầu rồng. Anh ấy chắc chắn cách đây mười hai mét. Anh ấy đã không chú ý gì đến các cô gái, sự thật là tôi đã không hỗ trợ anh ấy.

“Đi nào!” tôi nói với Annabeth.

Cô ấy kéo tôi lại. “Cậu nghĩ cậu đi đâu vậy, tù nhân?”

“Nhìn này!”

Cô ấy nhìn ra phía khoảng rừng thưa và trong lần đầu tiên cô ấy dường như nhận ra nơi chúng tôi đang ở. “Ôi, thần Zeus...”

Beckendorf nhảy vào cửa ra vào và tấn công một con kiến. Thanh kiếm của anh ấy kêu leng keng trên mai của nó. Con kiến quay lại, đớp anh ấy bằng càng của nó. Trước khi tôi có thể gọi to báo cho anh ấy, con kiến đã cắn vào chân của Beckendorf khiến anh ấy sụm người xuống trên mặt đất. Con kiến thứ hai phun chất nhờn vào mặt anh ấy, và Beckendorf gào thét đầy đau đớn. Anh ấy thả kiếm xuống và đập mạnh vào mắt của mình.

Tôi lao tới trước, nhưng Annabeth đã kéo tôi lại. “Không.”

“Charlie!” Silena hét lớn.

“Không!” Annabeth rít lên. “Đã quá trễ rồi!”

“Cậu đang nói gì thế?” tôi gặng hỏi cô ấy. “Chúng ta phải...”

Rồi tôi nhận ra có nhiều con kiến hơn đang tụ lại quanh Beckendorf – mười, hai mươi con. Chúng chộp vào áo giáp và tha anh ấy về phía đồi nhanh đến nỗi anh ấy lướt nhanh vào các đường hầm và biến mất.

“Không!” Silena đẩy Annabeth ra. “Cậu để chúng bắt Charlie!”

“Không có thời gian để tranh cãi đâu,” Annabeth nói. “Đi thôi!”

Tôi nghĩ cô ấy sẽ dẫn đầu chúng tôi trong cuộc tấn công vào tổ kiến để cứu Beckendorf, nhưng thay vì làm thế, cô ấy lại chạy về phía chiếc đầu rồng mà những con kiến đã quên trong giây lát. Cô ấy túm lấy đầu dây điện của nó và kéo nó về phía các cánh rừng.

“Cậu đang làm gì thế?” tôi gặng hỏi cô ấy. “Anh Beckendorf...”

“Giúp tớ,” Annabeth làu bàu. “Nhanh, trước khi chúng quay trở lại.”

“Ôi, thánh thần ơi,” Silena nói. “Cậu lo lắng cho cái đống kim loại này hơn cả Charlie sao?”

Annabeth quay người lại và lắc vai mình. “Nghe này, Silena! Chúng là những con Myrmekes. Chúng giống như những con kiến phun lửa vậy, thậm chí còn tệ hơn một trăm lần. Vết cắn của chúng có chất độc. Chúng phun acid. Chúng liên lạc với tất cả những con kiến khác và tụ lại thành bầy để tấn công bất cứ thứ gì đe dọa chúng. Nếu chúng ta xông vào đó để giúp anh Beckendorf, chúng ta cũng sẽ bị kéo luôn vào trong đó. Chúng ta sẽ cần sự giúp đỡ - thật nhiều sự giúp đỡ - để đoạt lại anh ấy. Giờ, hãy nắm lấy một vài cái dây điện và kéo!”

Tôi không biết Annabeth dự tính làm điều gì, nhưng tôi đã cùng cô ấy phiêu lưu đủ lâu để biết được cô ấy có lý do chính đáng cho những gì cô ấy đang làm. Cả ba chúng tôi kéo cái đầu rồng kim loại vào rừng. Annabeth không để chúng tôi dừng lại cho đến khi chúng tôi ở cách bìa rừng mười lăm mét. Rồi chúng tôi đổ sụp người xuống, người đầy mồ hôi và thở dốc.

