Vũ Khí Bóng Đêm 3: Thành Phố Pha Lê

Chương 8: Một người sống




Simon tỉnh giấc bởi ánh sáng lấp lánh chiếu vào vật gì đó được nhét vào qua chấn song cửa sổ. Cậu đứng dậy, cơ thể đau nhức vì đói, và thấy đó là một chiếc bình kim loại, cỡ bằng cái cặp lồng cơm. Một tờ giấy nhắn dán quanh cổ chai. Giật nó xuống, Simon mở ra và đọc:

Simon: Đây là máu bò, còn tươi lấy từ lò mổ. Mong là máu này hợp với khẩu vị của cậu. Jace cho mình biết điều cậu đã nói, và mình muốn cậu biết mình nghĩ cậu thật dũng cảm. Cứ ở đó và bọn mình sẽ tìm cách kéo cậu ra.

XOXOXOXOXOXOX[5] Isabelle

[5] Trong tiếng Anh, X là ký hiệu của hôn, O là ôm.

Simon cười trước những ký tự O X viết hoa chạy cuối tờ giấy. Thật vui khi được biết tính hoa hòe hoa sói của Isabelle không bị mất đi trong những hoàn cảnh này. Cậu vặn nút chai và nuốt vài ngụm lớn trước cái cảm giác sởn gai ốc giữa hai xương vai khiến cậu phải quay lại.

Raphael đứng bình tĩnh giữa phòng. Hắn ta khoanh tay sau lưng, đôi vai gầy gồng cứng lại. Hắn mặc áo sơ mi là lượt phẳng phiu đi cùng cái áo khoác đen. Một chiếc dây chuyền sáng lấp lánh trên cổ hắn.

Chẳng hiểu sao, nụ cười của Raphael khiến Simon có cảm giác răng nanh của hắn đang nhe ra, dù thực tế không phải vậy. “Đừng hoảng chứ, Ưa Sáng.”

“Tôi không hoảng.” Điều đó cũng không đúng hoàn toàn. Simon cảm tửởng như vừa nuốt một vật sắc. Cậu chưa gặp lại Raphael kể từ cái đêm cậu tự mình chui khỏi ngôi mộ đào vội, trong tình trạng máu me bê bết và bầm dập tại Queens. Cậu vẫn nhớ cảnh Raphael ném từng bịch máu động vật cho cậu, và cái cách cậu dùng răng xé túi máu như động vật vậy. Đó không phải chuyện Simon thích nhớ. Và cậu sẽ vô cùng hạnh phúc nếu không bao giờ phải thấy cậu con trai ma cà rồng kia nữa. “Trời hãy còn sáng. Sao anh ở đây được?”

“Tôi không ở đây.” Giọng Raphael nghe mềm như bơ. “Tôi là Hình Lập Thể. Nhìn này.” Hắn vung tay, vuột qua bức tường đá bên cạnh. “Tôi giống khói vậy. Tôi không thể làm hại cậu. Tất nhiên, cậu cũng đừng hòng chạm tới tôi.”

“Tôi không muốn làm hại anh.” Simon đặt cái chai xuống chiếu. “Tôi muốn biết anh làm gì ở đây.”

“Cậu rời New York rất đột ngột đấy, Ưa Sáng ạ. Cậu có biết cậu phải thông báo cho thủ lĩnh ma cà rồng của khu vực khi rời thành phố không?”

“Thủ lĩnh ma cà rồng? Là anh sao? Tôi tưởng thủ lĩnh là người khác...”

“Camille vẫn chưa quay về,” Raphael nói, không lộ bất cứ cảm xúc nào rõ ràng hết. “Tôi tạm thời thay thế vị trí. Cậu sẽ biết nếu cậu chịu khó nghiên cứu luật lệ của loài mình.”

“Thật ra vụ tôi rời New York không được lên kế hoạch trước. Và không xúc phạm đâu, nhưng tôi không thực sự nghĩ các anh thuộc loài của tôi.”

“Dios[6].” Raphael cụp mắt, như định giấu sự hào hứng. “Cậu cứng đầu lắm.”

[6] Tiếng Tây Ban Nha - Lạy Chúa.

“Sao anh nói thế?”

“Chẳng phải rõ ràng thế sao?”

“Tôi muốn nói...” Cổ họng Simon nghẹn lại. “Từ đó. Anh nói được, và tôi không thể nói-” Chúa ơi.

