Vũ Khí Bóng Đêm 3: Thành Phố Pha Lê

Chương 14: Trong rừng tối



“À, về việc đó,” Jace nói, không nhìn Clary – anh không thực sự nhìn cô kể từ khi cô và Simon tới cửa trước ngôi nhà gia đình Lightwood đang sống. Thay vào đó, anh dựa người vào một khung cửa sổ cao cao trong phòng khách, nhìn ra ngoài bầu trời đang tối nhanh chóng. “Một gã tới dự đám ma của cậu em trai chín tuổi và bỏ lỡ toàn bộ cuộc vui.”

“Jace,” Alec nói, giọng khá là mệt mỏi. “Đừng.”

Alec đang ngồi co ro trong chiếc ghế tựa cũ kỹ, thứ duy nhất dùng để ngồi trong căn phòng này. Ngôi nhà cho người ta cảm giác lạ lẫm, kì quái của những người nhà thuộc về người xa lạ: nó được trang trí bằng vải bông, vải diềm xếp và máu nhạt, và mọi thứ đều hơi sờn rách. Có những chiếc bát thủy tinh đựng sô cô la ở cái bàn nhỏ gần Alec; Clary, đang đói, ăn một vài miếng và thấy chúng khô và mủn. Cô tự hỏi không hiểu dạng người nào sống tại đây. Những người đã bỏ chạy khi những việc nghiêm trọng xảy ra, cô chua xót nghĩ; họ xứng đáng bị mất nhà.

“Đừng gì?” Jace hỏi; ngoài trời đã tối tới mức Clary có thể nhìn thấy gương mặt anh in trên kính cửa sổ. Đôi mắt anh đen lại. Anh đang mặc đồ tang của Thợ Săn Bóng Tối - họ không mặc đồ đen tới tang lễ, vì màu đen là màu của đồ đi săn và tượng trưng cho chiến trận. Màu của chết chóc là màu trắng, và áo khoác màu trắng Jace đang mặc có những rune trên đó được thêu trên cổ áo và cổ tay. Không giống như những chữ rune chiến đấu, mang toàn ý nghĩa hiếu chiến và bảo vệ, chúng truyền tải ngôn từ nhẹ nhàng hơn về sự lành lặn và đau buồn. Trên cổ tay anh có những cái vòng kim loại dập với những chữ rune tương tự. Alec cũng ăn mặc như thế, toàn đồ trắng với những chữ rune tương tự dọc theo. Chúng làm tóc anh trông rất đen.

Nhưng Clary thấy, khi Jace khoác toàn đồ trắng, trông anh trái ngược hẳn với Alec. Anh giống một thiên thần vậy. Nhưng là một thiên thần báo thù.

“Cậu không được giận Clary. Hay ít ra,” Alec nói. Sau đó anh ta lo lắng nhăn mày và bổ sung thêm, “tớ không nghĩ cậu nên giận Simon.”

Clary nửa mong Jace sẽ bực bội quạc lại gì đó, nhưng “Clary biết cậu không giận cô ấy,” là tất cả những gì anh nói ra.

Simon, chống khuỷu tay trên ghế sô pha, đảo mắt, nhưng chỉ nói, “Điều tôi không hiểu là làm sao Velentine giết chết được Điều Tra Viên. Tôi tưởng hình lập thể không thực sự tác động tới cái gì.”

“Đáng ra là không,” Alec nói. “Chúng chỉ là những ảo anh. Giống không khí có màu biết nói thôi.”

“Ừm, nhưng không phải trong trường hợp này. Ông ta cho tay vào trong người Điều Tra Viên và vặn…” Clary rùng mình. “Sàn lênh láng máu luôn.”

“Giống như một phần thưởng thêm cho cậu,” Jace nói với Simon.

Simon tảng lờ đi. “Liệu có Điều Tra Viên nào không chết ghê rợn không?” cậu lên tiếng hỏi. “Cứ như mấy tay trống trong Spinal Tap[4] vậy.”

[4] Có 18 tay trống của ban nhạc Spinal Tap qua đời trong những tai nạn kì quái như bị nổ trên sân khấu, bị trăn cảnh ăn thịt, chết khi nhảy qua một bể đầy cá mập v.v…

Alec xoa tay lên mặt. “Tớ không thể tưởng tượng được là bố mẹ không hề biết tin đó,” anh nói. “Tớ mong báo cho bố mẹ biết quá.”

“Bố mẹ anh đâu?” Clary hỏi. “Em tưởng họ trên gác.”

Alec lắc đầu. “Họ vẫn còn ở nghĩa trang. Trước mộ Max. Họ bảo bọn anh về. Họ muốn ở một mình trong chốc lát.”

“Còn Isabelle?” Simon hỏi. “Cô ấy đâu?”

Sự vui vẻ, nếu như có, đã rời khỏi gương mặt Jace. “Con bé không chịu rời phòng,” anh nói. “Con bé nghĩ chuyện xảy ra với Max là lỗi của nó. Con bé còn không chịu tới đám tang.”

“Anh đã thử nói chuyện với cô ấy chưa?”

“Chưa,” Jace nói, “có khi bọn anh còn đấm liên tiếp vào mặt con bé ấy chứ. Sao, em nghĩ điều đó không thành công hả?”

“Thế mà tôi còn hỏi.” Giọng Simon rất nhẹ nhàng,

“Bọn anh sẽ nói cho nó nghe về chuyện Sebastian thực sự không phải Sebastian,” Alec nói. “Có thể Izzy sẽ thấy khá hơn. Con bé nghĩ đáng ra nó có thể nhận ra Seabastian có gì đó không bình thường, nhưng nếu cậu ta là một gián điệp-” Alec nhún vai. “Không ai nhận ra bất cứ điều gì lạ thường ở cậu ta cả. Kể cả nhà Penhallow.”

