Titanic - Trong Vũ Trụ

Chương 6



SÁU

Mũi Canaveral

Qua cửa sổ chiếc ô tô thuê, Jack hít căng lồng ngực bầu không khí ẩm ướt của đảo Merritt. Anh ngửi thấy mùi của rừng, của đất ẩm và cây cối. Lối vào Trung tâm vũ trụ Kennedy là một con đường kiểu nông thôn có nhiều điều ngạc nhiên. Nó chạy qua những lùm cây ngả vàng, những quán bánh rán xiêu vẹo và những bãi chất đồ đồng nát của các tên lửa phế thải đã bị cỏ dại phủ đầy. Ánh sáng ban ngày đang mờ dần. Phía trước, anh thấy đèn đuôi của hàng nghìn chiếc xe đi chậm như đang bò trên đường. Xe cộ bị dồn tắc lại. Xe của anh sẽ nhanh chóng bị kẹt trong chuỗi những du khách tìm điểm đỗ xe để quan sát vụ phóng tàu vào buổi sáng.

Không có đường nào đi qua đám hỗn độn đó. Anh cũng nhận thấy không có tác dụng gì nếu cố đi qua cổng để vào cảng Canaveral. Dù sao thì vào giờ này, các phi hành gia vẫn đang ngủ. Anh đến quá muộn để nói lời tạm biệt.

Anh thoát khỏi đám xe, vòng xe lại và hướng về đường cao tốc A1A, đường đến bãi biển Cocoa.

Kể từ thời của Alan Shepard và Thủy ngân gốc thứ bảy, bãi biển Cocoa đã trở thành trung tâm tiệc tùng của các phi hành gia. Đó là một dải đất tập trung khá nhiều khách sạn, các quán bar và các cửa hàng áo phông trải dài dọc theo một khu đất bị mắc kẹt giữa sông Banana ở phía tây và Đại Tây Dương ở phía đông. Jack biết rất rõ dải đất này, từ khu nhà Thịt Bò Tokyo đến Quán Ánh trăng. Có lần anh đã chạy bộ trên cùng bờ biển mà John Glenn từng chạy qua. Cách đây mới hai năm, anh đã đứng trên công viên Jetty và ngắm sông Banana tại bệ phóng 39A, tại tàu con thoi của anh, con chim khổng lồ mà lẽ ra đã đưa anh vào không gian. Những ký ức đó vẫn bao trùm một nỗi đau. Anh nhớ một lần chạy dài vào một buổi chiều oi bức. Anh đã bị một cú chọc sườn bất ngờ và cực kỳ đau đớn. Nỗi đau đó khủng khiếp đến mức anh gục ngã. Rồi trong trạng thái mơ hồ do thuốc gây mê, khuôn mặt ủ rũ của bác sĩ trên chuyến bay cúi xuống nhìn anh trong phòng cấp cứu và thông báo cho anh tin dữ. Một viên sỏi thận.

Anh đã bị loại khỏi đội làm nhiệm vụ bay.

Tồi tệ hơn là tương lai của anh trong ngành vũ trụ không gian bị nghi ngờ. Lịch sử bệnh án có sỏi thận là một trong số rất ít lý do có thể trói chân một phi hành gia dưới mặt đất. Trọng lực cực nhỏ gây ra những biến đổi sinh lý học đối với các chất dịch trong cơ thể, dẫn đến tình trạng mất nước. Nó cũng khiến xương bị lọc mất chất canxi. Khi kết hợp lại, các yếu tố này làm tăng nguy cơ sẽ xuất hiện thêm các viên sỏi thận mới khi vào vũ trụ. - đây là một mối nguy hiểm mà NASA không muốn gặp phải. Mặc dù vẫn nằm trong đội phi hành gia nhưng Jack đã chắc chắn bị hạ xuống mặt đất. Anh đã đợi thêm một năm nữa, hy vọng có một nhiệm vụ bay khác nhưng tên anh không bao giờ được nhắc đến nữa. Anh đã bị biến thành một bóng ma phi hành gia, bị xử phạt lang thang trong các hội trường của Trung tâm vũ trụ Johnson mãi mãi để tìm kiếm một nhiệm vụ.