Silena bắt đầu khóc. “Anh ấy ắt hẳn đã chết.”

“Không đâu,” Annabeth nói. “Chúng sẽ không giết anh ấy ngay. Chúng ta có khoảng nửa tiếng nữa.”

“Sao cậu biết được điều đó?” tôi hỏi.

“Tớ đã đọc về Myrmekes. Chúng làm tê liệt con mồi để chúng mềm đi trước khi...”

Silena nức nở. “Chúng ta phải cứu anh ấy!”

“Silena,” Annabeth nói. “Chúng ta sẽ cứu anh ấy, nhưng tớ cần cậu kiềm chế. Đó chính là cách.”

“Hãy gọi thêm các trại viên khác,” tôi nói, “hoặc bác Chiron. Bác Chiron biết phải làm điều gì.”

Annabeth lắc đầu. “Họ đang ở rải rác khắp khu rừng. Vào thời điểm chúng ta tập hợp được mọi người đến đây, đến lúc đó đã là quá muộn. Ngoài ra, toàn bộ trại sẽ không mạnh đến nỗi để xâm chiếm Đồi Kiến.”

“Thế thì cái gì

Annabeth chỉ về phía đầu con rồng.

“Được rồi,” tôi nói. “Cậu sẽ dọa những con kiến đó với một con rối kim loại lớn sao?”

“Nó là một người máy.”

Điều đó cũng chẳng khiến tôi cảm thấy tốt hơn. Người máy là những con robot bằng đồng ma thuật được thần Hephaestus tạo ra. Hầu hết chúng đều là những cổ máy giết người điên cuồng, và chúng là những con xinh nhất.

“Thế thì sao?” tôi nói. “Nó chỉ là phần đầu. Nó đã bị hỏng.”

“Percy, đây không phải là bất cứ người máy nào,” Annabeth nói. “Nó là con rồng bằng đồng. Cậu chưa bao giờ nghe chuyện về nó sao?”

Tôi ngây người nhìn cô ấy. Annabeth đã ở trại lâu hơn tôi rất nhiều. Cô ấy chắc còn biết hàng đống chuyện mà tôi không hề biết.

Đôi mắt Silena mở lớn. “Ý cậu là người bảo vệ cổ đó sao? Nhưng đó chỉ là truyền thuyết mà thôi.”

“Whoa,” tôi nói.

Annabeth hít thật sâu. “Percy, vào những ngày trước khi có cây của Thalia – quay trở lại trước ngày trại có ranh giới phép thuật để ngăn chặn các quái vật – các cố vấn trại cố thử tất cả các cách khác nhau để bảo vệ chính họ. Cái nổi tiếng nhất chính là con rồng bằng đồng. Nhà thần Hephaestus đã tạo ra nó với lời chúc phúc từ cha mình. Với sự hung dữ và sức mạnh, nó đã bảo vệ trại qua hơn một thập kỷ. Và rồi... cách đây mười lăm năm, nó biến mất vào rừng.”

“Và cậu nghĩ đây là đầu của nó sao?”

“Nó phải là thế! Những con Myrmekes ắt hẳn đã đào nó lên khi chúng tìm kiếm kim loại quý giá. Chúng không thể di chuyển toàn bộ, vì thế chúng nhai đứt cái đầu. Phần cơ thể không thể cách xa đây.”

“Nhưng chúng đã nhai đứt nó. Nó đã trở nên vô dụng.”

“Không nhất thiết.” Đôi mắt Annabeth nheo lại, và tôi có thể nói bộ não của cô ấy đang làm việc ngoài giờ. “Chúng ta có thể lắp ráp lại nó. Nếu chúng ta có thể khởi động nó...”

“Chờ đã,” tôi nói. “Sao có nhiều từ nếu thế. Nếu chúng ta tìm thấy nó, nếu chúng ta có thể phục hồi lại sự hoạt động của nó đúng lúc,ó sẽ giúp chúng ta. Cậu nói con vật này đã biến mất mười năm trước đây sao?”