“Tôi nghĩ anh ta bị hâm,” Jace nhận xét.

“Đúng, nhưng chỉ là vì-” Alec ngồi lún sâu hơn trong ghế. Trông anh như bị kiệt sức, làn da mang màu trắng xám đối lập với màu quần áo trắng tinh. “Cũng chẳng quan trọng. Khi con bé biết Valentine đang đe dọa cái gì, chẳng điều gì có thể làm nó vui lên được.”

“Nhưng ông ta sẽ thực sự làm thế sao?” Clary hỏi. “Đưa một đội quân quỷ chống lại Nephilim – ý em là, ông ta vẫn là một Thợ Săn Bóng Tối, đúng không? Ông ta không thể tiêu diệt sạch đồng loại được.”

“Valentine chẳng thèm quan tâm tới những đứa trẻ và dám giết chúng không hề chớp mắt,” Jace nói, nhìn vào mắt cô. Họ nhìn nhau mãi. “Vì sao em nghĩ ông ta quan tâm tới đồng loại chứ?”

Alec nhìn hết người này tới người kia, và Clary biết Jace chưa nói cho anh nghe về Ithruriel. Alec có vẻ bối rối, và rất buồn. “Jace-”

“Điều này giải thích một chuyện,” Jace nói mà không nhìn Alec. “Magnus đang thử có thể dùng chữ rune theo dấu trên bất cứ vật gì Sebastian để lại phòng, để xem chúng ta có thể tìm ra hắn không. Magnus nói ông ấy không đọc được nhiều từ thứ chúng ta đưa. Nhưng vẫn…vậy.”

“Là sao?”

“Nghĩa rằng chúng là đồ thuộc về Sebastian Verlec. Sebatian giả có lẽ đã cướp lấy chúng khi tấn công anh ta. Và Magnus không có được thông tin gì vì Sebastian thật có lẽ đã-”

“Chết,” Alec nói nốt. “Và Sebastian chúng ta biết rất thông minh nên không để lại bất cứ thứ gì khiến chúng ta có thể lần ra dấu vết. Ý anh là, em không thể tay không bắt giặt được. Cần phải có một vật gì đó có mối liên hệ với người em muốn tìm. Một vật gia truyền, một thanh stele, hay một cái lược dính tóc, gì đó đại loại.”

“Và khá là tệ,” Jace nói, “vì nếu như chúng ta tìm được hắn, có khả năng hắn sẽ dẫn chúng ta tới hang ổ của Valentine. Anh khẳng định chúng sẽ cút thẳng tới chỗ chủ nhân để thông báo đầy đủ mọi thông tin thu thập được. Có lẽ cả về giả thuyết hồ gương khác thường của bác Hodge.”

“Có lẽ nó không khác thường đâu,” Alec nói. “Họ đã cho lính gác tại mọi con đường dẫn tới hồ và đặt kết giới báo động ngay khi có ai Dịch Chuyện tới đó.”

“Tuyệt. Giớ chúng ta an toàn rồi đó.”Jace dựa người vào tường.

“Điều tôi không hiểu là,” Simon nói, “vì sao Sebastian quanh quẩn đây. Sau những gì hắn làm với Izzy và Max, chắc chắn hắn sẽ bị tóm. Ý tôi là, kể cả nếu hắn nghĩ hắn đã giết Izzy thay vì chỉ đánh ngất cô ấy, sao hắn có thể giải thích lý do cả hai đều chết mà hắn vẫn ổn? Không, hắn sẽ bị lộ. Vì sao lại nán lại sau trận chiến? Vì sao lại tới Gard để bắt tôi? Tôi chắc chắn rằng hắn chẳng quan tâm xem tôi sống hay chết.”

“Giờ cậu lại quá cay nghiệt với hắn,” Jace nói. “Tôi chắc chắn là hắn thích cậu chết.”

“Thật ra,” Clary nói, “mình nghĩ hắn ở lại là vì mình.”

Ngay lập tức, Jace nhìn cô bằng đôi mắt vàng. “Vì em? Mong một ngày hẹn hò hay ho nữa hả?”

Mặt Clary đỏ lựng. “Không. Và cuộc hẹn hò của bọn em không hề hay ho. Thật ra, nó còn chẳng phải một buổi hẹn hò nữa. Mà dù gì, chuyện đó không liên quan. Lúc ở Sảnh, hắn cố lôi em ra ngoài để nói chuyện. Hắn muốn gì đó từ em. Chỉ là em không biết đó là gì.”

“Hoặc có thể hắn chỉ muốn em thôi,” Jace nói. Thấy vẻ mặt Clary, anh nói thêm. “Không phải kiểu đó. Anh muốn nói là hắn muốn mang em về cho Valentine.”

“Valentine không quan tâm tới em,” Clary nói, “Ông ta chỉ quan tâm tới anh thôi.”

Có gì đó hiện lên trong thẳm sâu đôi mắt Jace. “Em sẽ gọi đó là quan tâm sao?” Nét mặt anh khiến cô sợ. “Sau chuyện xảy ra trên tàu, Valentine hứng thú với em. Vì thế, em phải cẩn thận. Vô cùng cẩn thận. Thật ra, cũng chẳng mất gì nếu mấy ngày tiếp đây em ở trong nhà. Em trốn trong phòng như Isabelle cũng được.”

“Em sẽ không.”

“Tất nhiên lả em không rồi,” Jace nói, “vì em sống là để tra tấn anh, đúng không?”