Raphael ngước mắt; hắn có vẻ hứng thú. “Năm tháng thôi,” hắn nói. “Và luyện tập. Và đức tin, hoặc mất đức tin - theo một cách nào đó, chúng giống nhau. Cậu sẽ học được, nhờ thời gian, ma cà rồng non nhỏ bé ạ.”

“Đừng gọi tôi thế.”

“Nhưng cậu là thế đấy. Cậu là Đứa Con của Màn Đêm. Không phải vì thế mà Valentine bắt và lấy máu cậu sao? Vì bản chất của cậu?”

“Anh có vẻ nắm chắc thông tin đấy nhỉ,” Simon nói. “Có lẽ anh nên nói với tôi.”

Đôi mắt Raphael nheo lại. “Tôi cũng nghe tin đồn rằng cậu uống máu Thợ Săn Bóng Tối và chính điều đó đã cho cậu món quà này, khả năng đi lại dưới ánh sáng. Đúng không?”

Simon dựng tóc gáy. “Lố bịch. Nếu máu Thợ Săn Bóng Tối có thể giúp ma cà rồng đi lại dưới nắng, giờ mọi người đều biết cả rồi. Máu Nephilim sẽ đắt phải biết. Và sẽ không bao giờ có hòa bình giữa ma cà rồng và Thợ Săn Bóng Tối nữa. Vì thế may mắn là điều anh nói không hề đúng.”

Một nụ cười nhạt xuất khiện trên khóe miệng Raphael. “Đúng. Nhân nói về giá, cậu có nhận ra không Ưa Sáng, rằng giờ cậu là món hàng quý? Không một người nào thuộc Thế Giới Ngầm lại không muốn sở hữu cậu.”

“Có bao gồm anh không?”

“Tất nhiên là có rồi.”

“Và anh sẽ làm gì nếu anh có được tôi?”

Raphael nhún đôi vai gầy. “Có lẽ tôi là ma cà rồng duy nhất không nghĩ khả năng đi lại dưới ánh sáng là một món quà như những ma cà rồng khác. Chúng ta là Đứa Con của Màn Đêm là có lý do. Có thể tôi thấy cậu ghê tởm, cũng như con người nghĩ tôi ghê tởm vậy.”

“Thật sao?”

“Có thể.” Raphael vẫn tỏ ra bình thường. “Tôi nghĩ cậu là là mối nguy hiểm cho tất cả chúng tôi. Một sự nguy hiểm với ma cà rồng, nếu cậu dám làm gì. Và cậu không thể ở trong xà lim này Ưa Sáng ạ. Thực ra cậu sẽ phải rời đi và đối mặt với thế giới này. Đối mặt với tôi. Nhưng tôi có thể nói với cậu một điều. Tôi hứa không làm hại cậu, và không cố tìm cậu, nếu cậu hứa sẽ trốn đi sau khi được Aldertree trả tự do. Nếu cậu hứa sẽ đi tới nơi không ai có thể tìm ra cậu và không bao giờ liên lạc với ai biết cậu lúc còn là người bình thường, tôi sẽ không động tới cậu.”

Nhưng Simon đã lắc dầu. “Tôi không thể bỏ gia đình lại. Hay Clary.”

Raphael tạo ra âm thanh trong tức giận. “Họ không còn là một phần của con người cậu nữa. Giờ cậu là ma cà rồng rồi.”

“Nhưng tôi không muốn,” Simon nói.

“Nhìn cậu đi, phàn nàn cái gì chứ,” Raphael nói, “cậu sẽ không bao giờ ốm, sống trường sinh bất lão. Cậu sẽ thọ ngang trời đất. Cậu còn muốn gì nữa nào?”

Trường sinh bất lão, Simon nghĩ. Nghe có vẻ hay, nhưng liệu có ai muốn mãi mãi tuổi mười sáu không? Được sống mãi ở tuổi hai lăm là một nhẽ, nhưng mười sáu? Luôn luôn cao lênh khênh thế này, không bao giờ được trưởng thành, kể cả gương mặt hay cơ thể? Đấy là chưa kể, với bề ngoài thế này, cậu sẽ không bao giờ được bước vào quán bar và gọi đồ uống. Mãi mãi. Vĩnh viễn.

“Và,” Raphael bổ sung, “cậu sẽ không bao giờ được bước dưới Mặt trời nữa.”

Simon không muốn đi trở lại con đường đó nữa. “Tôi đã nghe những người khác nói về anh tại Dumort,” cậu nói. “Tôi biết mỗi ngày Chủ nhật anh đều biến đi gặp gia đình. Không biết chừng, họ đều hiểu anh là ma cà rồng. Vậy đừng nói với tôi việc bỏ mọi người trong đời tôi lại. Tôi không làm thế, và tôi không nói dối.”