Anh nhanh chóng trở về với thực tại. Giờ anh ở đây, trở về Canaveral không phải với tư cách của một phi hành gia nữa, mà chỉ là một khách du lịch đi dọc theo quốc lộ A1A, đói khát, gắt gỏng và chẳng biết đi nơi nào. Mọi khách sạn trong vòng bán kính bốn mươi dặm đã bị đăng ký hết, mà anh thì đã mệt mỏi vì lái xe.

Anh quay về khu đỗ xe của khách sạn Hilton, đi về phía quầy rượu.

Nơi này đã được tân trang rất nhiều so với lần cuối anh đến đây. Thảm mới, các quầy rượu mới, những cây dương xỉ mọc trên trần nhà. Trước đây nó là một chỗ dừng chân khá tồi tàn, khách sạn Hilton cũ kỹ, mệt mỏi trên một khu đất du lịch cũng cũ kỹ và mệt mỏi. Không có khách sạn bốn sao nào trên đảo Cocoa. Nơi này gần giống như nơi bạn phải đào bới nhiều mới có một chút xa xỉ.

Anh gọi một cốc uytx-ky Scotland và tập trung xem ti-vi phía trên quầy rượu. Nó đang chiếu kênh NASA và tàuAtlantis hiện trên màn hình. Nó chìm trong ánh sáng chói lòa và những làn hơi nước ma quái vây quanh nó. Chuyến đi của Emma vào không gian. Anh chằm chằm nhìn hình ảnh đó, nghĩ về hàng trăm mét dây chằng chịt trong thân tàu đó, vô số các thanh gạt và bộ phận truyền dữ liệu, đinh ốc, mối hàn và các vòng tròn hình chữ O. Hàng triệu thứ có thể bị trục trặc. Vấn đề khiến anh băn khoăn là có quá ít thứ bị trục trặc, những con người dù khiếm khuyết mức nào nhưng lại có thể thiết kế và chế tạo một công trình có độ an toàn lớn đến mức bảy con người sẵn sàng giam mình trong đó. Làm ơn hãy để lần phóng tàu này an toàn, anh nghĩ. Đó sẽ là một lần phóng mà mọi người thực hiện tốt công việc của mình, không một đinh ốc nào bị lỏng. Nó phải hoàn hảo vì Emma của tôi sẽ lên tàu.

Một phụ nữ ngồi xuống bên quầy rượu cạnh anh và nói.

- Tôi không biết giờ họ đang nghĩ gì.

Anh quay lại nhìn cô ta. Trong một thoáng chốc anh bị cuốn hút khi thoáng thấy bộ đùi cô ta. Trông cô ta lộng lẫy, tóc vàng óng ả. Cô ta sở hữu một trong những khuôn mặt dịu dàng đến hoàn hảo với những đường nét khiến người ta không thể quên sau một giờ chia tay.

- Cô nói ai? - Anh hỏi.

- Các phi hành gia. Tôi tự hỏi họ đang nghĩ gì. Ôi, chết tiệt, tôi dính vào cái quái gì thế này?

Anh nhún vai, uống một ngụm uytx-ky.

- Giờ họ chẳng nghĩ gì cả. Họ đã đi ngủ hết rồi.

- Tôi sẽ không ngủ nổi.

- Nhịp sinh học trong ngày của họ đã được điều chỉnh lại hoàn toàn. Có lẽ họ đã ngủ hai tiếng trước.

- Không, ý tôi là tôi sẽ không ngủ được tí nào. Tôi sẽ nằm thao thức và nghĩ ra những cách để thoát khỏi việc đó.

Anh cười.

- Tôi đảm bảo với cô nếu họ thức thì nhất định đó là vì họ không thể chờ đến lúc được leo lên bé bự đó và phóng lên.

Cô ta tò mò nhìn anh.

- Anh có tham gia vào chương trình đó đúng không?

- Trước đây thôi. Phi hành đoàn.