“Jace, không phải mọi chuyện đều là xoay quanh anh,” Clary bực bội đáp.

“Có lẽ,” Jace nói, “nhưng em phải thừa nhận phần lớn là thế đi.”

Clary cố không gào lên.

Simon húng hắng. “Nhắc tới Isabelle - mặc dù chúng ta biết cô ấy đang thế nào, nhưng tôi nghĩ nên nói ra trước khi vụ cãi vã này nghiêm trọng – tôi nghĩ tôi nên đi nói chuyện với cô ấy.”

“Cậu?” Alec nói, rồi, hơi xấu hổ vì sự bối rối của mình, vội bổ sung, “Chỉ là – con bé không chịu ra ngoài gặp người nhà. Vì sao con bè chịu ra ngoài nói chuyện với cậu chứ?”

“Có thể vì tôi không phải người nhà.” Simon nói. Cậu đang đứng nhét tay vào túi áo, vai đẩy ra sau. Lúc trước, khi Clary đứng gần bạn, cô đã thấy vẫn còn một đường trắng mảnh quanh cổ, nơi Valentine đã cắt họng cậu, và những vết sẹo trên cổ tay cậu cũng là vết tích từ vụ đó mà ra. Vài vụ đụng độ với Thế Giới Thợ Săn Bóng Tối đã làm Simon thay đổi, và không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn ở nội tâm. Cậu đứng thẳng, đầu ngẩng cao, và chấp nhận mọi ánh mắt của Jace và Alec mà dường như chẳng quan tâm lắm. Simon sợ họ, khó chịu khi ở gần họ, đã biến mất.

Clary đột nhiên thấy tim nhói đau và nhận ra cảm giác đó là gì. Cô nhớ bạn - nhớ Simon. Simon của quá khứ.

“Tôi nghĩ tôi nên thử làm Isabelle nói chuyện với tôi,” Simon nói. “Cũng chẳng ảnh hưởng gì.”

“Nhưng giờ khá tối rồi,” Clary nói. “Chúng ta nói với chú Luke và cô Amatis là chúng ta sẽ trở về trước khi mặt trời lặn.”

“Anh sẽ đưa em về,” Jace nói. “Còn về Simon, cậu ta có thể tự tìm đường trong đêm – đúng chứ, Simon?”

“Tất nhiên là được rồi,” Alec bực bội nói, như thể háo hức muốn làm lành với Simon sau khi vừa chế nhạo cậu. “Cậu ấy là ma cà rồng – và,” anh ta bổ sung, “Giờ tôi nhận ra có thể vừa rồi cậu nói đùa. Đừng để tâm tới tôi nhé.”

Simon mỉm cười. Clary mở miệng định phản đối - rồi ngậm lại. Một phần vì cô cũng muốn vậy. Và một phần vì vẻ mặt Jace khi anh liếc qua cô, về phía Simon, một cái nhìn khiến cô giật mình im lặng. Đó là sự ngạc nhiên, Clary nghĩ, hòa trộn cùng sự biết ơn và có thể thậm chí – đây mới là cái làm cô ngạc nhiên nhất - một chút tôn trọng.

Nhà mới của gia đình Lightwood và nhà cô Amatis chỉ cách nhau một quãng ngắn; Clary ước giá mà nó dài hơn. Cô không thể từ bỏ cái cảm giác rằng mỗi giây mỗi phút ở cạnh Jace là đều quý giá và giới hạn, rằng họ đang sắp tới gần với cái hạn chót vô hình sẽ buộc họ phải lìa xa vĩnh viễn.

Cô đánh mắt nhìn anh. Anh đang nhìn thẳng, gần như thể cô không có ở đó. Gương mặt anh góc cạnh và sáng lên dưới ánh đèn phù thủy tỏa chiếu con đường. Tóc anh xoăn xoăn ở hai bên má, nhưng không thể che đi vết sẹo trên thái dương nơi từng có một Ấn Ký. Cô có thế thấy mảnh kim loại sáng lấp lánh nơi cổ họng, nơi chiếc nhẫn Morgenstern được lồng trong vòng cổ. Tay trái anh không còn băng bó nữa; làn da non ở các đốt tay có màu hồng hồng. Vậy ra anh đã để vết thương khép miệng như người bình thường như Alec đã yêu cầu.

Cô rùng mình, Jace nhìn. “Em lạnh à?”

“Em chỉ đang nghĩ,” cô nói. “Em ngạc nhiên là Valentine lại tấn công Điều Tra Viên chứ không phải chú Luke. Điều Tra Viên là Thợ Săn Bóng Tối – chú Luke là một cứ dân Thế Giới Ngầm. Hơn nữa, Valentine ghét chú.”

“Nhưng theo một cách nào đó, ông ta tôn trọng chú ấy, thậm chí nếu chú có thuộc Thế Giới Ngầm đi chăng nữa,” Jace nói, và Clary nhớ lại thái độ Jace dành cho Simon lúc trước, và rồi cố không nghĩ tới nó. Cô ghét phải nghĩ về Jace và Valentine giống nhau, thậm chí trong những việc nhỏ nhặt. “Chú Luke đang cố giúp Clave thay đổi, suy nghĩ theo hướng mới. Đó chính xác là điều Valentine muốn làm, kể cả dù mục đích của họ - ờ, không giống nhau. Chú Luke là một người đả phá những điều sai lầm. Chú ấy muốn thay đổi. Với Valentine, Điều Tra Viên đại diện cho cái cũ, cho Clave thủ cựu mà ông ta ghét vô cùng.”