Annabeth gật đầu. “Một vài người nói động cơ của nó bị hao mòn vì thế nó tự đi vào rừng để tự làm mất đi các chức năng của chính mình. Hoặc việc lập trình của nó bị nhiễu. Không ai biết rõ.”

“Cậu muốn lắp ráp lại một con rồng kim loại bị nhiễu sao?”

“Chúng ta phải thử!” Annabeth nói. “Nó là hy vọng duy nhất của anh Beckendorf! Ngoài ra, nó có thể là dấu hiệu từ thần Hephaestus. Con rồng sẽ muốn giúp một trong số những đứa con của thần Hephaestus, Beckendorf sẽ muốn chúng ta thử.”

Tôi không thích ý tưởng đó. Mặt khác, tôi không có bất cứ ý tưởng nào tốt hơn nó. Chúng tôi đang cạn dần thời gian, và Silena trông như thể cô ấy sẽ cảm thấy đau buồn nếu chúng tôi không nhanh chóng làm một điều gì đó. Beckendorf đã nói điều gì đó về một dấu hiệu đến từ thần Hephaestus. Có thể giờ là thời điểm để tìm ra.

“Được rồi,” tôi nói. “Chúng ta hãy đi tìm con rồng không đầu nào.”

Chúng tôi tìm mãi, hoặc có thể sự việc sẽ tiến triển như thế, vì trong toàn bộ thời gian, tôi cứ tưởng tượng về hình ảnh Beckendorf ở trong Đồi Kiến, sợ hãi và tê liệt, trong khi một đám sinh vật sống được vũ trang bu quanh anh ấy, chờ cho người anh ấy mềm ra.

Không khó để theo dấu của những con kiến. Chúng đã kéo lê cái đầu rồng xuyên qua cánh rừng, tạo thành một vết lún sâu trên mặt đất bùn, và chúng tôi đã kéo đầu rồng quay trở lại con đường mà nó đã từng đi.

Chúng tôi phải đi gần một phần tư của dặm – và tôi bắt đầu lo lắng về thời gian – thì Annabeth chợt nói, “Di immortales.”

Chúng tôi đi đến rìa một miệng hố - như một cái gì đó đã làm nổ tung một lỗ có kích thước một căn nhà trên mặt đất của khu rừng. Các mặt hố trơn trượt và rải rác các rễ cây. Dấu vết của những con kiến dẫn đến đáy miệng hố, nơi một đống kim loại lớn lấp lánh xuyên qua lớp đất. Các dây điện nhô lên từ phần đồng còn lại.

“Cổ của con rồng,” tôi nói. “Cậu nghĩ những con kiến đã tạo ra cái hố này sao?”

Annabeth lắc đầu, “Trông giống với một vụ nổ sao băng hơn...”

“Thần Hephaestus,” Silena nói. “Thần đã đào nó lên, thần Hephaestus muốn chúng ta tìm ra con rồng. Ông ấy muốn Charlie được...” Cô ấy nghẹn lời.

“Đi thôi,” tôi nói. “Hãy nối lại anh chàng xấu tính này.”

Việc đưa đầu rồng xuống dưới đáy là điều thật dễ dàng. Nó lăn nhào xuống bên dưới và đánh mạnh vào phần cổ với một tiếng BONK! vang lớn của kim loại. Việc gắn kết nó lại còn khó khăn hơn.

Chúng tôi không có dụng cụ và không có kinh nghiệm gì.

Annabeth nghịch vớ vẩn với các sợi dây điện và chửi rủa bằng tiếng Hy Lạp cổ. “Chúng ta cần Beckendorf. Anh ấy có thể làm điều này chỉ cần một vài giây.”

“Chẳng phải mẹ cậu là nữ thần của các nhà sáng chế sao?” tôi hỏi.

Annabeth liếc nhìn tôi. “Đúng thế, nhưng lần này thì khác. Tớ chỉ giỏi về các ý tưởng. Không phải về cơ học.”

“Nếu tớ phải chọn một người nào đó trên thế giới này gắn lại đầu tớ,” tôi nói, “tớ sẽ chọn cậu.”