- Giờ thì không à?

Anh đưa cốc rượu lên môi và cảm thấy những viên đá va mạnh vào răng anh.

- Tôi đã về hưu.

Anh đặt chiếc cốc không xuống, đứng lên và thấy một thoáng thất vọng trong ánh mắt người phụ nữ. Anh cho mình chút thời gian để suy nghĩ về phần còn lại của buổi tối nay sẽ như thế nào nếu anh ở lại và tiếp tục cuộc nói chuyện. Một người đồng hành dễ chịu, một sự hứa hẹn sẽ có thêm nhiều điều tiếp theo.

Nhưng thay vào đó, anh trả tiền rượu rồi ra khỏi khách sạn Hilton.

Lúc nửa đêm, khi đứng trên bãi biển trong công viên Jetty, anh nhìn lướt trên mặt nước về phía bệ phóng 39B. Anh đã ở đây, anh nghĩ. Dù em không biết nhưng anh luôn ở bên em.

Anh ngồi xuống bãi cát, chờ bình minh.

Ngày 24 tháng 7

Houston

“Một khối khí áp cao trên Vịnh sẽ khiến trời trong xanh trên khắp mũi Canaveral nên việc đưa tên lửa trở lại bệ phóng sẽ thành công. Căn cứ không quân Edwards rải rác có mây nhưng dự kiến trời quang khi phóng tàu. Khu hạ cánh ở bờ kia Đại Tây Dương tại Zaragoza, Tây Ban Nha vẫn đang hoạt động và sẽ thành công. Tại Ben Guer, Morocco có những trận gió lớn và bão cát. Lúc này chưa có khu hạ cánh rõ ràng tại bờ kia Đại Tây Dương. ”

Những bản tóm tắt thời tiết đầu tiên trong ngày được phát đi cùng lúc tới mũi Canaveral mang lại những tin tức tốt lành và khiến trưởng điều hành bay Carpenter hài lòng. Việc phóng tên lửa vẫn thực hiện được. Những điều kiện hạ cánh không tốt tại cảng Ben Guer chỉ là vấn đề nhỏ vì hai khu vực hạ cánh bên bờ kia Đại Tây Dương ở Tây Ban Nha vẫn rõ nét. Dù sao thì đó cũng là biện pháp hỗ trợ trong trường hợp cần trợ giúp, những khu vực này sẽ chỉ cần đến trong trường hợp có hỏng hóc lớn.

Ông nhìn qua một lượt những người còn lại trong đội quân lên tàu để xem có vấn đề nào cần quan tâm nữa không. Sự căng thẳng thần kinh trong Phòng Điều hành bay hiện hữu rất rõ và ngày càng tăng như mọi lần trước khi phóng tàu khác. Đó là một điều tốt lành. Hôm nào họ không căng thẳng là hôm đó họ phạm sai lầm. Carpenter muốn những người trong đội mình luôn sẵn sàng, mọi dây thần kinh phải căng lên. Đó là một mức độ tỉnh táo mà giữa đêm cũng đòi hỏi phải có thêm một liều thuốc adrenalin.

Tâm trạng Carpenter cũng căng thẳng như những người khác mặc dù việc đếm ngược thời gian đã được lên lịch. Đội kiểm tra của trung tâm Kennedy đã hoàn thành công việc. Đội kiểm tra khí động lực học đã xác nhận thời gian phóng được tính bằng giây. Cùng lúc đó, những người làm nhiệm vụ phóng tàu cùng hướng về đồng hồ đếm ngược.

Tại mũi Canaveral, nơi tàu con thoi được lên lịch phóng, một bầu không khí căng thẳng không kém đang tăng lên trong căn phòng ngột ngạt tại Trung tâm Điều hành phóng tàu. Ngay khi động cơ phóng tên lửa được kích hoạt, Trung tâm nhiệm vụ của Houston sẽ gánh toàn bộ công việc còn lại. Mặc dù cách xa nhau một nghìn dặm nhưng hai phòng điều khiển tại Houston về Canaveral được liên kết chặt chẽ với nhau qua những phương tiện liên lạc như thể chúng thuộc cùng một tòa nhà.

