Số 31 Đường Giấc Mơ

Chương 13



Melinda McNulty đang ở tuổi bốn lăm. Chị duy trì thân hình cỡ mười rắn chắc của mình bằng cách đi tập thể dục ba lần một tuần, tham gia hai lớp quyền thuật một tuần và tập các bài tập Pilates trước ti vi, trên sàn, trong phòng ngủ của mình. Chị ăn những thanh ngũ cốc Special K vào bữa sáng, rồi tới sân bay Stansted để làm công việc ở quầy làm thủ tục lên máy bay cho hành khách của hãng Monarch[10]. Tủ đựng đồ trong bếp của chị toàn đồ ăn nhẹ như Snack-a-Jack và mì ăn liền. Chị uống rượu Cava (“Nó ngon hơn rượu Champagne.”) gần như hàng ngày trong tuần, và đi chơi ở các câu lạc bộ vào các tối thứ Bảy cùng với cô bạn Zoë hai mươi tám tuổi. Chị trang điểm quá đậm, dùng quá nhiều nước hoa và thường mặc những bộ đồ thể thao bó sát bằng nhung nỉ sáng màu để khoe cái bụng rắn chắc.

[10] Hãng hàng không giá rẻ.

Toby không chắc mình có cảm giác ra sao đối với những cái bụng rắn chắc của phụ nữ ở độ tuổi bốn lăm. Rất ấn tượng nhưng cũng hơi ngại thế nào.

Khi Toby nhìn thấy chị đi làm về vào buổi tối hôm ấy, lịch lãm và gọn gàng trong bộ đồng phục của hãng hàng không, anh cố tình đến tìm chị. Anh gặp chị đang là quần áo ở gian phòng phía trước. Gian phòng ẩm ướt ngập tràn mùi vải bông ẩm và văng vẳng giai điệu vang lên từ chiếc máy nghe nhạc đeo tai của chị. Nhìn thấy anh, chị mỉm cười và bỏ tai nghe ra.

“Xin chào, lãnh chúa!” Chị có giọng nói cao, chói tai của một thiếu nữ mười lăm tuổi. Thật lạc điệu. Khuôn mặt chị thoáng biến đi sau làm hơi nước. “Mọi chuyện thế nào?”

“Tốt cả,” anh nói. “Tuyệt lắm. Chị thì sao?”

“Ừ, chị cũng vậy. Chỉ đang cố giải quyết bớt chỗ đồ cần phải là này đi thôi.”

Toby liếc nhìn chồng quần áo đang cao dần lên trên tay ghế sofa. Đa phần là quần áo của Con. “Chị muốn uống trà không?” anh mời.

“Ồ, có.” Chị hơi dẩu đôi môi màu đỏ dâu tây thành một vòng tròn với những nếp nhăn. “Bạch trà. Một viên đường nhé. Có thể pha vào cái cốc trắng có hình những chú mèo được không? Em biết đấy, cái cốc lớn ấy mà?”

Anh chẳng biết, nhưng lục tìm trong các ngăn tủ cho tới khi tìm thấy nó. Khi anh quay lại, Melinda đã ngồi chéo chân trong ghế sofa, ngắm nghía những móng tay sơn đỏ như máu và bóng của mình. “Ồ, cám ơn nhé, Toby,” chị nói, chìa hai bàn tay đeo đầy nhẫn về phía cốc trà, “y như lời bác sĩ khuyên.”

Toby ngồi xuống bên chị và đặt cốc trà của mình lên mặt bàn nước.

“Chị nghe nói là em định bỏ mấy thứ này,” Melinda nói, tay vuốt lên lớp vải bọc sofa.

“Cái gì...?”

“Mấy cái sofa này. Con nói là em đang định mua ghế mới.”

“Vâng,” anh đáp, “Em định thế. Chúng phục vụ đã quá lâu rồi, mấy cái ghế này.”