Tôi chợt buộc miệng nói ra điều đó – chỉ để mang lại cho cô ấy thêm sự tự tin, tôi đoán thế - nhưng ngay lập tức tôi nhận ra nó nghe khá là ngu ngốc.

“Eo ơi...” Silena khịt khịt và lau mắt mình. “Percy, điều đó thật ngọt ngào.”

Annabeth đỏ mặt. “Im miệng, Silena. Đưa cho tớ cây dao găm của cậu.”

Tôi sợ Annabeth sẽ dùng nó đâm tôi. Thay vào đó, cô ấy dùng nó như một cái tua-vít để mở bảng ở cổ con rồng. “Ở đây chẳng có gì cả,” cô ấy nói.

Và cô ấy bắt đầu nối các dây điện đồng celestial lại với nhau.

Việc đó mất rất nhiều thời gian. Quá nhiều thời gian.

Tôi ước trò Cướp Cờ giờ đã kết thúc. Tôi tự hỏi các trại viên khác sẽ sớm nhận ra chúng tôi mất tích và đi tìm chúng tôi như thế nào. Nếu sự tính toán của Annabeth là chính xác (và chúng thường đúng), Beckendorf chắc chắn chỉ còn năm hay mười phút trước khi những con kiến ăn anh ấy.

Cuối cùng Annabeth cũng đứng dậy và thở ra. Đôi tay cô ấy xây xát và đầy bùn. Các đầu móng tay của cô ấy bị hỏng nặng. Có một vệt nâu trên trán cô ấy vì con rồng quyết định phun nhớt vào cô ấy.

“Được rồi,” cô ấy nói. “Đã xong. Tớ nghĩ...”

“Cậu nghĩ?” Silena hỏi.

“Nó phải xong,” tôi nói. “Chúng ta đã hết thời gian. Cậu, ừm, làm thế nào để khởi động nó? Nó có nút khởi động hay bất cứ cái gì khác không?”

Annabeth chỉ vào đôi mắt màu đỏ ruby của nó. “Chúng chuyển động theo chiều kim đồng hồ. Tớ đoán chúng ta có thể quay chúng.”

“Nếu ai đó xoắn cầu mắt của tớ, tớ sẽ thức tỉnh,” tôi đồng ý với Annabeth. “Vậy nếu nó nổi điên với chúng ta thì sao?”

“Thế... thì chúng ta sẽ chết,” Annabeth nói.

“Tuyệt,” tôi nói. “Tớ đã chuẩn bị tinh thần.”

Cùng nhau, chúng tôi xoay đôi mắt ruby của con rồng. Ngay lập tức chúng bắt đầu phát sáng. Annabeth và tôi lùi lại quá nhanh nên chúng tôi đã ngã chồng lên nhau. Miệng con rồng há ra, như thể đang kiểm tra hàm của nó. Cái đầu quay lại và nhìn chúng tôi. Hơi nước phun ra từ tai nó, và nó cố đứng dậy.

Khi nó phát hiện nó không thể di chuyển, con rồng dường như bối rối. Nó vểnh đầu lên và nhìn chăm chú vào lớp đất. Cuối cùng, nó cũng nhận ra nó đang bị chôn trong đất. Cổ nó căng ra một lần, hai lần... và phần đất ở giữa miệng hố được phun lên.

Con rồng lúng túng kéo chính mình ra khỏi mặt đất, lắc đống đất bùn ra khỏi cơ thể nó theo cách một con chó hay làm, khiến đất rơi xuống trên chúng tôi từ đầu đến chân. Con người máy quá tuyệt vời đến nỗi không ai trong chúng tôi có thể cất lời. Ý tôi là, chắc chắn nó cần một chuyến đi đến nơi rửa xe, và vẫn còn một vài sợi dây điện nhú ra ở chỗ này chỗ kia, nhưng phần thân của con rồng thật kinh ngạc – như một cái thùng công nghệ cao với những cái chân. Các bề mặt của nó được bao bọc bởi những lớp vải bằng đồng và vàng, được nạm đá quý. Chân của nó có kích thước của một thân cây, và bàn chân nó có móng vuốt bằng thép. Nó không có cánh – hầu hết các con rồng Hy Lạp đều không có – nhưng nó có cái đuôi dài bằng cơ thể chính, có kích thước của một chiếc xe buýt chở học sinh. Cổ nó kêu cọt kẹt và nổ lốp bốp khi nó hướng đầu lên trời và thổi một cột lửa mừng chiến thắng.

