Touch Of Enchantment

Chương 29



Tabitha tỉnh dậy thấy mình đang khóc, cảm giác mất mát của cô mãnh liệt đến mức cô ước mình chết đi.

Nhưng vẫn như trước đây, ước nguyện ruồng rẫy cô, không để lại cho cô lựa chọn nào hơn là duỗi thẳng người khỏi tư thế cuộn tròn như con tôm, phủi cỏ ra khỏi tóc, và chầm chậm ngồi lên.

Cô đang ngồi giữa sàn phòng khách của mình, vẫn đang mặc một bộ váy thời trung cổ nhàu nhĩ dính cỏ dại. Mỗi lần cô cử động, những mẩu kính an toàn đã từng một thời là màn hình vi tính của cô lung lay trong tấm thảm trải sàn. Ổ cứng vẫn đang nằm trên bàn làm việc phía trên, những vi mạch bên trong có thể nhìn thấy được qua một cái lỗ toang hoắc ngay giữa bụng.

Trái tim cô gần ngừng đập khi cô hít phải một luồng khí thở của con rồng. Rồi cô nhận ra đó chỉ là mùi hăng hắc của nhựa chảy và mạng điện bị cháy sém. Khói đang phun ra thành những vòng xoắn nhỏ từ miếng đệm phân tích nơi cô từng đặt bùa hộ mệnh.

Mọi thứ vẫn như lúc cô biến mất. Chén ăn kem của cô vẫn nằm trên sàn nhà gần cửa sổ. Tập hồ sơ đựng đĩa video của mẹ cô được đặt trên bàn uống cà phê. Thậm chí tuyết vẫn tiếp tục rơi trên mặt cửa sổ, vẻ đẹp thanh bình của nó là một lời gợi nhắc giễu cợt rằng mùa đồng vẫn ôm lấy toàn thành phố trong gọng kiềm tàn nhẫn.

Làm sao cả thế giới vẫn có thể trông như cũ trong khi mọi thứ đã thay đổi mãi mãi?

Không có ai nhận biết sự vắng mặt của cô. Thậm chí còn không có ai nhận ra cô đã biến mất. Bởi vì bùa hộ mệnh đã đưa cô trở lại ngay cái khoảnh khắc khi cô rời nơi này. Nếu không có sự trống trải trong vòng tay cô và trái tim nhức nhối bơ vơ, mọi chuyện có lẽ đã có cảm giác như nó chưa bao giờ xảy ra. Như thể Ngài Colin vùng Ravenshaw chưa từng tồn tại chỉ trừ trong trí tưởng tượng xót xa của cô.

Lucy trèo vào lòng cô, đòi cô phải để tâm. Tabitha ôm con mèo lên và vùi mũi cô vào bộ lông mượt. Con mèo con có mùi của đất đai phì nhiêu và cỏ tươi và những bông hoa dại. Tabitha đung đưa tới lui, hít vào những hương thơm của mùa hạ như thể cô có thể đóng gói chúng vào trong phổi cô và thưởng thức chúng mãi.

Khi một cái máy vận hành ầm ĩ, cô phải mất một lúc ngơ ngác mới nhận ra đó là tiếng chuông reo báo thang máy đã tới nơi. Bộ sofa che khuất tầm nhìn của cô, nhưng người đang bước ra đã bắt đầu nói trước cả khi cánh cửa đóng lại.

“—cực kỳ xin lỗi, con gái cưng. Mẹ không hề biết Chú Cop của con lại đi làm con sợ đến chết khiếp. Mẹ hy vọng con không phiền vì Sven đã đưa cho cha mẹ chìa khóa thang máy. Ngay khi cha mẹ rời khỏi máy bay và Cop kể lại chú ấy đã làm gì, cha mẹ đã vội đến ngay. Nếu cha mẹ biết trước việc dừng lại thêm nhiên liệu ngoài kế hoạch ở Tam Giác Quỷ Bermuda sẽ gây ra chuyện náo động đến thế thì cha mẹ đã không làm rồi. Mẹ hy vọng con không nghĩ là—“

“Mama?” Hoàn toàn ngơ ngác, Tabitha chớp mắt nhìn lên người phụ nữ tóc nâu nhỏ nhắn vừa mới đi quanh góc sofa. Bà mang đôi sandal, một cái xà rong hoa hòe và cặp kính mát.

Người đàn ông đi cùng bà mặc một cái áo khoác len hiệu Burberry với cổ áo lật ngược lên. Hai vai rộng của ông phủ đầy tuyết và hai vạt tóc bạc ở thái dương chỉ càng khiến ông trông thu hút hơn cô nhớ. Ông trông thật vững vàng, sinh động, và tràn đầy sức sống.