“Và họ từng là bạn nữa,” Clary nói. “Chú Luke và Valentine.”

“Những Ấn Ký từng một lần như nhau,” Jace nói, và Clary biết anh đang trích dẫn gì đó, qua cái giọng nửa thật nửa chế giễu của anh. “Đáng tiếc là, em chưa bao giờ thực sự ghét một ai em từng thực sự quan tâm. Anh tưởng tượng Valentine có một kế hoạch đặc biệt cho chú Luke, sau khi ông ta chiến thắng.”

“Nhưng Valentine sẽ không chiến thắng đấu,” Clary nói, và khi Jace không nói gì, cô lên giọng. “Ông ta sẽ không chiến thắng – không thể. Ông ta không thực sự muốn có chiến tranh, không phải chống lại các Thợ Săn Bóng Tối và các cư dân Thế Giới Ngầm-”

“Vì sao em nghĩ các Thợ Săn Bóng Tối sẽ sát cánh cùng cư dân Thế Giới Ngầm chứ?” Jace nói và anh vẫn không nhìn rõ cô. Họ đang bước đi trên con phố cạnh bờ kênh, và anh nhìn ra mặt nước, miệng mím chặt. “Chỉ vì chú Luke nói vậy? Chú Luke theo chủ nghĩa lý tưởng mà.”

“Và vì sao điều đó lại xấu?”

“Không hề. Nhưng anh không sống theo chủ nghĩa đó,” Jace nói và Clary cảm thấy lạnh trong tim vì sự trống rỗng trong giọng nói của anh. Tuyệt vọng, giận dữ, căm ghét. Những phẩm chất của quỷ. Anh đang hành động theo cách anh nghĩ rằng mình nên làm.

Họ đã tới nhà cô Amatis; Clary dừng lại trước chân bậc tam cấp, quay lại nhìn anh. “Có thể,” cô nói. “Nhưng mà anh không hề giống người đó.”

Jace hơi giật mình, có lẽ chỉ vì sự kiên định trong lời nói của cô. Anh quay đầu nhìn cô hệt như lần đầu tiên kể từ khi rời khỏi nhà Lightwood. “Clary,” anh mở lời rồi ngừng lại, hít một hơi sâu. “Có máu trên cổ tay áo em kìa. Em có sao không?”

Anh tiến tới, nắm lấy cổ tay cô. Clary nhìn xuống và ngạc nhiên vì anh đúng – có một vết máu khô kỳ lạ ở cổ tay phải của áo khoác. Lạ là nó vẫn mang màu đỏ sáng. Không phải máu khô sẽ có màu tối hơn sao? Cô nhíu mày. “Đây không phải máu em.”

Anh hơi thả lỏng người, tay lỏng hơn. “Của Điều Tra Viên chăng? “cô lắc đầu. “Em nghĩ là của Sebastian”

“Máu của Sebastian?”

“Đúng – khi hắn vào Sảnh đêm kia, nhớ không, mặt hắn chảy máu, Em nghĩ Isabelle chắc đã cào hắn, nhưng mà – em đã chạm vào mặt hắn và bị dính máu.” Cô nhìn sát hơn. “Em tưởng cô Amatis đã giặt cái áo, nhưng chắc là không rồi.”

Cô nghĩ anh sẽ thả cô ra, nhưng thay vào đó anh giữ cổ tay cô một lúc lâu, xem xét vết máu, trước khi thả tay cô, hoàn toàn thỏa mãn. “Cám ơn nhé.”

Cô nhìn anh một lúc lâu trước khi lắc đầu. “Anh không định nói cho em biết điều này là sao hả?”

“Còn lâu.”

Cô giơ tay lên vẻ buồn bực. “Em sẽ vào nhà. Gặp anh sau nhé.” Cô quay đầu và bước lên bậc tam cấp dẫn lên cửa nhà cô Amatis. Cô không hề biết rằng khi cô quay lưng, nụ cười đã biến mất trên gương mặt Jace, hoặc rằng anh đứng một lúc lâu trong bóng tối khi cánh cửa đóng lại sau lưng cô, và vân vê sợi chỉ nhỏ giữa những ngón tay.

“Isabelle,” Simon nói. Cậu mất vài lần mới tìm đúng cửa phòng cô, nhưng tiếng hét “Cút đi!” vang lên từ sau cánh cửa này khẳng định rằng cậu đã chọn đúng. “Isabelle, để mình vào.”

Có một tiếng thịch và cánh cửa hơi rung, có vẻ Isabelle vừa ném gì vào đó. Có lẽ là một cái giày. “Mình không muốn nói chuyện với cậu và Clary. Mình không muốn nói chuyện với ai hết. Để mình yên đi, Simon.”

‘Clary không ở đây,” Simon nói. “Nhưng mình sẽ không đi tới khi cậu chịu nói chuyện với mình.”

“Alec!” Isabelle hét. “Jace! Bảo cậu ta đi đi!”

Simon đợi. Chẳng có âm thanh gì ở dưới tầng. Hoặc là Alec đã ra ngoài hoặc anh chẳng buồn đáp. “Họ không ở đây, Isabelle. Chỉ có mình thôi.”

Im lặng. Cuối cùng Isabelle lại lên tiếng. Lần này giọng cô gần hơn, như thể đang đứng ngay bên kia cánh cửa. “Cậu có một mình?”

“Ừ,” Simon đáp.

Cánh cửa mở ra. Isabelle đang đứng sau ngưỡng cửa, mái tóc thả dài và rối bù trên vai. Simon chưa từng thấy cô nàng như vậy: chân trần, tóc chưa chải và không trang điểm. “Cậu vào đi.”