“Ừm...” tôi nói với một giọng cực kỳ nhỏ. “Nó vẫn hoạt động.”

K nó nghe những gì tôi nói. Đôi mắt ruby đó chiếu thẳng vào tôi, và nó đưa mũi nó đến cách mặt tôi khoảng năm phân. Theo bản năng, tôi với tay đến thanh kiếm của mình.

“Con rồng, ngừng lại!” Silena hét lớn. Tôi ngạc nhiên là giọng cô ấy vẫn tốt như thế. Cô ấy nói với giọng ra lệnh nên con rô-bốt đã hướng sự chú ý của mình về phía cô ấy.

Silena nuốt xuống đầy sợ hãi. “Chúng ta đánh thức ngươi dậy để bảo vệ trại. Ngươi nhớ không? Đó chính là công việc của ngươi!”

Con rồng nghiêng đầu sang một bên như thể nó đang suy nghĩ vậy. Tôi đoán Silena đang có cơ hội năm mươi-năm mươi được nổ tung bằng lửa. Tôi đang xem xét đến việc nhảy lên cổ để làm nó phân tâm, thì Silena nói, “Charles Beckendorf, con trai của thần Hephaestus, đang gặp rắc rối. Loài Myrmekes đã bắt anh ấy. Anh ấy cần sự giúp đỡ của ngươi.”

Khi nghe từ Hephaestus, cổ con rồng thẳng đứng dậy. Một cơn rùng mình lan khắp cơ thể kim loại của nó, tạo thành một cơn mưa bùn mới lên khắp người chúng tôi.

Con rồng nhìn quanh, như thể đang cố tìm kiếm kẻ thù.

“Chúng ta phải chỉ cho nó,” Annabeth nói. “Đi nào, rồng! Đường này dẫn đến con trai của thần Hephaestus! Đi theo chúng ta nào!”

Cứ như thế, cô ấy lấy kiếm của mình ra, và cả ba chúng tôi leo ra khỏi cái hố đất đó.

“Vì thần Hephaestus!” Annabeth hét lên, câu nói đó thật có tác dụng. Chúng tôi đi băng qua cánh rừng. Khi tôi nhìn ra phía sau chúng tôi, con rồng bằng đồng vẫn đi ngay sau lưng, đôi mắt màu đỏ của nó phát sáng và hơi nước phun ra từ lỗ mũi của nó.

Đó chính là một lời khuyến khích tuyệt vời để giúp chạy nhanh hơn khi chúng tôi hướng về phía Đồi Kiến.

Khi chúng tôi đến bìa rừng, con rồng dường như bắt được mùi của Beckendorf. Nó lăn nhanh về phía trước, chúng tôi phải nhảy tránh khỏi đường đi của nó để tránh bị đè bẹp. Nó xé nát cây trong rừng, các khớp kêu cọt kẹt, hai chân tạo thành các hố trên mặt đất.

Nó tấn công thẳng vào Đồi Kiến. Đầu tiên, các con Myrmekes đã không biết chuyện gì đang xảy ra. Con rồng giẫm lên một vài con, giẫm bẹp chúng thành nước ép bọ. Thế rồi mạng lưới ngoại cảm của chúng dường như sáng lên: Con rồng lớn. Xấu!

Tất cả các con kiến đang ở rìa rừng đồng thời quay lại và bao quanh con rồng. Có thêm nhiều con kiến đều túa ra từ ngọn đồi – hàng trăm con. Con rồng phun lửa và khiến chúng hoảng sợ rút lui. Ai biết được kiến dễ bắt lửa? Nhưng nhiều con hơn nữa vẫn đang tiến đến.