Ông chớp mắt nhìn xuống cô bằng đôi mắt xám khói như mắt cô. “Lạy Chúa, bé cưng, chuyện gì đã xảy ra với con vậy?” Khuôn mặt Tabitha nhăn nhúm lại khi cô thì thầm, “Daddy?” Rồi cô làm một điều mà cô đã chẳng còn làm từ lâu. Cô khóc trong vòng tay mẹ trong khi cha vuốt ve tóc cô.

Đến cuối cùng cô kể cho họ nghe mọi chuyện.

Vì đã có kinh nghiệm với tấm bùa, họ không còn cách nào khác là phải tin cô. Mẹ cô nhận được một cái quắc mắt giận dữ và một câu nói nghiêm khắc “Anh đã nói với em rồi còn gì” từ Tristan vì đã giấu bùa hộ mệnh trong đầu vòi tắm suốt mấy năm qua, nhưng như Tabitha đã đoán được từ trước, ông không thể tức tối Arian hơn vài phút.

Họ ngồi túm tụm trên ghế sofa cho đến khi tuyết ngừng rơi và bình minh tô lên nền trời một màu hồng sáng như khảm xà cừ. Cha cô choàng một cái chăn quanh cô, nhưng cô không thể ngừng run rẩy cho đến khi ông vụng về choàng một cánh tay qua vai cô và ôm cô vào bên người ông. Mẹ cô ngồi phía bên kia, ấn hết cốc sữa này đến cốc sữa khác vào tay cô cho đến khi cơn buồn ngủ bắt đầu lấp đi nỗi thống khổ.

Và trong suốt lúc đó cô vẫn cứ nói. Tabitha ngờ cô đã nói với cha mẹ mình nhiều đến thế trong suốt cả cuộc đời cô, nhưng tất cả cứ đổ tràn ra—cuộc gặp gỡ tai hại đầu tiên của cô với Colin; nụ cười toe thích chí của anh khi anh nếm món Big Mac; lòng nhân từ của anh khi anh bất chấp sự mê tín và luật pháp để giải thoát cô khỏi cái cọc thiêu.

Cô vẽ lên những bức tranh bằng ngôn từ cho đến khi họ có thể thấy và nghe những người cô kể rõ rệt như cô thấy—Già Nana, khuôn mặt bè của bà gọn lại trong một nụ cười; cô bé Jenny đáng yêu với cái mũi như yêu tinh và những lọn tóc bị cắt cụt; Arjon với tính châm biếm dí dỏm và sự ưa thích anh ta dành cho một khuôn mặt xinh xắn; Cô gái Lyssandra xinh đẹp; người cuối cùng đã giành được trái tim hay thay đổi của anh ta. Cô nói với họ về mọi thứ trừ khoái cảm đến choáng váng mà cô và Colin đã khám phá trong vòng tay nhau và khoảnh khắc kinh khủng cuối cùng mà cô không thể mường tượng nổi. Có lẽ nếu cô không bao giờ nói những lời đó thành tiếng thì chúng sẽ không trở thành sự thật.

Khi cô kể xong, họ ngồi trong im lặng một lúc lâu trước khi Tabitha quay sang mẹ cô. “Mama, làm ơn đi, mẹ phải giúp con quay lại. Con biết anh ấy sẽ chờ con. Chỉ cần con tìm được một cách để quay lại…”

Arian buồn bã lắc đầu. “Mẹ xin lỗi, con yêu, nhưng đi xuyên dòng thời gian mà không có bùa hộ mệnh vượt xa khả năng của mẹ. Và của con nữa,” bà dịu dàng nói thêm.

Tabitha chuyển ánh mắt hoảng loạn của cô sang cha. “Cha có thể làm được chuyện đó, phải không Daddy? Cha là người đã thiết kế tấm bùa nhiều năm trước. Tất cả những gì cha cần làm là tạo ra một cái khác. Con biết cha có thể nhớ rõ các sự vật mà chỉ cần nhìn thấy chúng một lần. Dù cho cha có phá hủy nó đi chăng nữa cha vẫn nhớ được cách tái tạo nó mà.”

Tristan bồi rối nhìn sang Arian trước khi bọc hai bàn tay Tabitha trong tay ông. “Và mạo hiểm để cho nó rơi vào tay của một kẻ gian ác khác như tên Brisbane này sao? Có phải đó là điều Colin của con muốn không?”