Cậu lách qua Isabelle để vào phòng. Dưới ánh sáng từ cánh cửa, cậu có thể thấy căn phòng ra sao, và như mẹ cậu từng miêu tả, giống như vừa bị vòi rồng càn quét. Quần áo rải rác khắp phòng, cái túi vải thô mở dưới sàn như thể vừa phát nổ. Sợi roi vàng-bạc sáng treo trên một cọc giường, chiếc áo lót trắng ren mọc trên một cọc giường khác. Simon nhìn đi nơi khác. Rèm kéo kín, đèn đóm tắt ngóm.

Isabelle ngồi ở mép giường và nhìn cậu với kiểu ngạc nhiên một cách cay đắng. “Một ma cà rồng biết đỏ mặt. Thế là biết ai rồi.” Cô nàng hất hàm. “Vậy, mình đã cho cậu vào. Cậu muốn gì?”

Dù cô đang dành cho Simon ánh mắt hình viên đạn, cậu nghĩ trông cô trẻ hơn bình thường, đôi mắt lớn và đen nổi bật trên gương mặt trắng xanh. “Cậu có thể thấy những vết sẹo trắng trên làn da sáng màu, che phủ hết cánh tay trần, lưng và xương quai xanh, kể cả chân. Nếu Clary tiếp tục làm Thợ Săn Bóng Tối, cậu nghĩ, một ngày rồi cô ấy cũng thế này, toàn sẹo là sẹo. Ý nghĩ đó không làm cậu buồn như ngày xưa nữa. Cách những vết sẹo trên người Isabelle được trưng ra thể hiện cô vô cùng tự hào về chúng. Cô đang cầm gì đó và cứ xoay vòng vòng giữa các ngón tay. Đó là một vật nho nhỏ tỏa ánh sáng mờ nhạt trong cảnh tranh tối tranh sáng. Cậu nghĩ có thể đó là một mẩu đá quý.

“Chuyện xảy ra với Max,” Simon nói. “Không phải lỗi của cậu.”

Cô không nhìn. Đôi mắt cô đang dán vào cái vật nhỏ trong tay. “Cậu biết nó là gì không?” cô nói và giơ lên. Nó trông giống một chú lính gỗ nhỏ. Một Thợ Săn Bóng Tối đồ chơi, mặc bộ đồ đi săn sơn đen. Ánh bạc cậu để ý thấy lúc trước là màu sơn trên cái kiếm nhỏ; giờ đã gần như bạc hết màu.

“Đây là của Jace,” cô nói, không đợi cậu trả lời. “Đây là món đồ chơi duy nhất anh ấy có từ khi tới Idris. Mình không biết, có thể nó là một phần của một bộ đồ chơi. Mình nghĩ anh ấy tự làm ra, nhưng anh ấy chẳng nói nhiều về nó. Hồi còn nhỏ đi đâu anh cũng mang nó theo trong túi. Rồi một ngày mình nhận thấy Max cầm theo nó. Jace lúc đó khoảng mười ba. Chắc là anh ấy cho nó, khi đã quá lớn. Và nó nằm trong tay Max khi họ tìm thấy thằng bé. Có vẻ Max đã nắm chặt lấy nó khi Sebastian – khi hắn-” Cô nàng ngừng lời. Cậu thấy rõ rằng Isabelle đang cố không khóc; môi cô nàng mím chặt, như thể chính nó đang biến dạng. “Mình đáng ra phải ở đó để bảo vệ nó. Mình phải ở đó bên nó để nó gắng gượng mà sống, chứ không phải một mẩu đồ chơi gỗ bé xíu.” Cô nói ném nó xuống giường, đôi mắt nảy lửa.

“Cậu đã bất tỉnh,” Simon phản đối. “Cậu suýt chết, Izzy. Cậu chẳng thể làm gì hết.”

Isabelle lắc đầu, mái tóc rối nảy lên trên vai. Cô trông dữ tợn và hoang dại. “Cậu thì biết gì nào?” cô hỏi. “Cậu có biết rằng đêm đó Max tới chỗ bọn mình và nói đã thấy ai đó trèo lên tháp quỷ, và mình đã nói rằng thằng bé nằm mơ và đuổi nó đi. Và nó đã đúng. Mình cá rằng chính cái thằng chó Sebastian đã leo lên tháp để hạ kết giới xuống. Và Sebastian giết nó để nó không thể nói cho những người khác. Và nếu mình chịu lắng nghe – chỉ cần bỏ một giây mà lắng nghe thôi – chuyện đó đã không xảy ra.”

“Cậu đâu biết được chứ.” Simon nói. “Và còn về Sebastian – hắn không thực sự là cháu họ nhà Penhallow. Hắn đã lừa mọi người.”

Isabelle không hề ngạc nhiên. “Mình biết,” cô nói. “Mình nghe cậu nói chuyện với Jace và Alec rồi. Mình nghe từ trên đầu cầu thang.”

“Vậy là cậu nghe lỏm?”

Cô nhún vai. “Tới phần cậu nói sẽ lên đây và nói chuyện với mình. Rồi mình trở lại đây. Mình không thích gặp cậu.” Cô liếc nhìn Simon. “Nhưng mình đã cho cậu vào. Cậu quá cứng đầu mà.”

“Nghe này, Isabelle.” Simon bước một bước. Cậu đột nhiên nhận thức rằng cô không mặc gì, vì thế cậu ngừng ý định muốn đặt tay lên vai cô hay làm gì đó an ủi. “Khi bố mình mất, mình biết điều đó không phải lỗi của mình, nhưng mình vẫn nghĩ đi nghĩ lại về mọi điều mình nên làm, nên nói, trước khi bố mất.”