“Đúng đấy,” chị đồng ý, “chúng cũ mèm rồi.”

Toby chớp mắt vì cách dùng tiếng pha tạp của chị[11].

[11] Nguyên văn lingua franca: ngôn ngữ pha tạp dùng để giao tiếp giữa các cộng đồng không cùng ngôn ngữ.

“Con mèo kỳ quặc ấy ra sao rồi?” chị hỏi tiếp.

“Boris á?”

“Em gọi nó thế à?” chị cười vang.

“Vâng.”

“Ồ, chị thích đấy. Trông nó hợp với Boris lắm. Nó thế nào rồi?”

“Em nghĩ là nó cũng ổn thôi. Chẳng cần chăm sóc nhiều. Có điều là em không khoái lắm việc thay cát cho mèo. Chẳng dễ chịu gì mấy.”

“Ồ, phải đấy. Mẹ chị ngày xưa cũng có một con mèo nhà kiểu ấy. Rắc rối chết đi được. Nhưng ít ra thì cũng không có chuyện nó tha chuột chết giấu vào dưới gối hay chim bị ăn dở vào thảm trải nhà.”

Melinda quay ra đối diện với anh, đầu gối co lại. Mái tóc chị bị nhuộm sai màu, hơi quá ngả vàng như thể bị để ngoài nắng quá lâu. Mũi chị nhỏ và hơi quặp, và đôi môi chị có hình dạng lạ, chỗ thì quá dày, chỗ lại quá mỏng. Bình thường mặt chị không có nếp nhăn, nhưng khi cười thì vô số vết chân chim tỏa ra ở đuôi mắt chị như thể pháo hoa. Nhưng chị lại có một đôi mắt rất đẹp, màu nước biển Caribbe xanh trong, viền bởi hàng mi đen dày. “Chị biết là nghe thì khủng khiếp lắm,” chị nghiêng người về phía anh, vẻ bí ẩn, “và đừng nghĩ sai về chị, nhưng chị thích ở đây hơn nhiều kể từ khi Gus qua đời.”

Toby nhìn chị vẻ kinh hoàng.

“Không phải là chị không thích ông ấy. Đừng nghĩ thế. Nhưng cứ lạ lạ thế nào, phải không, khi ông ấy còn ở đây? Có gì đó không hợp với hình ảnh của ngôi nhà. Nhưng từ khi ông lão mất đi, mọi thứ ở đây thật hoàn hảo. Em biết không, Toby, chị yêungôi nhà này lắm, thực đấy. Chị không thể tưởng tượng ra mình sống ở đâu khác được nữa.” Chị ngước nhìn lên trần nhà. “Chị không thể nào chuyển vào ở một chỗ ở xây chật chội, với giấy dán tường nữa đâu. Chị đã bị làm hư đấy.” Chị cười to.

Toby nghẹn lời. “Vậy là chị hạnh phúc phải không, được ở chung phòng với Con?”

“Ồ, dễ thương lắm. Em biết không, chị đã nghĩ là chị sẽ hỏi em về căn phòng của Gus, giờ đây ông lão đã mất rồi. Chị đã nghĩ là chị sẽ hỏi em liệu chị có thể chuyển vào phòng đó hay không. Nhưng chị lại nghĩ, liệu thực sự chị có muốn ở chung phòng với con mèo kinh khủng ấy hay không? Rồi thì chị cũng nghĩ, thực sự chị có muốn chuyển ra khỏi phòng của Con không? Và chị không muốn thế. Thực sự không. Chị thích ở chung phòng với nó. Nó là một chàng trai tuyệt vời. Và sau bấy nhiêu năm xa cách với Con. Chị đã bỏ lỡ nhiều điều. Nhưng bây giờ thì... bọn chị gần gũi lắm.” Chị nói một thôi một hồi. “Bọn chị giống như thể hai người bạn thân nhất, em biết không, bọn chị ngang hàng với nhau. Bây giờ thật tuyệt. Mọi thứ thật tuyệt.” Chị mỉm cười và vuốt ve cốc trà. “Thế còn em thì sao, Toby? Em đã độc thân khá lâu rồi đấy. Có ai đặc biệt trong đời em chưa?”