Tại Trung tâm bay vũ trụ Marshall, Huntsville, Alabama, các đội nghiên cứu đang chờ cho những cuộc thử nghiệm của họ được phóng lên vũ trụ.

Cách mũi Canaveral một trăm sáu mươi dặm về phía bắc. - đông bắc, các tàu hải quân đợi ở biển để thu lại các động cơ đẩy tên lửa dạng rắn. Chúng sẽ tách khỏi tàu sau khi đã cháy hết.

Tại các khu vực hạ cánh trong trường hợp khẩn cấp và các trạm tìm kiếm trên khắp thế giới, từ NORAD tại Colorado đến sân bay quốc tế ở Banjul, Gambia, đàn ông và phụ nữ đều đang nhìn đồng hồ.

Vào thời điểm này, bảy người sắp trao sinh mạng họ vào tay chúng ta.

Carpenter giờ có thể nhìn thấy các phi hành gia trên màn hình ti-vi gần đó khi người ta giúp họ mặc quần áo để phóng tên lửa và lên tàu. Những hình ảnh đó được truyền trực tiếp từ Florida. Carpenter dừng một lúc để xem xét kỹ khuôn mặt của họ. Dù không ai trong số họ để lộ ra một chút sợ hãi nào nhưng ông biết nó hiện hữu trong họ, nó ẩn dưới vẻ bề ngoài vui vẻ của họ. Mạch họ đập loạn lên và những dây thần kinh căng ra. Họ biết những mối nguy hiểm nên họ lo sợ. Khi nhìn họ trên màn hình là một lời nhắc nhở nghiêm khắc với những người trên mặt đất rằng bảy người đó đang trông chờ hoàn toàn vào việc họ có làm tốt công việc của mình hay không.

Carpenter không nhìn màn hình nữa mà quay sang tập trung vào đội điều hành bay đang ngồi tại mười sáu bảng điều khiển. Dù biết tên họ rất rõ nhưng ông gọi từng người bằng các nhiệm vụ của họ trong chương trình, chức vụ của họ được rút ngắn lại thành các tín hiệu theo cách nói của NASA. Nhân viên hướng dẫn được gọi tắt là GDO. Người liên lạc với tàu không gian được gọi tắt là Capcom. Kỹ sư hệ thống đẩy được gọi là Prop. Nhân viên chịu trách nhiệm quản lý đường bay được gọi là Traj. Bác sĩ trên chuyến bay được gọi là Surgeon. Carpenter gọi tên họ một lượt.

Việc đếm ngược thời gian được trừ dần trong vòng ba tiếng. Nhiệm vụ của họ vẫn khả thi.

Carpenter đưa tay vào túi làm nhánh cây ba lá sột soạt. Đó là thói quen để lấy may của riêng ông. Ngay cả những kỹ sư cũng có những cách mê tín riêng.

Đừng để trục trặc gì xảy ra, ông nghĩ. Đừng xảy ra khi tôi đang quan sát.

Mũi Canaveral

Xe của Trung tâm vũ trụ đi từ tòa nhà Điều hành và kiểm tra đến khu bệ phóng 39B mất mười lăm phút. Chuyến đi im lặng đến kỳ lạ, không ai trong đoàn nói năng gì nhiều. Nửa giờ trước đó, trong khi mặc đồng phục, họ đã cười đùa hết mình theo kiểu khi đầu óc người ta chỉ có sự hứng khởi. Sự căng thẳng tăng lên từ lúc họ bị đánh thức lúc hai rưỡi để ăn bữa sáng truyền thống với thịt bò và trứng. Trong khi nghe bản tóm tắt thời tiết, mặc quần áo và làm một việc truyền thống trước khi phóng tàu là chơi bài để tìm ra tay chơi cừ nhất thì tất cả bọn họ đều rất ồn ào và vui vẻ. Tất cả các động cơ đều gầm một cách tự tin.

Giờ họ im lặng.