“Ờ, nhưng, đây là lỗi của mình,” Isabelle nói. “Đáng nhẽ lúc đó mình phải lắng nghe. Và điều bây giờ mình có thể là theo dấu thằng khốn nạn đó và giết hắn.”

“Mình không chắc điều đó có ích-”

“Sao cậu biết được?” Isabelle hỏi. “Cậu có tìm người chịu trách nhiệm cho cái chết của bố cậu và giết hắn không?”

“Bố mình mất vì bị đau tim,” Simon nói. “nên không.”

“Vậy cậu không biết cậu đang nói gì, đúng không?” Isabelle ngẩng cổ và nhìn cậu. “Tới đây.”

“Cái gì?”

Cô vẫy vẫy ngón tay trỏ. “Tới đây, Simon.”

Ngại ngần, cậu tiến tới. Cậu chỉ còn cách cô nàng chưa tới một bước chân thì cô nàng nắm lấy thân áo trước, kéo về phía cô. Mặt họ chỉ cách nhau vài inch; cậu có thể thấy vùng da dưới mắt Isabelle sáng lên vì vệt nước mắt mới rơi.

“Cậu có biết mình cần gì ngay lúc này không?” cô nàng nói, từng từ từng chữ rõ ràng.

“Ờ,” Simon nói. “Không?”

“Cần có gì khác để nghĩ,” cô nàng nói, và hơi quay người kéo cậu lên giường.

Cậu đặt lưng xuống những chồng quần áo quăng bừa bãi. “Isabelle,” Simon yếu ớt phản đối, “Cậu thực sự nghĩ thế này sẽ giúp cậu thấy tốt hơn sao?”

“Tin mình đi,” Isabelle nói, đặt tay lên ngực cậu, ngay trên trái tim đã không còn đập. “Mình đã thấy tốt hơn rồi.”

Clary nằm trằn trọc trên giường, ngước nhìn những vệt ánh trăng chiếu qua trần nhà. Các dây thần kinh của cô vẫn đang cãi cọ om sòm về những sự việc ngày hôm nay và không cho cô ngủ, và càng không ngủ nổi khi Simon không trở về trước bữa tối – hay sau đó. Thực ra cô đã nói cho chú Luke nghe và chú đã mặc áo khoác và tới nhà Lightwood. Chú khá vui vẻ khi trở lại. “Simon ổn, Clary ạ,” chú nói. “Đi ngủ đi.” Và rồi chú lại ra đi cùng cô Amatis, tới một buổi họp dài bất tận ở Sảnh Hiệp Định. Cô tự hỏi liệu đã ai lau dọn máu của Điều Tra Viên chưa.

Vì chẳng còn gì để làm, cô lên giường nhưng không tài nào ngủ nổi. Hình ảnh Valentine cứ vẩn vơ trong đầu cô, hắn đưa tay vào trong người Điều Tra Viên và giật tung trái tim ông ta ra. Con sẽ ngậm mồm, vì anh trai con nếu như không phải vì chính con. Hơn hết, những bí mật cô biết từ Ithruriel đè nặng lên ngực cô. Bên dưới tất cả những sự lo lắng đó là nỗi sợ, thường trực như nhịp tim, rằng mẹ cô sẽ chết. Magnus đâu rồi? Có những tiếng sột soạt nơi rèm cửa, và đột nhiên một luồng ánh trăng ùa vào phòng. Clary ngồi bật dậy, lần tìm con dao thiên thần để ở tủ đầu giường,

“Không sao đâu.” Một bàn tay đặt lên tay cô – một bàn tay quen thuộc, đầy sẹo, mảnh dẻ. “Anh đây.”

Clary hít một hơi sâu, và anh rụt tay lại. “Jace,” cô nói. “Anh làm gì ở đây? Có chuyện gì sao?”

Trong một lúc anh không trả lời, và cô xoay qua nhìn anh, kéo chăn lên che quanh người. Cô đỏ mặt, vì ý thức được mình chỉ mặc có chiếc quần ngủ và áo lót mỏng – và rồi cô thấy nét mặt anh, và cô bớt ngượng hơn.

“Jace?” cô khẽ gọi. Anh đang đứng bên giường cô, vẫn mặc bộ đồ tang trắng, và chẳng có ánh sáng, sự trêu chọc hay xa cách trong cách anh nhìn cô. Gương mặt anh trắng bệch, và đôi mắt trông bị ám ảnh và đen lại vì căng thẳng. “Anh ổn không?”

“Anh không biết,” anh nói với sự mơ màng như người vừa tỉnh khỏi cơn mơ. “Anh không định tới đây. Anh định đi lang thang cả đêm – anh không ngủ được – và anh thấy mình tới đây. “Tới tìm em.”

Cô ngồi thẳng hơn, để chăn rơi xuống quanh hông. “Sao lại không ngủ được? Có chuyện gì sao?” cô hỏi, và đột nhiên thấy ngu ngốc. Chuyện gì đã không xảy ra chứ?”

Nhưng Jace, dường như chẳng nghe thấy câu hỏi. “Anh phải gặp em,” anh nói, gần như với chính mình. “Anh biết là không nên. Nhưng anh phải gặp em.”

“À, thế thì anh ngồi xuống đi,” cô nói và co chân lại để cho anh có chỗ ngồi ở mép giường. “Vì anh đang làm em lo đấy. Anh chắc là không có chuyện gì chứ?”

“Anh không nói là không có chuyện gì.” Anh ngồi xuống giường, nhìn cô. Anh đang ngồi rất gần và cô chỉ cần nhoài người và hôn anh-.

