Vân Khuynh Thiên Khuyết

Quyển 2 - Chương 59



Hôm sau, nắng sớm mùa hè phá tan tầng mây, chiếu vào lớp sương mù trắng ngà bên trong sơn cốc, qua làn hơi nước, cảnh vật khô nóng cũng dịu mát hơn, còn sinh ra vài phần kì ảo.

Ánh nắng rực rỡ, Khánh Nhiễm đã dùng xong tảo thiện, lúc bước ra cửa, lại thấy Lận Kì Mặc chưa ra khỏi phòng, nàng không khỏi có chút kinh ngạc, đi tới gian phòng nằm ở phía đông của hắn.

Cửa phòng mở rộng, lúc này, Lận Kì Mặc đang khoanh tay đứng giữa phòng. Hắn vẫn mặc bạch sam như lúc trước, làn gió mát mẻ thổi qua cửa sổ, làm một góc trường bào của hắn bay lên, rồi đột ngột hạ xuống. Hắn đứng một mình giữa đại sảnh rộng lớn, áo quần đơn bạc, yên tĩnh mà lạnh nhạt, không hiểu sao Khánh Nhiễm lại cảm thấy bóng lưng ấy thật cô độc.

Hắn vẫn ngẩn người nhìn bức tranh hoa mai treo trên sảnh, dường như không phát hiện nàng đã đến. Khánh Nhiễm rất ít khi thấy hắn trầm tĩnh như vậy, nàng không khỏi kinh ngạc nhìn bức tranh hoa mai kia, mắt chợt lóe lên, cảm thấy giật mình.

Bức tranh hoa mai kia và bức Thạch Mai đồ trong thư phòng Trình Anh có bút pháp rất giống nhau, dường như là cùng một tác giả. Tầm mắt nàng rơi vào phần đề từ của bức tranh, trên con dấu vuông màu đỏ hiện lên bốn chữ 'Mai hoa ốc chủ', đây đúng là tác phẩm của Tịnh Biên hầu tiền triều - Lận Khiếu.

Không hiểu sao trong lòng Khánh Nhiễm chợt thấy căng thẳng, còn có một cảm giác rất phức tạp, vừa chua vừa chát. Hai tay của Lận Kì Mặc bỗng nhiên nâng lên, nhìn về phía bức tranh kia lạy ba lạy, mắt Khánh Nhiễm rũ xuống, than khẽ một tiếng, nàng đang muốn xoay người rời đi, tiếng thở dài đơn độc lại chợt vang lên trong phòng.

“Hôm nay là ngày giỗ của cha ta.”

Bước chân của Khánh Nhiễm khựng lại, nàng xoay người, đúng lúc này, Lận Kì Mặc cũng quay đầu lại, ánh mắt hai người chạm nhau, Khánh Nhiễm thấy gương mặt phong lưu của thiếu niên giờ phút này lại thật yên tĩnh, cho dù kiên cường, nhưng vẫn không dấu được sự ảm đạm và đau xót ẩn sâu trên khuôn mặt.

Tim nàng chợt quặn lại, ánh mắt dịu dàng nhìn gương mặt hắn, nàng khẽ mỉm cười tiến lên, đứng trước bức tranh hoa mai kia lạy ba lạy, trong lòng có một cảm giác phức tạp đột ngột dâng lên.

Uy danh của thiếu soái Lân quốc Lận Kì Mặc truyền khắp ngũ quốc, thân thế của hắn cũng theo đó truyền tụng khắp nơi, tất nhiên Khánh Nhiễm cũng từng được nghe. Nàng đã sớm biết Lận Kì Mặc chính là chi tử của Tịnh Biên hầu tiền triều, cũng biết năm đó Nhạn thành bị Yến quốc công phá, Tịnh Biên hầu tử trận trước cổng thành, đạt danh trung nghĩa một đời.