Ánh mắt Raphael lấp lánh. “Điều gia đình tôi tin chẳng là gì hết. Điều tôi tin mới quan trọng. Cái tôi biết. Một ma cà rồng thực sự biết rằng anh ta đã chết. Anh ta chấp nhận cái chết của mình. Nhưng cậu, cậu nghĩ cậu thuộc về thế giới của người sống. Vì thế nên cậu nguy hiểm. Cậu không ý thức được rằng cậu không còn sống nữa.”

Chạng vạng, Clary đóng cửa nhà cô Amatis lại sau lưng và khóa chốt. Cô dựa người lên cánh cửa một lúc lâu, đứng trong hành lang tối om, mắt nhắm hờ. Mọi bộ phận trên cơ thể cô đều mệt mỏi rã rời, đôi chân như muốn rời ra.

“Clary?” giọng khẩn trương của cô Amatis vang lên cắt ngang sự im lặng. “Cháu phải không?”

Clary đứng im tại chỗ, trôi trong bóng tối tĩnh lặng đằng sau đôi mắt nhắm. Cô rất muốn được ở nhà, cô tưởng như nếm được cái vị kim loại của những con phố Brooklyn. Cô có thể thấy mẹ đang ngồi trên chiếc ghế bên cửa sổ, luồng ánh sáng vàng nhạt, bụi bặm chiếu qua ô cửa sổ mở rộng của căn hộ, chiếu sáng bức tranh mẹ đang vẽ. Nỗi nhớ nhà quặn thắt trong bụng cô như một cơn đau.

“Clary,” giọng nói đã tới gần hơn. Clary mở choàng mắt. Cô Amatis đang đứng trước mặt cô, mái tóc xám túm gọn đằng sau, hai tay chống cạnh sườn. “Anh trai cháu tới gặp cháu. Cậu ta đang đợi trong bếp."

“Jace ở đây ạ?” Clary cố không để lộ sự tức giận và ngạc nhiên trên khuôn mặt. Tỏ vẻ giận dữ trước mặt người em gái của chú Luke có ích gì đâu chứ.

Cô Amatis tò mò nhìn Clary. “Có phải cô không nên cho cậu ta vào? Cô tưởng cháu muốn gặp nó.”

“Không, không có gì đâu ạ,” Clary nói, khó lắm mới giữ được giọng đều đều. “Cháu chỉ mệt thôi.”

“À.” Amatis có vẻ như không tin. “À, cô sẽ ở trên gác nếu cháu cần. Cô cần ngủ chút.”

Clary không thể tưởng tượng ra cô cần cô Amatis làm gì, nhưng cô gật đầu và tập tễnh bước xuống bếp, cái không gian ấm cúng tắm trong ánh mặt trời vàng ruộm. Có một chiếc bát đựng hoa quả trên bàn - cam, táo và lê - và một ổ bánh mỳ với bơ và pho mát, cùng một chiếc đĩa bên cạnh đựng gì đó giống như… bánh quy? Cô Amatis thực sự làm bánh quy sao?

Và Jace ngồi bên bàn. Anh chống khuỷu tay, mái tóc vàng rối bù, chiếc áo sơ mi hơi mở ra ở cổ. Cô có thể thấy những Ấn Ký đen tuyền chạy dọc theo xương quai xanh. Anh cầm bánh quy bằng bàn tay băng bó. Vậy là Sebastian nói thật; anh đã tự làm mình bị thương. Không phải cô quan tâm nhiều tới việc đó đâu. “Tốt,” anh nói, “em đã về. Anh bắt đầu nghĩ là em ngã xuống kênh rồi.”

Clary cứ nhìn, không nói thành lời. Cô tự hỏi liệu anh có thể đọc ra sự giận dữ trong đôi mắt cô không. Anh dựa người vào ghế, hờ hững vắt một tay qua lưng ghế. Nếu không phải nhịp đập nhanh nơi hõm họng anh, cô gần như tin rằng anh thật sự chẳng quan tâm gì.

“Em có vẻ mệt,” anh nói thêm. “Em ở đâu cả ngày nay vậy?”

“Em ra ngoài cùng Sebastian.”

“Sebastian?” Vẻ kinh ngạc không thể diễn tả của anh làm hài lòng cô trong một lát.