Chiếc xe dừng lại. Chenoweth, viên tân binh ngồi cạnh Emma lẩm bẩm.

- Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một cái tã lót vất đi cũng có thể là một thảm họa trong nghề của chúng ta.

Cô bật cười. Tất cả bọn họ đều đang đeo tã lót cho người lớn dưới lớp quần áo đồng phục dày cộp, vẫn còn ba tiếng dài dằng dặc nữa mới đến lúc cất cánh.

Các nhân viên kỹ thuật ở khu bệ phóng giúp Emma ra khỏi xe. Cô dừng lại một lúc trên bệ phóng, ngỡ ngàng nhìn con tàu ba mươi tầng đang rực sáng dưới những ánh đèn pha. Lần cuối cùng cô đến bệ phóng cách đây năm ngày. Khi đó, cô chỉ nghe thấy tiếng gió biển, tiếng chim chóc. Giờ con tàu đã sống lại, gầm gừ và nhả khói như một con rồng tỉnh giấc khi những chất nổ đẩy dễ bay hơi bị đốt nóng trong thùng nhiên liệu.

Họ đi thang máy lên tầng thứ một trăm chín mươi lăm và bước lên mặt sàn kêu cót két. Lúc đó vẫn là ban đêm nhưng bầu trời sáng rực lên bởi ánh đèn pha. Emma hầu như không thể thấy được những vì sao trên đầu. Vũ trụ đen kịt đang chờ cô.

Trong căn phòng khử trùng trắng toát, các kỹ thuật viên mặc những bộ đồ rất đồ sộ đến giúp các phi hành gia, từng người một đi qua cửa để vào tàu vũ trụ. Tổng chỉ huy và viên lái tàu ngồi vào chỗ trước. Emma được phân công ngồi ở khoang giữa nên là người cuối cùng được sắp chỗ. Cô ngồi vào ghế đệm, cài nút an toàn, đội mũ bảo hiểm và ra hiệu đã sẵn sàng.

Cửa đóng sập lại, ngăn cách phi hành đoàn với thế giới bên ngoài.

Emma nghe thấy tim mình đập mạnh. Mặc dù các mệnh lệnh kiểm tra nối từ vũ trụ với mặt đất đang vang lên trong máy bộ đàm của cô nhưng lẫn trong tiếng sôi ùng ục và gầm gừ của con tàu đang vận hành thì tiếng tim cô đập nghe như tiếng trống đều đặn. Khi ngồi ở khoang giữa, cô chẳng biết làm gì trong hai tiếng tiếp theo ngoài việc ngồi và suy nghĩ, những công việc kiểm tra trước khi bay sẽ được đội kiểm tra chuyến bay thực hiện. Cô không nhìn thấy bên ngoài. Cô chẳng có gì để nhìn ngoài khu vực xếp hàng hóa và khu thực phẩm.

Bên ngoài, bình minh sẽ sớm chiếu sáng bầu trời. Những con bồ nông sẽ lướt sóng trên bờ biển Playalinda.

Cô hít sâu và lại chờ đợi.

Jack ngồi trên bờ biển ngắm mặt trời lên.

Không chỉ có mình anh tại công viên Jetty. Những người đến ngắm cảnh đã tụ tập tại đây trước lúc nửa đêm. Những chiếc xe đang đi đến tạo thành một đường ánh đèn pha dài vô tận bò dọc theo Đường cao tốc Bee Line. Một số xe đang đi về phía bắc để tới đảo Merritt, Khu bảo tồn Động vật hoang dã. Còn những xe khác vẫn tiếp tục vượt qua sông Banana, tới thành phố có mũi Canaveral. Tầm nhìn từ một trong các địa điểm đó đều rất tốt. Đám đông quanh anh tràn đầy tinh thần ngày nghỉ. Họ mang theo khăn tắm biển và những giỏ picnic. Anh nghe thấy tiếng cười, tiếng loa đài rất to và tiếng nói oang oang của những đứa bé đang ngủ. Bị những người đi chơi vây quanh, anh là một vật thể im lặng, một người đàn ông cô đơn với những suy nghĩ và nỗi sợ của chính mình.