Bởi vì Tịnh Biên hầu thà chết chống cự, Yến Quốc Nhân rất tức giận, lúc ấy Nhạn thành vị công phá, Lịch Vương tự ải, Yến vương giận dữ, đồ sát Tịnh Biên hầu phủ, hơn hai trăm ba mươi gia quyến và nô bộc trong phủ bị huyết trảm trước cổng thành. Chỉ có người con thứ tư của Tịnh Biên hầu, cũng chính là Lận Kì Mặc, nhờ thuộc hạ bảo vệ mà thoát được một mạng, đến Lân quốc nương nhờ thúc phụ đã rời khỏi nhà từ thời niên thiếu.

Sau này, lại nghe tin con gái thứ của Tịnh Biên hầu chính là Nguyệt phi nương nương của Chiến quốc, lúc Nhạn thành bị công phá, nàng đã trốn thoát trong cảnh náo loạn, nhưng lại thất lạc người thân, cuối cùng lưu lạc đến Chiến quốc, tiến cung làm cung nữ, sau được Chiến Anh Đế nhìn trúng phong làm nương nương.

Tuy những chuyện này Khánh Nhiễm đã nghe qua, nhưng không hiểu vì sao, nàng lại chưa từng đem nó và nam tử trước mắt liên hệ cùng một chỗ, có lẽ do cách xử sự của hắn quá bất cần, quá vô tâm vô phế, làm người khác cảm thấy hắn vĩnh viễn vui vẻ, không có đau thương.

Nhưng giờ phút này, khi hắn dùng giọng nói ảm đạm nói cho nàng biết, hôm nay là ngày giỗ của cha hắn, nàng mới sâu sắc cảm nhận được, hóa ra nam tử có dáng vẻ phong lưu này, nam tử làm như không có gì vướn bận này, cũng biết đau buồn, cũng có tổn thương. Nghĩ đến thân thế của mình, nghĩ đến cảnh không nơi nương tựa của mình mười mấy năm qua, nàng đột nhiên cảm thấy có chút gần gũi và xúc động.

Thấy Khánh Nhiễm cung kính lạy ba lạy với bức tranh kia, Lận Kì Mặc ngẩn ra, mãi đến khi nàng nâng mắt nhìn sang, hắn mới cười yếu ớt nói.

“Cám ơn.”

Khánh Nhiễm nhìn hắn, phát hiện ánh mắt hắn lúc này rất ảm đạm, hiện lên sự đau thương khó tả, đáy mắt là một dãy băng cô tịch, sâu không thấy đáy, tầng sương mù nhàn nhạt trong mắt tựa như đám mây trôi lơ lửng trên bầu trời sao, làm thiên địa cũng mất đi màu sắc, nó mang theo thủy triều lạnh giá, chạy dọc theo huyết mạch của nàng, cuốn lấy nỗi đau thầm lặng nhất trong lòng.

Đau vì chính mình, hay là đau vì hắn, lúc này nàng đã không phân biệt được nữa. Lận Kì Mặc nhìn nàng chăm chú, trong con ngươi trong suốt của nàng tràn đầy tình cảm ấm áp, làm người ta bị hút sâu vào, rồi chìm đắm trong đó, dường như chỉ cần nàng liếc mắt một cái, cũng có thể làm tan đi cảm giác chua sót trong đáy lòng.

“Hai vị tướng quân, lão gia đã ở Tư viện đợi hai vị.”

Một giọng nói thanh thúy bỗng cắt ngang tầm mắt của hai người, hai người chợt hồi phục tinh thần. Khánh Nhiễm không hiểu sao hai gò má lại nóng lên, vội vàng xoay người.

“Phiền cô nương dẫn đường.”

Nàng nói xong, không nhìn chiếc bóng trắng trong trẻo kia, đã vội cất bước rời khỏi phòng.

Lận Kì Mặc nhìn thân ảnh gấp gáp của nàng, ngẩn ra một chút rồi chợt cười, hắn quay đầu nhìn bức tranh kia một cái, cầm ống trúc đặt trên bàn sãi bước đuổi theo.

Khánh Nhiễm và Lận Kì Mặc theo thị nữ tới Tư viện, sau khi vòng qua hai hành lang, hai người được dẫn đến một hoa viên nhỏ. Hoa viên không lớn nhưng rất tinh xảo, non bộ giả sơn, những khe suối nhỏ chảy ra từ mỏm đá, chim chóc hót véo von dưới ánh Mặt Trời, làm người ta cảm thấy rất vui vẻ. Rõ ràng, Lục Nguyên Hạ là một lão giả rất biết tận hưởng cuộc sống, không hề giống một võ tướng tầm thường.