“Vào bên trong, ngay bây giờ!” Annabeth nói với chúng tôi. “Khi chúng tập trung vào con rồng!”

Silena dẫn đầu cuộc tấn công, đây là lần đầu tiên tôi đi theo con của nữ thần Aphrodite trong một trận chiến. Chúng tôi chạy băng qua những con kiến, nhưng chúng lờ chúng tôi đi. Vì một vài lý do nào đó chúng dường như nghĩ rằng con rồng là mối đe dọa lớn hơn. Hãy nghĩ xem.

Chúng tôi lao vào đường hầm gần nhất, và tôi gần như nôn khan vì mùi hôi thối trong đó. Không có gì, ý tôi là không có gì, thối hơn tổ của những con kiến khổng lồ. Tôi có thể nói là chúng để cho thức ăn của chúng thối trước khi ăn nó. Một người nào đó cần nghiêm túc dạy chúng về tủ lạnh.

Quãng đường bên trong của chúng tôi là những đường hầm lờ mờ tối om và các ô trống đầy nấm mốc được bao phủ bằng vỏ của những con kiến già và các bể phân. Những con kiến lao ngang qua chúng tôi trên đường tham chiến, nhưng chúng tôi chỉ việc bước sang một bên và để chúng đi qua. Ánh sáng đồng le lói từ thanh kiếm của tôi giúp chúng tôi có ánh sáng khi đi sâu hơn vào trong tổ.

“Nhìn kìa!” Annabeth nói.

Tôi liếc nhìn vào căn phòng cạnh bên, và trái tim tôi như ngừng đập. Treo từ trần nhà là những chiếc bọc nhớp nháp, khổng lồ - ấu trùng kiến, tôi đoán – nhưng cái đó không thu hút sự chú ý của tôi. Trên sàn hang chất đống tiền vàng, đá quý, và các loại châu báu khác – mũ sắt, kiếm, các loại nhạc cụ, đồ trang sức. Chúng phát sáng theo cách các vật có ma thuật thường có.

“Đó chỉ là một căn phòng,” Annabeth nói. “Ở đây ắt hẳn phải có hàng trăm căn phòng dành cho ấu trùng ở dưới kia được trang trí bằng châu báu.

“Điều đó không quan trọng,” Silena nhấn mạnh. “Chúng ta phải tìm Charlie!”

Một lần đầu tiên khác: một người con của nữ thần Aphrodite không thích thú về đồ trang sức.

Chúng tôi tiến lên phía trước. Sau hơn sáu mét, chúng tôi tiến vào một cái hang và nó có mùi tệ đến nỗi mũi tôi như ngừng thở. Phần còn lại của thức ăn cũ được chất đống cao như một gò cát – xương, các khoanh thịt bị ôi thiu, cả thức ăn cũ của trại. Tôi đoán đã cướp chất làm tạo phân và trộm thức ăn thừa của trại. Ở dưới đáy của một trong những đống phân hủy, đang cố gắng thẳng người dậy, là Beckendorf. Anh ấy trông thật khủng khiếp, phần lớn vì chiếc áo giáp ngụy trang giờ biến thành màu của rác.

“Charlie!” Silena chạy về phía anh ấy và giúp anh ấy đứng lên.

“Tạ ơn thần!” anh ấy nói. “Chân anh... chân anh bị tê liệt.”

“Nó sẽ dần biến mất,” Annabeth nói. “Nhưng bọn em phải đưa anh ra khỏi đây. Percy, cậu hãy phụ trách phía bên kia của anh ấy.”

Silena và tôi kéo Benkendorf lên, và bốn chúng tôi quay ra lại đường hầm. Tôi có thể nghe thấy âm thanh chiến trận từ đằng xa - tiếng kẽo kẹt của kim loại, tiếng gầm của lửa, hàng trăm con kiến cắn và phun phì phì.

“Chuyện gì đang xảy ra ngoài kia thế?” Beckendorf hỏi. Cả người anh ấy căng cứng lại. “Con rồng! Các em... đã không kích hoạt nó lại chứ?”