Tabitha cúi đầu. “Không ạ,” cuối cùng cô nói nhẹ nhàng. “Anh ấy sẽ không hề muốn chuyện đó.”

Cô rút hai bàn tay lại và đứng lên. “Cám ơn cha mẹ đã ghé thăm,” cô nói, giọng cô thất thần đến mức cha mẹ cô trao đổi một cái nhìn đau đớn khác. “Con nghĩ con sẽ xin nghỉ phép nếu hai người không phiền.”

Trong khi Tabitha lủi thủi về phòng ngủ, tấm chăn kéo lê trên sàn sau lưng cô, Arian nhìn chồng bà van nài, đôi mắt long lanh. “Ôi, anh yêu, chúng ta sẽ làm gì đây? Con lúc nào cũng là một cô gái độc lập. Em chưa từng nghĩ nó sẽ cần đến chúng ta.”

Tristan kéo bà lại gần, hôn phớt lên tóc bà để bà không thấy ánh sáng suy tính trong mắt ông. “Giờ con bé cần chúng ta. Và anh đã quyết tâm sẽ ở bên con.”

Tabitha xin nghỉ phép vì bệnh trong năm tuần.

Cô giành hầu hết thời gian nằm ườn trên ghế sofa trong bộ pajama, xem những chương trình biểu diễn opera và các trò chơi truyền hình, hiếm khi cử động, hiếm khi nghĩ ngợi, và không bao giờ khóc. Cô còn giành hàng giờ ngồi xếp bằng trên bậu cửa sổ với Lucy nằm trong lòng cô, ngây người nhìn xuống một thế giới đầy rẫy những người xa lạ bằng đôi mắt ráo hoảnh. Ngày và đêm bắt đầu hòa vào nhau thành một màn sương không hình dạng, chỉ bị phá vỡ bởi những cuộc viếng thăm hàng ngày của cha mẹ cô. Họ đến đem theo những chén đựng súp gà và những món ăn cô ưa thích. Tủ lạnh cô nhanh chóng đầy những món ngon chưa được đụng đến.

Sau bốn tuần rưỡi, họ không thể giấu sự lo lắng đằng sau những nụ cười can đảm và sự vui vẻ vờ vĩnh được nữa. Sợ rằng cô đã mắc bệnh đậu mùa hay bệnh dịch hay một loại bệnh không biểu hiện ra bên ngoài từ chuyến du hành về thời Trung Cổ, cha cô đã khăng khăng cô phải đến bác sĩ.

Tabitha nói với ông rằng cô không cần một bác sĩ.

Cô không bệnh.

Cô đang chết dần chết mòn.

Mặc dù cơ thể cô đã được chuyển lại nguyên vẹn tại nơi tấm bùa nghĩ cô thuộc về, nó chẳng là gì hơn một cái vỏ trống rỗng. Cô đã để trái tim lại đồng cỏ đầy nắng đó cùng với Colin.

Cha cô cuối cùng cũng tức giận và hét lên rằng đã đến lúc cô ngừng mơ mộng về một người cô không thể có được, nhưng cô đã thấy sự sợ hãi trong mắt ông và cô lấy làm tiếc vì đã gây ra điều đó. Nhưng không đủ hối lỗi để ăn bánh hamburger Big Mac trong cái bao giấy nhàu mà ông đem tới.

Chiều hôm đó cô đang nằm trên ghế nệm dài và nhìn vô cảm vào chiếc tivi thì mẹ cô vùng vằng ra khỏi thang máy, giật phắt cái remote lên, và bấm nút tắt.

Trước khi Tabitha có thể thì thào một lời phản đối, Arina đã dậm bàn chân nhỏ của bà, khiến cô nhớ đến Lyssandra, và rống to, “Cha con đến nhà hàng McDonald vì con! Con có hiểu việc đó khó khăn với ông ấy như thế nào không? Ông ấy chưa bao giờ đặt chân vào một nhà hàng dưới bốn sao.” Mẹ cô đi loanh quanh theo chiều dài của cái bàn uống cà phê, rồi quay ngoắt lại để chỉ một ngón tay vào cô. “Ông ấy đã có thể cử Chú Sven của con hay một nhân viên an ninh đi thay, nhưng không! Ông ấy phải tự đi đến đó. Ông ấy phải chắc chắn rằng con gái cưng của mình có được bánh mì vừng nướng mới ra lò và củ cải ngâm chua tươi nhất trong cả hệ thống nhà hàng. Sao chứ, ông ấy gần như làm viên quản lý tội nghiệp phải khóc!”