Hai người vòng qua một hòn núi giả, ngay lập tức tầm nhìn liền rộng mở, một bãi cỏ xanh mơn mởn kéo dài trùng điệp bên kia hồ nước trong vắt, bên hồ có một thân ảnh màu xám đang ngồi. Ánh Mặt Trời xuyên qua nhánh cây đa rộng lớn cạnh bờ hồ, chiếu vào người lão giả, làm thân ảnh kia hiện lên vài phần cô tịch.

Khánh Nhiễm và Lận Kì Mặc liếc nhìn nhau, bước trên mặt cỏ mềm mại đi về phía hồ nước, lão giả vẫn chưa ngẩng đầu, ông ngồi trên ghế trúc, tay cầm cần câu, giống như đang nhắm mắt ngủ, lại giống như đang hưởng thụ làn gió mát thổi qua mặt hồ.

Khi hai người đã tới bờ hồ, Lận Kì Mặc khom người chào: “Tiểu chất Lận Kì Mặc bái kiến Lục thế bá.”

Lão giả nghe vậy, cao giọng cười, mở mắt ra đứng dậy, hai mắt ông cong cong, nhìn Lận Kì Mặc từ trên xuống dưới.

“Tốt, tốt! Bá phụ ở sơn cốc âm u này cũng không ít lần nghe được uy danh của Lận thiếu soái, nay nhìn thấy hiền chất, quả thật là thiếu niên anh hùng, dáng vẻ đường đường.”

Khánh Nhiễm nhìn lão giả đang cười sang sảng trước mắt, tóc mai hai bên tai ngã màu hoa râm, gò má gầy gầy, đường nét rõ ràng, phảng phất mang theo vết tích của những năm tháng gian khổ, đôi mắt ông sáng ngời, rất dồi dào sức sống, dáng người vững chãi như một tòa núi, cũng có một sự kiêu ngạo không thể hiện mà tự bộc lộ, làm người khác cảm thấy ngưỡng mộ.

“Bá phụ quá lời, làm Mặc cảm thấy thật hổ thẹn. Nhớ năm đó bá phụ vượt Kì Sơn đến Giang Châu, ở Nộ Mã trảm Chương Hùng, sau ở Duyên Sơn giết chết Mã Ngụ, ở Hà Đạo đánh cho đại quân Yến quốc tháo chạy tan tác, trong chiến dịch Miễn Châu còn công phá Đồng thành, trảm đầu tướng địch của Yến quốc. Những chiến dịch đó không phải đều chấn động tâm can sao? Đó mới là anh kiệt thật sự! Vãn bối như con đã ngưỡng mộ từ lâu.” Lận Kì Mặc mỉm cười nói.

Lục Nguyên Hạ cười ha ha, vỗ mạnh vào vai Lận Kì Mặc, cười nói: “Già rồi, già rồi... Bây giờ câu một con cá cũng ngủ được, thật làm người ta chê cười. Hảo hán không bàn tới cái dũng năm đó, giờ là lúc thanh niên trẻ tuổi các ngươi nắm thiên hạ, quả thật lão phu muốn không già cũng không được, nay ta chỉ mong có thể ở đây an hưởng tuổi già, không bàn đến chuyện trung dũng ngày xưa nữa.”

Khánh Nhiễm lại bỗng nhiên tiếp lời: “Suy nghĩ của lão tướng quân không ở chuyện câu cá, mà thứ ngài quan sát là những chú cá tranh mồi dưới mặt hồ, câu cá cần ngưng thần nén thở, nhưng tâm lão tướng quân không ở nơi này, mở mắt hay nhắm mắt, chỉ cần suy nghĩ trong lòng rộng mở, thì có gì phải bận tâm? Cho nên, lão tướng quân một chút cũng không già.”