“E là có,” tôi nói. “Vì chỉ có duy nhất cách đó mà thôi.”

“Nhưng các em không thể chỉ khởi động con rô-bốt! Các em phải kiểm tra động cơ, chạy thử... Sẽ chẳng biết nó sẽ làm gì đâu! Chúng ta phải ra khỏi đây!”

Nhưng hóa ra, chúng tôi không cần phải chạy đi đâu, vì con rồng đã đến bên chúng tôi. Chúng tôi cố nhớ đường hầm nào là lối ra thì toàn bộ khu đồi sập xuống, bao phủ chúng tôi trong cơn mưa đất. Đột nhiên chúng tôi liếc nhìn bầu trời đang mở rộng phía trên đầu mình. Con rồng đang ở ngay trên đầu chúng tôi, quẫy tới quẫy lui, đập Đồi Kiến thành từng mảnh nhỏ khi nó cố hất văng những con kiến đang bám trên khắp cơ thể nó.

“Đi thôi!” tôi hét lớn. Chúng tôi đào đất chui ra và trượt xuống một bên đồi, mang Beckendorf theo cùng chúng tôi.

Người bạn rồng của chúng tôi lại đang gặp rắc rối. Những con Myrmekes đang cắn vào các khớp nối trên lớp giáp của nó, phun acid lên khắp cơ thể nó. Con rồng dậm mạnh và thổi ra lửa, nhưng cũng không tồn tại lâu được. Hơi nước đang bốc lên từ lớp da đồng của nó.

Tệ hơn là, một vài con kiến đang quay về phía chúng tôi. Tôi đoán chúng không thích chúng tôi cướp đi bữa tối của nó. Tôi chém vào một con và cắt đứt đi đầu của nó. Annabeth đâm mạnh vào con khác ngay giữa xúc tu của nó. Khi lưỡi kiếm đồng celestial chọc thủng vỏ nó, cả con kiến đều rã

“Anh... anh nghĩ giờ mình có thể đi,” Beckendorf nói, và ngay lập tức ngã chúi người xuống khi chúng tôi buông tay cậu ấy ra.

“Charlie!” Silena giúp anh ấy đứng dậy và kéo anh ấy đi trong khi Annabeth và tôi dẹp đường xuyên qua những con kiến. Bằng cách này hay cách khác chúng tôi phải đến được rìa rừng mà không để bị cắn hoặc bị phun acid, nhưng một trong hai chiếc giày đế mềm của tôi đang bốc khói vì acid.

Ở phía rìa rừng, con rồng đang đi loạng choạng. Một đám mây acid đang bốc lên từ làn da của nó.

“Chúng ta không thể để cho nó chết!” Silena nói.

“Nó quá nguy hiểm,” Beckendorf nói một cách buồn bã. “Hệ thống dây điện của nó...”

“Charlie,” Silena cầu xin, “nó đã cứu mạng sống của cậu! Làm ơn, hãy làm điều đó vì tớ.”

Beckendorf chần chừ. Khuôn mặt anh ấy vẫn còn hơi đỏ do nước bọt của những con kiến, anh ấy trông như thể có thể ngất đi bất cứ lúc nào, nhưng anh ấy cố gắng đứng dậy. “Hãy chuẩn bị chạy nhé,” anh ấy nói với chúng tôi. Rồi anh ấy nhìn về phía khoảng rừng trống và hét lớn, “RỒNG! Phòng thủ khẩn cấp, tái khởi động bê-ta!”

Con rồng quay về hướng giọng của anh ấy. Nó ngừng việc chống lại những con kiến và mắt nó phát sáng. Không khí có mùi khí ô-zôn, như trước khi một cơn bão xuất hiện.

ZZZZZAAAAAPPP!

Cung lửa điện màu xanh bắn ra từ làn da của con rồng, tan tỏa khắp cơ thể nó và dính vào những con kiến. Một vài con kiến nổ tung. Những con khác bốc khói và đen kịt, những chiếc chân của chúng co rúm lại. Trong một vài giây, chẳng còn lấy một con kiến nào trên thân con rồng. Những con vẫn sống còn lại toàn bộ đều rút lui, vội vã lùi lại về phía ngọn đồi đã bị phá hủy khi những ngón tay đầy điện bắn vào mông xuyên thẳng qua người chúng.