Khi mặt trời chiếu rõ đường chân trời, anh nhìn về phía bắc, về khu bệ phóng. Cô ấy giờ đã lên tàu, bị bó buộc và chờ đợi, hào hứng, hạnh phúc và có chút sợ hãi.

Anh nghe thấy một đứa bé nói.

- Đó là người xấu mẹ ạ.

Anh quay lại nhìn cô bé. Hai người nhìn nhau một lúc, một nàng công chúa nhỏ nhắn với mái tóc vàng nhìn một người đàn ông râu ria, luộm thuộm. Bà mẹ lôi cô con gái vào lòng và nhanh chóng đi đến một nơi an toàn hơn trên bờ biển.

Jack gượng gạo lắc đầu và lại quay về phía bắc, về phía Emma.

Houston

Phòng Điều hành bay đã có vẻ im lặng. Còn hai mươi phút nữa là phóng tàu. - đó là khoảng thời gian để xác nhận chuyến bay vẫn khả thi. Toàn bộ viên điều hành ở phòng gián tiếp đã kiểm tra xong hệ thống và giờ phòng điều khiển phía trước đã sẵn sàng thu lại các ý kiến.

Bằng một giọng bình tĩnh, Carpenter đọc qua các danh sách và yêu cầu từng điều khiển viên xác nhận lại bằng lời nói.

- Khí động lực? - Carpenter hỏi.

- Khí động lực đã xong. - viên điều khiển khí động lực chuyến bay trả lời.

- Hướng dẫn?

- Hướng dẫn đã xong.

- Bác sĩ?

- Bác sĩ xong.

- Xử lý dữ liệu?

- Xử lý dữ liệu xong.

Khi Carpenter đã gọi họ hết một lượt và nhận được lời xác nhận từ mọi bộ phận, ông nhanh chóng gật đầu về phía phòng điều hành bay.

- Houston xong chưa? - giám đốc điều khiển việc phóng tàu ở mũi Canaveral hỏi.

- Ban điều hành nhiệm vụ xong. - Carpenter xác nhận.

Lời nhắn truyền thống của giám đốc điều hành bay với phi hành đoàn trên tàu con thoi đều được mọi người tại Trung tâm làm nhiệm vụ bay Houston lắng nghe.

- Atlantis, các bạn đã sẵn sàng. Tất cả mọi người chúng tôi ở mũi Canaveral chúc các bạn may mắn và thành công.

- Trung tâm điều hành phóng, đây là tàu Atlantis. - họ nghe thấy chỉ huy Vance báo cáo. - Cảm ơn đã giúp chú chim này sẵn sàng cất cánh.

Mũi Canaveral

Emma đóng và khóa tấm kính che mặt, rồi bật nguồn cung cấp ô-xi. Còn hai phút nữa sẽ cất cánh. Bị bó buộc và tách biệt trong bộ quần áo của mình, cô không biết làm gì ngoài việc đếm từng giây trôi qua. Cô cảm thấy sức mạnh đập của động cơ chính đang chuẩn bị phóng lên.

Thời gian trừ đi ba mươi giây. Đường dẫn điện với trung tâm điều khiển dưới mặt đất giờ đã bị ngắt và các máy tính trên tàu bắt đầu điều khiển.

Tim cô đập nhanh hơn, chất kích thích bơm đi khắp các mạch máu. Khi nghe tiếng đếm ngược, cô biết từng giây trôi qua điều gì sẽ xảy ra. Cô có thể thấy trong tâm tưởng mình một chuỗi các sự kiện đang diễn ra bên ngoài.

Khi thời gian chỉ còn tám giây, hàng nghìn ga-lông nước được bơm dưới bệ phóng để át tiếng gầm động cơ.

Khi chỉ còn năm giây, các máy tính trên tàu mở các van và cho phép ô-xi dạng lỏng và hy-đrô đi vào các động cơ chính.