Lục Nguyên Hạ ngẩn ra, nhìn về phía Khánh Nhiễm, ánh mắt có vẻ uy nghiêm và cơ trí, cũng có vẻ tang thương và lãnh khốc, nửa ngày ông cao giọng cười, nhìn Lận Kì Mặc nói.

“Vị này có lẽ là thiếu niên Tinh quốc đã dùng Bát Trân trận pháp khiến Nỗ Vương nếm mùi thất bại phải không, Dịch Thanh?”

Lận Kì Mặc cười gật đầu: “Bá phụ tinh mắt.”

Khánh Nhiễm khom người cúi đầu: “Vãn bối Dịch Thanh bái kiến Lục lão tướng quân, vãn bối nói năng vô lễ, có chỗ nào không đúng, mong lão tướng quân thứ lỗi.”

Lục Nguyên Hạ cười nhạt, tay vuốt chòm râu, nửa ngày mới trầm giọng nói: “Tuổi trẻ bộc lộ tài năng có gì không tốt, ha ha, ngược lại lão phu rất thích sự gan dạ sáng suốt của ngươi.”

Thị nữ mang trà bánh lên, Lục Nguyên Hạ ngồi xuống chiếc ghế trúc, nâng tay nói: “Ngồi đi.”

Khánh Nhiễm hành lễ rồi ngồi xuống chiếc ghế nhỏ, Lận Kì Mặc lại tiến lên một bước, cười nói: “Phong thái của Lục bá phụ vẫn như trước kia, một chút cũng không già, lời Dịch Thanh nói thật ra không sai.”

Nghe Lận Kì Mặc nói lời này, Lục Nguyên Hạ dường như lại được nhìn thấy phong thái của mình năm nào, ông không khỏi sửng sốt.

Lận Kì Mặc lấy ống trúc nhỏ cất trong tay áo, hắn mở ống rồi lấy một bức tranh được cuộn tròn ra, dâng hai tay cho Lục Nguyên Hạ, cười nói: “Phụ thân từng vẽ một bức họa khi bá phụ chinh chiến năm đó, lúc Mặc thu dọn di vật của phụ thân đã nhìn thấy, Mặc luôn để ở nhà chiêm ngưỡng, bây giờ đột ngột đến thăm bá phụ, không kịp mang nguyên họa của phụ thân đến. Tiểu chất dựa vào trí nhớ để vẽ lại bức họa này, không bằng bút pháp của phụ thân, mong bá phụ đừng cười.”

Lục Nguyên Hạ đứng dậy, nhận lấy bức tranh kia mở ra xem.

Khánh Nhiễm nhìn sang, thấy trong bức tranh kia, giữa núi non trùng điệp, đứng trước vạn quân, có hai tướng quân khí phách đang ngồi ngay ngắn trên lưng chiến mã.

Một người mặc giáp đen, đại huy nhuốm máu, vẻ mặt kiên nghị lỗi lạc, cầm trường kiếm chỉ về phía màn trời ở phương xa. Một người mặc áo bào xanh bay phấp phới, ung dung ngồi trên lưng ngựa, ngẩng đầu nhìn về phía chân trời, người này nhìn không rõ nét mặt, nhưng chiếc cằm cứng rắn kia lại lộ ra một vẻ trang nghiêm và oai phong, tuy dáng vẻ lười nhác nhưng vẫn vững chãi như núi.

Nhìn tướng mạo, người đứng trước đúng là Lục Nguyên Hạ lúc còn trẻ, còn người đứng sau, trong vẻ tùy hứng lại hiện lên sự cô độc, không hiểu sao lại khiến nàng nhớ đến bóng lưng của Lận Kì Mặc vừa rồi, suy nghĩ một chút, đây có lẽ là phụ thân hắn, Lận Khiếu.

“Tam thập niên lai đọa thế gian, sương phong tuyết vũ khốn Miễn Sơn. Giai vi nghĩa khí hào tình cố, nhất thanh đạn chỉ xuất Miễn Châu*.”