“Hôm qua anh ấy đưa em về nhà,” Clary nói, và trong đầu cô, những lời Từ giờ anh chỉ là anh trai em thôi, chỉ là anh trai em đập như nhịp đập của một trái tim thổn thức. “Và tới giờ, anh ấy là người duy nhất trong cái thành phố này ít nhiều đối tốt với em. Và đúng, em ra ngoài với Sebastian.”

“Anh hiểu.” Jace đặt chiếc bánh quy xuống đĩa, gương mặt vô hồn. “Clary, anh tới đây để xin lỗi. Anh không nên nói với em như thế.”

“Không,” Clary nói. “Anh không nên.”

“Anh cũng tới để hỏi xem em có cân nhắc lại chuyện trở về New York không.”

“Chúa ơi,” Clary nói. “lại nữa...”

“Em ở đây không an toàn.”

“Và anh lo lắng gì nào?” cô đều đều hỏi. “Rằng họ sẽ ném em vào tù như đã làm với Simon?”

Jace không đổi nét mặt, nhưng anh ngã ngửa ra sau ghế, chân trước nhấc khỏi sàn, gần như bị cô xô. “Simon...?”

“Sebastian đã nói với em chuyện xảy ra,” cô vẫn nói bằng giọng đều đều như trước. “Chuyện anh làm. Sao anh mang cậu ấy tới đây rồi để cậu ấy bị ném vào tù chứ? Anh đang cố làm em ghét anh sao?”

“Và em tin Sebastian?” Jace hỏi. “Hầu như em chẳng biết gì về cậu ta cả, Clary.”

Cô nhìn anh. “Vậy anh ta nói sai sao?”

Anh đón nhận ánh mắt của cô, nhưng gương mặt vẫn bình thường, như gương mặt Sebastian lúc cô đẩy anh ta ra. “Không. Sebastian nói đúng.”

Cô cầm lấy cái đĩa trên bàn mà ném. Anh cúi, khiến chiếc ghế xoay vòng vòng, và cái đãi đập đánh chát vào bức tường phía trên chậu rửa và vỡ tan tành. Anh nhảy khỏi ghế khi cô cầm chiếc đĩa khác lên và ném, nhưng trật lất: cái đĩa nảy khỏi tủ lạnh và rơi xuống chân Jace và vỡ làm đôi. “Sao anh có thể? Simon tin anh. Giờ cậu ấy ở đâu? Họ đã làm gì cậu ấy?”

“Chẳng làm gì hết,” Jace nói. “Cậu ấy ổn. Tối qua anh đã gặp cậu ta...”

“Trước hay sau khi em tới gặp anh? Trước hay sau khi anh giả vờ rằng mọi chuyện đều ổn và anh vẫn ổn?”

“Em nghĩ rằng anh vẫn ổn?” Jace kêu khùng khục như sặc cười. “Vậy là anh diễn giỏi hơn anh tưởng.” Một nụ cười méo mó hiện lên trên đôi môi anh. Nó là que diêm nhóm lên lửa giận trong Clary. Sao anh dám cười cô chứ? Cô quờ lấy rổ đựng hoa quả, nhưng nó đột nhiên dường như không đủ. Cô đá cái ghế sang bên và lao vào anh, biết đó là điều cuối cùng anh nghĩ cô sẽ làm.

Việc cô bất ngờ tập kích khiến anh mất cảnh giác. Cô lao sầm vào khiến anh loạng choạng lùi lại, bám chặt lấy cạnh bàn bếp. Cô nhào vào, nghe tiếng anh thở dốc và điên cuồng giơ tay, không biết định làm gì.

Cô đã quên mất anh nhanh thế nào. Nắm đấm của cô không đánh trúng mặt anh, mà vào bàn tay đang giơ lên; anh giữ chặt nắm đấm của cô, ghì tay cô xuống xuôi người. Đột nhiên, cô ý thức được họ đang gần nhau tới mức nào: cô dựa vào anh, bao nhiêu số cân nặng chẳng bao lăm của cô đẩy tì anh sát bàn bếp. “Thả tay em ra.”

“Nếu anh thả tay em ra, em thật sự sẽ đánh anh sao?” Giọng anh khàn khàn nhưng nhẹ nhàng, ánh mắt nảy lửa.

“Anh không nghĩ anh đáng ăn đòn sao?”

Cô cảm thấy ngực anh chồi lên khi anh cười mà chẳng có chút vui vẻ. “Em cho rằng anh là kẻ bày trò sao? Em thực sự nghĩ vậy sao?”

“Ờ thì, anh không thích Simon, đúng không? Có lẽ anh chẳng bao giờ thích cậu ấy cả.”