“Ờ, không có,” anh nói, cố gắng xua đi trong tiềm thức cú nhảy đột ngột đáng ngờ của Melinda trong câu chuyện từ quan hệ của chị với con trai sang cuộc sống ái tình của Toby. “Hiện nay không có ai.”

“À,” chị thủ thỉ đầy cảm thông, bóp nhẹ vào chân anh. “Thật đáng tiếc. Năm nay em bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?”

“Ba chín,” anh đáp, “tuần sau là tròn ba chín.”

“Phải. Đó là một cái tuổi rất buồn cười. Chị vẫn còn nhớ hồi chị sắp bước sang tuổi bốn mươi. Ở tuổi đó người ta bắt đầu hoảng, nghĩ rằng mình sắp hết thời gian rồi. Mỉa mai là ở chỗ, phải đến cái tuổi chết tiệt ấy thì người ta mới bắt đầu già. Chị cứ nghĩ là chị sẽ thành đồ cổ khi chị bước sang tuổi bốn lăm, nhưng chị chẳng có nếp nhăn nào cho đến tận lúc chị bốn mươi mốt. Và ngực chị vẫn còn ổn lắm.” Chị đặt cốc trà của mình xuống và nhìn xa xăm vẻ suy tư. “Em biết không, mỗi lần sinh nhật chị lại nhìn vào gương và nghĩ, chưa đâu Mel, cô vẫn còn đó, vẫn còn xinh đẹp lắm. Phải luôn nghĩ thế trong đầu, nhưng cũng đáng lắm. Đặc biệt là trong loại công việc của chị, bề ngoài đẹp đẽ rất quan trọng.”

“Ý chị là, làm tiếp viên hàng không ấy hả?”

“Không, không hẳn là một tiếp viên hàng không. Giờ chị là một nhân viên mặt đất. Như thế chị ở gần nhà hơn, gần Con hơn. Nhưng hình ảnh vẫn vô cùng quan trọng. Mình là mối liên hệ đầu tiên giữa khách hàng với hãng hàng không. Và nếu trông mình như cứt ấy thì sẽ khiến khách hàng chẳng tin tưởng lắm vào chuyến bay, phải không?”

Toby gật đầu ngoan ngoãn, thầm nghĩ chắc hẳn cơ sở để anh đặt lòng tin vào chuyến bay sắp tới là tình trạng của máy bay chứ không phải là màu nhũ mắt của nhân viên mặt đất.

“Mà,” chị đứng dậy, “em là một người đàn ông dễ thương. Chị tin chắc là một người nào đó sẽ đến với em vào lúc em không ngờ tới nhất. Và em có nhiều lợi thế lắm đấy.”

“Em ấy ư?”

“Đúng vậy, em dễ thương và cao ráo. Con gái nói chung thích đàn ông cao ráo. Em có một ngôi nhà tuyệt vời. Tính em rộng lượng và quan tâm. Ý chị là, hãy nhìn bọn chị mà xem, một lũ bơ vơ và lang thang. Bọn chị có thể ở vào đâu được nếu không có em, hả Toby? Em đã cứu Con khỏi cảnh màn trời chiếu đất. Em đã cho chị một cơ hội để ở bên con trai. Em đã chăm lo cho Ruby kể từ khi cô ấy còn là một đứa trẻ. Và Gus có thể đã ra sao nếu không có em chăm sóc cho ông lão? Em là một người hùng, Toby ạ, một người hùng thực sự. Và có người phụ nữ nào mà không muốn một người hùng cơ chứ?”

Toby cầm cốc trà lên và đi ra khỏi phòng, chẳng nghĩ ra được bất cứ điều gì để đáp lại.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.