*Ba mươi năm đến đọa thế gian, gió sương mưa tuyết vây Miễn Sơn. Đều vì cố nhân nghĩa khí anh dũng, một tiếng gọi xuyên thủng Miễn Châu.*

Ông từ từ ngâm đọc, rồi thở dài một tiếng, trong giọng nói ẩn chứa những cảm xúc và hồi ức vô tận. Ông nhắm mắt rất lâu, rồi nhìn Lận Kì Mặc, nói: “Năm đó, sau khi phụ thân ngươi đột phá vòng vây ở Miên Châu, tâm trạng vui sướng khoan khoái mới làm ra bài thơ này, tới nay cũng tròn hai mươi năm rồi.”

Mắt ông dời về phía bức họa trong tay, nói tiếp: “Bức Quyên Hoa này vẽ lại cảnh tuyên thệ trước khi xuất quân ở Miễn Sơn, năm đó ta và phụ thân ngươi cùng làm quan trong triều, trông coi binh quyền của thiên hạ. Những năm cuối thời Tả Chu, khắp nơi thành lập tân triều, phản quân như lửa rừng từ bốn phương tám hướng lao đến, tuy ta và phụ thân ngươi dẫn binh chống đỡ, nhưng sức người cũng không thể xoay chuyển trời đất, đại quân bị bức tới Miễn Châu, bao vây tứ phía, lương thảo cạn kiệt. Trong bức tranh này, đây là cảnh đột phá vòng vây cuối cùng, lúc ấy phụ thân ngươi nói đùa, nếu hắn có thể lấy ba vạn tàn binh đột phá vòng vây của hai mươi tám vạn hùng binh tam quốc, nhất định sẽ được lưu danh sử sách, làm trận kì chiến này vang danh. Không ngờ chúng ta thật sự thành công, còn có thể dẫn kỵ binh công phá Đồng thành của Yến quốc, chém đầu tướng lĩnh quân địch, nay nghĩ đến, vẫn cảm thấy nhiệt huyết sôi trào.”

Ông thở dài một tiếng, lại nói: “Đáng tiếc, cho dù như thế, cũng không thể làm thời cuộc thay đổi. Phụ thân ngươi hộ tống Lịch Vương, trải qua biết bao gian nan mới về được đất phong Nhạn Châu, nhưng vẫn không cản được khí thế hừng hực của phản quân, cuối cùng Nhàn thành bị diệt, Yến Vương cuồng loạn, lại... Nếu lão phu nhớ không lầm, hôm nay là ngày giỗ của phụ thân ngươi phải không?”

Mắt Lận Kì Mặc hiện lên vẻ đau xót, gật đầu nói: “Lão bá còn nhớ, tiểu chất vô cùng cảm kích.”

Lục Nguyên Hạ vỗ nhẹ vào tay hắn, trông rất thanh thản: “Ngươi lãnh binh diệt Yến quốc, bắt giữ Yến vương, phụ thân ngươi dưới chín suối sẽ mỉm cười thật vui vẻ.”

Lận Kì Mặc không đáp lời, Lục Nguyên Hạ lại cảm thán nói: “Năm đó Nhạn thành bị công phá, lão phu chỉ có thể dẫn tàn binh chạy một đường lên hướng bắc, mất biết bao huynh đệ, gặp bao nhiêu phục kích, mới có thể trở lại Việt Châu, chạy vào Tùng Mật cốc này. Nhớ tới những huynh đệ đã tử trận năm đó, những dân chúng sống cảnh lầm than trong chiến loạn, lão phu... Thôi, mấy năm nay, lão phu chuyện tâm làm nông, bãi binh gác kiếm, tâm tình cũng phai nhạt dần, chỉ mong có thể gột rửa được một ít tội nghiệt.”

“Lời này của bá phụ sai rồi, đao kiếm sắc bén, nếu được dùng thỏa đáng, sẽ là phúc khí để cứu vớt vạn dân. Binh tướng kiêu hùng, nếu gặp được thống soái có tài, sẽ là thần binh bảo vệ vạn dân khỏi chiến hỏa.”

Lận Kì Mặc mỉm cười nhìn Lục Nguyên Hạ, nhưng trong mắt lại có một ánh sáng sắc bén không cho phép người khác lùi bước.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.