Ngực cô quặn lại. “Có tin xấu sao? Có chuyện – có ai –”

“Không phải,” Jace nói, “và cũng chẳng phải tin gì. Nó ngược với tin. Có một điều anh luôn biết, và em – có lẽ em cũng biết. Chúa biết là anh không giỏi che giấu. Đôi mắt anh nhìn cô chậm rãi, như thể muốn ghi nhớ lấy. “Chuyện xảy ra là,” anh nói, và chần chừ- “là anh nhận ra vài điều.”

“Jace,” cô đột nhiên thì thào, không hiểu vì lý do gì, nhưng cô sợ điều anh sắp nói. “Jace, anh không cần phải-”

“Anh đang cố - tới nơi khác,” Jace nói. “Nhưng anh bị lôi kéo tới đây. Anh không thể ngừng đi, không thể ngừng nghĩ. Về lần đầu tiên anh gặp em, và sau đó anh không thể quên nổi em. Anh muốn, nhưng không ngừng được. Anh buộc bác Hodge phải để anh tới tìm em và đưa em về Học Viện. Và kể từ lúc đó, tại cái quán cà phê ngu ngốc đó, khi thấy em ngồi cùng Simon, thậm chí khi đó điều đó cũng làm anh bực – anh phải là người ngồi cạnh em. Người làm em cười như vậy. Anh không thể từ bỏ được cảm giác đó. Đó phải là anh. Và anh càng biết em rõ hơn, anh càng có cái cảm xúc đó – anh chưa từng có nó. Anh luôn muốn một cô gái và rồi quen cô ta rồi chẳng muốn cô ta nữa, và với em thì cảm xúc ngày một dâng trào tới cái đêm em xuất hiện ở Renwick’s và anh đã biết.”

“Và rồi hiểu vì sao anh có cảm giác đó – giống như em là một phần anh thiếu mà không hề biết cho tới khi gặp lại em – đó là vì em là em gái anh, quả là một trò lố bịch. Giống như Chúa đang phỉ nhổ anh. Anh không biết vì sao – khi nghĩ rằng anh thực sự có được em, rằng anh xứng được hưởng một điều như vậy, được hạnh phúc. Anh không thể tưởng tượng anh đã làm gì để bị trừng phạt như thế-”

“Nếu anh bị trừng phạt,” Clary nói, “em cũng vậy thôi. Vì anh cảm thấy thế nào thì em cũng thấy thế vậy. Nhưng chúng ta không thể - chúng ta phải ngừng cảm thấy về nhau theo cách này, vì đó là cơ hội duy nhất của chúng ta.”

Tay Jace nắm chặt buông xuôi bên người. “Cơ hội duy nhất cho cái gì nào?”

“Để được bên nhau. Vì nếu không, chúng ta không thể ở cạnh nhau nữa, đừng nói là ở cùng một phòng, và em không thể chịu được. Em thà có anh trong đời như một người anh trai còn hơn là không có anh-”

“Và anh nghĩ anh phải ngồi đó khi em hẹn hò rồi yêu, kết hôn với một ai đó-” Giọng anh nghẹn lại. “Và trong lúc đó, anh quan sát và mỗi ngày lại chết đi một chút.”

“Không, lúc đó anh chẳng quan tâm nữa đâu,” cô nói, phân vân liệu khi nói thế này cô có chịu nổi ý nghĩ về một Jace không quan tâm hay không. Cô không nghĩ xa xôi như anh, và cô cố tưởng tượng cảnh nhìn anh yêu một ai khác, cưới một ai khác, nhưng không thể; cô chỉ thấy một con đường đen tăm tối trải dài trước mắt, kéo dài vô tận. “Làm ơn. Nếu chúng ta không nói gì – nếu chúng ta giả bộ-”

“Không giả bộ gì hết,” Jace nói một cách chắc nịch. “Anh yêu em, và anh yêu em tới khi chết, và nếu có cuộc sống sau đó, anh vẫn còn yêu em.”

Cô nghẹn thở. Anh đã nói ra nó – những lời sẽ không thể nào rút lại. Cô cố tìm câu trả lời, nhưng không thể,

“Và anh biết em sẽ nghĩ anh chỉ muốn ở bên em để - để cho anh thấy anh là một con quái vật ra sao,” anh nói. “Và có thể anh là quái vật thật. Anh không biết câu trả lời. Nhưng điều anh biết là kể cả có máu quỷ trong con người anh, trong người anh còn chảy dòng máu của con người nữa. Và anh không thể yêu em như bây giờ nếu anh không có chút tính người. Vì quỷ chỉ muốn. Chúng không yêu. Và anh-” Anh đột nhiên đứng dậy và tới bên cửa sổ. Anh có vẻ mất phương hướng, hệt như lúc nhìn thấy thi thể Max tại Sảnh.

“Jace ơi?” Clary hốt hoảng gọi, và khi anh không trả lời, cô vội xuống giường, tới bên rồi đặt tay lên tay anh. Họ tiếp tục nhìn ra ngoài cửa sổ; hình ảnh họ in trên tấm kính gần như trong suốt – những đường nét mờ mờ ảo ảo của một cậu con trai cao dong dỏng và một cô gái nhỏ bé hơn đang lo lắng nắm cổ tay áo người con trai, “Có chuyện gì vậy?”

“Anh không nên nói cho em biết,” anh nói, không nhìn cô. “Anh xin lỗi. Có lẽ anh đã nói quá nhiều khiến em không thể hiểu hết được. Em có vẻ quá – sốc.” Sự căng thẳng ẩn trong giọng nói của anh như một sợi dây có sự sống.