Tabitha không thể giải thích tại sao, nhưng mắt cô bắt đầu ngấn nước. Khi Arian quẳng một bao giấy nhàu nhĩ về phía cô, cô ngạc nhiên đến mức chụp lấy nó.

“Con đã nói với Daddy là con không đói mà,” cô thì thầm yếu ớt.

“Mở nó ra,” Arian ra lệnh.

Tabitha làm theo, và nhìn sững vào những thứ bên trong. Đó là một bộ thử thai tại nhà, loại dụng cụ mà ta có thể mua tại quầy thu ngân của bất cứ cửa hàng dược phẩm nào. Cô chưa bao giờ nghĩ mẹ của cô lại biết về những thứ này. Dù gì thì Arian cũng được sinh ra vào năm 1669 khi những thứ như thế này còn chưa tồn tại.

“Con có thể khiến cha con tin đó chỉ là hậu quả của cuộc phiêu lưu nhỏ của con, nhưng mẹ biết biểu hiện trong mắt con. Mẹ đã thấy chúng quá thường xuyên trong mắt mẹ rồi.” Arian hất đầu về phía phòng tắm. “Đi đi.”

Không để bản thân hy vọng, Tabitha nghe theo. Khi cô đi ngang qua cái gương trong phòng tắm, hình ảnh phản chiếu của cô đập vào mắt cô lần đầu tiên kể từ khi cô quay trở về từ quá khứ. Cô không thể không nhìn chằm chặp. Người phụ nữ đang nhìn lại cô là một kẻ xa lạ ốm o với hai má hóp lại và những vòng tròn đen quanh mắt. Tabitha cảm thấy một nỗi hổ thẹn lóe lên. Người phụ nữ trong gương trông không giống gì với người phụ nữ mà Colin yêu.

Khi Tabitha bước ra từ phòng tắm, Arian đang ngồi trên ghế sofa, vuốt ve con mèo con trong lòng bà. Bà quan sát con gái thận trọng, nhưng cả hai không ai nói lời nào.

Tabitha chỉ đi đến tủ lạnh, lục ra một cái bao McDonald nhăn nhúm, và bắt đầu tọng những miếng Big Mac vào miệng thật nhanh hết mức có thể. Cô ăn như thể cô đang chết đói, như thể cô đã không ăn trong suốt nhiều năm và sẽ không còn cơ hội được ăn lần nữa. Khi cô kết thúc cái bánh mì kẹp, thậm chí còn liếm sạch nước xốt còn dính vào những ngón tay, Arian đưa cô một cái bánh phết kem chuối và một cái muỗng, cười toe trong khi mắt long lanh nước.

Tabitha đi bác sĩ ngay ngày hôm sau.

Cha cô đã vờ thất vọng khi phương pháp y học thế kỷ 21 xác định cô không mang bệnh dịch hay đậu mùa, mà một cậu bé trai. Mặc dù Tristan cằn nhằn và quát tháo ầm ĩ vì một tên Scot vô-công-rồi-nghề đã làm con gái nhỏ của ông có thai, ông đã đến F.A.O. Schwarz ngay chiều đó và mua một con hươu cao cổ nhồi bông to đến mức họ phải gấp nó lại mới đem được vào thang máy.

Tabitha vẫn không ngủ ngon, nhưng giờ lúc cô nằm trong bóng tối, nhức nhối vì cô đơn trống trải, cô sẽ khép hai bàn tay trên bụng và thì thầm với con cô. Cô kể với đứa bé những câu chuyện về cha nó—một hiệp sĩ chân chính và quả cảm luôn luôn chiến đầu vì lẽ phải và đã từng diệt một con rồng để giành lấy trái tim nàng tiểu thư xinh đẹp của anh.

Cô trở lại làm việc tuần sau đó. Thật đáng ngạc nhiên vì cô trở lại với những công việc hàng ngày rất dễ dàng, tiến độ làm việc khiến sự cô đơn đang gặm nhấm tâm hồn cô tê liệt đi. Cô chỉ có một khoảnh khắc tồi tệ vào ngày đầu trở lại làm việc, khi cô đang đi đưa một bản báo cáo trễ hạn đến Bộ Phận Thanh Toán.

Một người đàn ông tóc đen đang thong thả bước xuống hành lang trải thảm đằng trước cô, dáng đi tròng trành của anh ta chỉ biểu lộ chút vẻ huênh hoang. Cô loạng choạng đi theo anh ta trên đôi giày cao gót và trái tim bắt đầu lỡ nhịp.

“Này anh,” cô hô to, không thể giữ cho âm thanh van nài chệch khỏi giọng cô. “Chờ đã, xin chờ đã.”