Con rồng rống lên mừng chiến thắng, rồi nó hướng đôi mắt phát sáng về phía chúng tôi.

“Giờ thì,” Beckendorf nói, “chạy đi thôi.”

Lần này giúp tôi không hét lên, “Vì thần Hephaestus!” mà là “Cứuuuuuuuu với!”

Con rồng chạy rầm rập theo sau chúng tôi, phun lửa và phóng tia chớp điện phía trên đầu chúng tôi như thể no đang có quãng thời gian cực kỳ vui thú vậy.

“Anh làm cách nào ngăn nó lại đi?” Annabeth hét lớn.

Beckendorf, giờ chân của anh ấy đã ổn (không điều gì có thể làm cho cơ thể bạn quay trở lại tốt hơn việc bị một con quái vật khổng lồ đuổi theo) lắc đầu và thở hổn hển. “Các em không nên bật nó lên! Nó không ổn định! Chỉ sau một vài năm, các con rô-bốt sẽ trở nên điên dại!”

“Thật tốt được biết điều đó,” tôi hét lớn. “Nhưng làm thế nào để tắt nó đi?”

Beckendorf nhìn quanh e dè.

Phía trên đầu là các tảng đá nhô ra, hầu như đều cao bằng cây trong rừng. Cả rừng đầy các tảng đá với hình thù kỳ quái, nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy tảng đá này trước đây. Nó có hình dáng của một dốc ván trượt khổng lồ, một bên nghiêng ngiêng, ở bên còn lại là dốc đá thẳng đứng.

“Các cậu, chạy vòng quanh chân của vách đá,” Beckendorf nói. “Làm phân tâm con rồng đi. Làm cho nó bận rộn đi.”

“Anh sẽ làm gì?” Silena nói.

“Anh sẽ thấy. Làm đi!”

Beckendorf trốn sau một thân cây trong khi tôi quay lại và hét vào con rồng, “Này, mỏ thằn lằn! Mùi của mày ngửi giống mùi xăng quá!”

Con rồng thở khói đen ra khỏi mũi của nó. Nó đi sầm sầm về phía tôi, làm cả mặt đất rung lên bần bật.

“Đi thôi!” Annabeth cầm lấy tay tôi. Chúng tôi chạy ra phía sau vách đá. Con rồng chạy theo chúng tôi.

“Chúng ta phải giữ nó ở đây,” Annabeth nói. Cả ba chúng tôi đã sẵn sàng rút kiếm ra.

Con rồng đuổi kịp chúng tôi và lắc lư ngừng lại. Nó nghiêng đầu như thể nó không tin được chúng tôi quá ngu ngốc để đánh nhau. Giờ nó đã bắt được chúng tôi, có quá nhiều cách để giết chúng tôi đến độ nó không thể quyết định được.

Chúng tôi chạy tán loạn khi đợt phun lửa đầu tiên biến mặt đất nơi chúng tôi từng đứng biến thành một hố tro bốc khói.

Rồi tôi nhìn Beckendorf phía trên chúng tôi – trên đỉnh của vách đá – và tôi hiểu những gì anh ấy đang cố làm. Anh ấy cần một cú đánh chính xác. Tôi phải thu hút sự chú ý của c

“Yaaaah!” tôi tấn công. Tôi đâm mạnh thanh Thủy Triều xuống bàn chân của con rồng và cắt mất một cái móng của nó.

Đầu nó kêu cọt kẹt khi nó cúi xuống nhìn tôi. Nó dường như hoang mang hơn là giận dữ, như, Sao cậu lại cắt mất móng chân của tôi?

Rồi nó mở miệng ra, để lộ hàng trăm chiếc răng sắc bén.

“Percy!” Annabeth cảnh báo.

Tôi vẫn đứng tại vị trí của mình. “Chỉ một giây nữa thôi...”

“Percy!”

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.