“Đúng,” cô nói. “Suốt mấy ngày qua em đã hỏi liệu anh có ghét em không. Và rồi em thấy anh tối nay, em đã tưởng anh ghét em thật.”

“Ghét em?” anh nhắc lại, có vẻ bối rối. Anh vươn tay nhẹ nhàng chạm lên gương mặt cô, chỉ là đầu ngón tay lướt qua da. “Anh nói với em rằng anh không ngủ được. Nửa đêm mai chúng ta hoặc là chiến đấu hoặc chịu sự thống trị của Valentine. Đây có thể là đêm cuối cùng chúng ta được sống, và chắc chắn là đêm cuối cùng bình thường. Đêm cuối cùng chúng ta ngủ và tỉnh dậy như thường lệ. Và những gì anh nghĩ là anh muốn dành cả đêm nay cùng em.”

Trái tim cô đập lỡ nhịp. “Jace-”

“Anh không có ý đó,” anh nói. “Anh sẽ không chạm vào em, nếu như em không muốn. Anh biết điều này là sai – Chúa ơi, nó quá sai – nhưng anh muốn nằm xuống và thức giấc cùng em, chỉ một lần, chỉ một lần trong đời.” Có sự tuyệt vọng trong giọng nói của anh. “Chỉ một đêm thôi. Trong bao nhiêu điều to lớn này, một đêm thì có vấn đề gì đâu?”

Vì nghĩ chúng ta sẽ cảm thấy ra sao vào sáng mai. Nghĩ chuyện sẽ tệ thế nào khi phải giả bộ rằng chúng ta chẳng là gì của nhau trước mặt những người khác sau khi chúng ta dành trọn đêm nay bên nhau, kể cả khi chúng ta chỉ ngủ. Nó giống như là thử một chút thuốc phiện vậy – nó chỉ làm anh muốn thêm thôi.

Nhưng cô nhận ra, đó chính là lý do anh đã nói những điều vừa rồi với cô. Vì nó không đúng, không đúng đối với anh; chẳng có gì khiến chuyện tệ hơn được; cũng như chẳng có gì làm nó tốt lên. Anh đang cảm thấy nó kết thúc hệt như một bản án tử, và cô có thể nói rằng chuyện với cô sẽ khác không? Và nếu cô có thể nói vậy, kể cả khi cô hy vọng có thể tới một ngày nào đó cô sẽ bị thuyết phục bởi thời gian, lý do hoặc đau khổ dần dần để không cảm thấy vậy nữa, cũng chẳng vấn đề gì hết. Trong đời cô chẳng muốn gì hơn là muốn đêm nay cùng Jace.

“Khép rèm lại, trước khi anh lên giường,” cô nói. “Em không ngủ được nếu sáng quá.”

Anh kinh ngạc. Clary ngạc nhiên nhận ra, anh thực sự không hy vọng cô sẽ đồng ý và một lúc sau, anh ôm chầm lấy cô, vùi đầu vào trong mái tóc vẫn còn rối bù sau giấc ngủ vừa nãy của cô. “Clary-”

“Lên giường đi,” cô nhẹ nhàng nói. “Muộn rồi.” Cô đẩy anh ra và trở lại giường, leo lên đó và đắp chăn tới ngang thắt lưng. Không hiểu sao, nhìn thấy anh như thế này, cô có thể tưởng tượng ra mọi chuyện khác đi, rằng họ đang ở trong tương lai cách bây giờ nhiều năm và họ đã ở cùng nhau rất lâu và đã cùng nhau chìm vào giấc ngủ cả trăm lần, rằng mọi đêm, không phải chỉ đêm nay, đều thuộc về họ. Cô tì cằm lên tay và ngắm nhìn anh trong khi anh kéo rèm và cởi áo khoác, đặt lên ghế. Anh mặc bên trong một chiếc áo phông xám nhạt, và những Ấn Ký quấn quanh cánh tay trần tỏa sáng mờ mờ khi anh tháo thắt lưng vũ khí và đặt xuống sàn. Anh tháo giày và trèo lên giường, nằm duỗi thẳng vô cùng thận trọng bên cạnh Clary. Nằm ngửa, anh quay đầu nhìn cô. Một chút xíu ánh sáng chiếu qua rìa rèm, chỉ đủ để cô nhìn thấy những đường nét gương mặt anh và ánh sáng từ đôi mắt anh. “Chúc ngủ ngon, Clary,” anh nói.

Hai tay anh đặt dọc theo thân mình, bàn tay hé mở. Dường như anh chẳng hề thở; cô cũng không biết bản thân có hít thở không nữa. Cô chìa tay, đủ để những ngón tay họ chạm vào nhau – rất nhẹ, và nếu không phải Jace thì cô không biết cô có chạm vào, khi chạm, những dây thần kinh ở đầu ngón tay hơi ngứa ngáy, như thể cô hơ tay trước đầu ngọn lửa nhỏ. Cô cảm thấy anh căng thẳng và rồi thư giãn. Anh nhắm mắt, mi mắt phủ bóng xuống gò má. Miệng anh cong thành một nụ cười, như thể cảm nhận được cô đang quan sát anh và cô tự hỏi trông anh như thế nào vào sáng mai, với mái tóc rồi bù và mắt đầy gỉ. Dù cho mọi chuyện, cô vẫn tự cho mình thưởng thức sự hạnh phúc. Cô đan tay vào tay anh. “Chúc ngủ ngon,” cô thì thào. Trong bóng tối, với hai tay đan vào nhau như những đứa trẻ trong câu truyện thần tiên, cô chìm vào giấc ngủ bên cạnh anh.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.