Cô cảm thấy con tàu rung chuyển sang hai bên khi ba động cơ chính được kích hoạt. Con tàu chống lại lực ma sát của các mối hàn đang gắn chặt nó với hệ thống.

Bốn. Ba. Hai… Đây là lúc không thể quay đầu lại được.

Cô nín thở, hai tay nắm chặt khi các động cơ đẩy tên lửa dạng rắn kích hoạt. Chuyển động của tên lửa rung đến tận xương, tiếng gầm của nó to và khó chịu đến mức cô không thể nghe thấy tiếng liên lạc trong tai phôn của mình. Cô phải cắn chặt hàm để răng không va vào nhau. Giờ cô cảm thấy con tàu cuốn vào hình cung định sẵn cho nó trên biển Đại Tây Dương. Cơ thể cô đẩy mạnh về phía sau ghế do lực đẩy ngày càng tăng. Chân cô nặng trĩu và hầu như không thể di chuyển được. Các xung động mạnh đến mức dường như con tàu sẽ chắc chắn bay mỗi nơi một mảnh. Họ đang ở điểm cực đại, điểm rung động mạnh nhất. Chỉ huy trưởng Vance thông báo rằng anh đang điều khiển van các động cơ chính. Trong vòng chưa đầy một phút, anh sẽ đẩy van lên mức cực đại.

Khi mỗi giây trôi qua và chiếc mũ bảo vệ lắc quanh đầu cô. Lực đẩy tên lửa như một bàn tay bạo lực ép chặt lên ngực cô khiến cô sợ hãi. Đây chính là điểm trong suốt thời gian phóng tàu mà tàu Challenger đã nổ tung.

Emma nhắm mắt và nhớ lại tình huống diễn tập tại Hazel cách đây hai tuần. Giờ họ đang ở gần thời điểm mà mọi việc trong tình huống diễn tập bắt đầu trục trặc. Đây là thời điểm họ đã buộc phải hủy việc đưa tàu trở lại bệ phóng và sau đó, Kittredge bị mất khả năng kiểm soát con tàu. Đây là một thời điểm quan trọng trong suốt quá trình phóng tàu. Cô không thể làm gì khác ngoài việc tựa lưng về phía sau và hy vọng rằng thực tế sẽ dễ chịu hơn những cuộc diễn tập.

Cô nghe thấy Vance nói qua điện đàm.

- Trung tâm, đây là tàu Atlantis. Đang mở van.

- Rõ, Atlantis. Mở van!

Jack đứng nhìn trân trân lên trời, tim anh đập loạn lên khi con tàu vút lên. Anh nghe thấy tiếng kêu răng rắc của các động cơ đẩy tên lửa khi chúng phụt ra hai cột lửa. Vệt khí thải ngày càng lên cao và lẫn vào đó là tàu con thoi trông như một chiếc đinh ghim. Xung quanh anh, đám đông đều hét to tán thưởng. Họ đều nghĩ đó là cuộc phóng đã thành công. Nhưng Jack biết rằng có rất nhiều thứ có thể bị hỏng hóc.

Đột nhiên anh như phát điên lên vì anh đã không chú ý trong những giây vừa qua. Bao nhiêu thời gian đã trôi qua rồi? Họ đã đi đến điểm cực đại Q chưa? Anh che mắt lại, tránh ánh nắng buổi sáng và cố nhìn tàu con thoi Atlantisnhưng không thể nhìn thấy bất cứ vệt khói nào.

Đám đông đã bắt đầu chui vào trong xe.

Anh vẫn đứng im, sợ hãi chờ đợi. Anh không thấy vụ nổ khủng khiếp nào. Không có khói đen. Không có cơn ác mộng.

Con tàu Atlantis đã rời trái đất an toàn và giờ đang bay vào vũ trụ.

Anh cảm thấy có nước mắt chảy trên má nhưng anh không buồn lau đi. Anh cứ để chúng chảy tiếp khi anh vẫn nhìn bầu trời, nhìn vệt khói đánh dấu sự hiện diện của vợ anh trên đó.

TRẠM KHÔNG GIAN.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.