Nhưng khi anh ta quay lại, đôi mắt anh ta có màu nâu đất ảm đạm chứ không phải màu nắng. Anh ta ngơ ngác nhìn cô. “Vâng? Tôi có thể giúp gì cô?”

Cô rụt lại vài bước, thất vọng nuốt xuống một nỗi nghẹn ngào chua xót. “Tôi đã nghĩ anh là người khác. Xin lỗi, anh…?”

Anh ta đưa một bàn tay ra. “Ruggles. George Ruggles.”

Trước đây Tabitha có thể sẽ nghĩ khuôn mặt ôn tồn, mái tóc được cắt tỉa gọng gàng, và nụ cười thân thiện của anh ta là đẹp trai, nhưng giờ cô thích những người đàn ông ít nhất một ngày không cạo râu và mái tóc trông như đã chẳng được chải trong suốt một tuần lễ, dù nó đã được chải.

Cuối tuần là những thời khắc khó khắn nhất đối với cô và một buổi sáng Thứ Bảy nọ vào đầu xuân, cô thấy mình đứng trên những bậc cửa của Thư Viện New York mà không hề biết làm thế nào cô lại đến được đó. Hai con sư tử bằng đá đặt ở hai bên lối vào bị đồn là thần bảo vệ sự thật, nhưng cô e sợ nét mặt cao quý và cứng rắn của chúng có thể khám phá ra nhiều điều hơn những gì cô có thể chịu đựng.

Nhưng khi cô chạm một bàn tay lên bụng, cô biết cô nợ đứa con cô đang mang không chỉ là những câu chuyện cổ tích.

Cô có thể tìm thấy những thông tin cô cần trên mạng, nhưng cô lúc nào cũng thích Căn Phòng Đọc rộng lớn với ánh nắng rọi vào và những cái đèn bằng đồng. Sau khi cô yêu cầu, cô ngồi vào một cái bàn và kiên nhẫn chờ đợi, hy vọng bộ phận phục vụ sẽ làm việc không có hiệu quả như cô còn nhớ. Nhưng một phụ nữ tóc vàng đã nhanh chóng xuất hiện cùng với những cuốn sách cô đã lựa.

Khi Tabitha lật dở qua những trang sách in dày, hai bàn tay cô bắt đầu run lẩy bẩy. Cô thậm chí còn không biết tại sao chuyện Colin có chết vào buổi sáng nắng đẹp trên đồng cỏ đó hay không lại quan trọng. Rốt cuộc thì dù anh có còn sống hay đã chết vào lúc đó, anh cũng đã chết hơn bảy trăm năm rồi. Thậm chí xương cốt của anh giờ cũng chỉ là cát bụi.

Nhưng cô vẫn cứ lần tìm qua những sơ đồ phả hệ, khám phá ra họ Ravenshaw ngày nay đã trở thành Renshaw, chầm chậm lần theo sự phát triển của nó ngược lại nhiều thế kỷ cho đến khi cô tìm thấy ghi chú mà cô đang tìm.

Một giọt nước mắt rơi trên trang giấy khi cô vuốt ngón tay lên tên anh. Có vẻ Ngài Colin vùng Ravenshaw, người con trai đời thứ bảy nhận lấy chức danh gia tộc này, đã sống tới tuổi bách niên giai lão là tám mươi bảy. Mặc cho tuổi thọ hiếm có của anh, anh chỉ kết hôn một lần. Vợ anh không được viết tên ở đây, nhưng cô đã sinh cho anh ba cậu con trai và hai cô con gái, tất cả đều rất khỏe mạnh và sống lâu so với những đứa trẻ cùng thời đại. Tình yêu của họ đã sản sinh ra một triều đại gia tộc còn tiếp diễn qua nhiều trang nữa, kéo dài đến tận ngày nay.

Những giọt nước mắt của Tabitha giờ rơi lã chã. Cô bịt một bàn tay run rẩy lên miệng, niềm vui khi biết Colin đã vượt qua cú tấn công của Brisbane không được trọn vẹn vì nỗi ghen tị cay đắng với người phụ nữ không rõ mặt, không rõ tên đã sống cùng anh, chia sẻ tình yêu của anh, và giường anh hơn năm mươi năm.

Người phụ nữ tóc vàng đã mang sách đến cho cô xuất hiện bên cạnh vai cô. “Thưa cô, cô ổn chứ?”

“Tôi không nghĩ thế,” cô thì thầm trước khi giật cái bóp lên và bỏ chạy trước cái nhìn khó hiểu của người phụ nữ.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.