Jace tạo ra một âm thanh khàn đặc và ngờ vực rồi thả tay cô ra. Khi Clary lùi lại, anh giơ tay phải, bàn tay mở rộng. Cô mất một lúc mới nhận ra cái anh định cho cô thấy: một vết sẹo xấu xí chạy dọc cổ tay. “Cái này,” anh nói, giọng căng như dây đàn, “là nơi anh cắt cổ tay để cho cậu bạn ma cà rồng của em uống máu. Anh đã suýt chết. Và giờ em nghĩ, sao nhỉ, rằng anh sẵn sàng bỏ mặc cậu ta?”

Cô chú mắt nhìn vết sẹo trên cổ tay Jace - một trong rất nhiều vết tích trên người anh, những vết sẹo đủ hình dạng và kích thước. “Sebastian nói rằng anh mang Simon tới đây, sau đó Alec đưa cậu ấy lên Gard. Để Clave có cậu ấy. Anh phải biết chứ...”

“Anh tình cờ mang cậu ấy tới đây. Anh bảo cậu ấy tới Học Viện để nói chuyện. Thật ra là về em. Anh nghĩ có khả năng Simon sẽ thuyết phục em không đi nữa. Mong rằng điều sau đây sẽ làm em vui hơn: cậu ta một mực không giúp. Đúng lúc đó, bọn anh bị một toán Kẻ Lầm Đường tấn công. Anh phải lôi theo cậu ta qua Cổng Dịch Chuyển. Hoặc làm vậy, hoặc bỏ mặc cậu ta chết ở đó.”

“Nhưng vì sao anh giao nộp cậu ấy cho Clave? Anh phải biết…”

“Lý do bọn anh đưa cậu ta tới đó là vì Cổng Dịch Chuyển duy nhất tại Idris nằm ở Gard. Họ bảo rằng họ sẽ đưa Simon về New York.”

“Và anh tin họ? Sau chuyện với Điều Tra Viên?”

“Clary, Điều Tra Viên là kẻ đầu óc không bình thường. Có thể bà ta là thành viên Clave duy nhất mà em biết, nhưng với anh thì không - Clave là bọn anh. Các Nephilim. Họ sống theo Luật.”

“Chỉ có điều họ đâu thèm nghe theo.”

“Đúng,” Jace nói. “Họ không hề.” Anh có vẻ rất mệt mỏi. “Và phần tệ hại nhất là,” anh nói thêm, “là chúng ta luôn biết Valentine chửi rủa Clave, rằng nó thối nát thế nào, rằng nó cần được thanh tẩy ra sao. Thề có Thiên Thần, về điều này anh đồng ý với ông ta.”

Clary im lặng, lúc đầu vì cô chẳng nghĩ ra gì mà nói, và sau là giật mình khi Jace vươn tay ra - gần như thể anh chẳng biết anh đang làm gì - và kéo cô về phía anh. Ngạc nhiên là, cô để anh làm thế. Qua lớp vải áo sơ mi trắng, cô thoáng thấy những Ấn Ký, những hình xoắn ốc màu đen tuyền, phủ đầy da anh như những lưỡi lửa. Cô muốn dựa đầu vào ngực anh, muốn cảm nhận cánh tay anh ôm lấy cô hệt như cô muốn dưỡng khí lúc chìm dưới hồ Lyn.

“Valentine đúng về chuyện mọi thứ cần được sửa đổi,” cuối cùng cô nói. “Nhưng hắn sai về cách thức. Anh hiểu, đúng không?”

Mắt Jace nhắm hờ. Cô nhận thấy hai mắt anh quầng thâm - dấu vết của nhiều đêm mất ngủ. “Anh chẳng biết anh hiểu gì nữa. Em có quyền giận, Clary. Anh không nên tin Clave. Anh rất muốn nghĩ Điều Tra Viên chỉ là một ngoại lệ, rằng bà ta hành động không có sự cho phép của họ, rằng anh vẫn có thể tin một phần nào đó trong Thợ Săn Bóng Tối.”

“Jace,” cô khẽ gọi.

Anh mở mắt và cúi nhìn cô. Cô nhận ra, cô và Jace đang đứng rất gần, toàn bộ cơ thể họ dán lấy nhau, đến đầu gối cũng chạm vào nhau. Cô còn cảm nhận được từng nhịp tim thổn thức của con tim anh. Tránh xa anh ấy ra, cô tự nhắc mình, nhưng đôi chân cô không nghe lời.

“Sao vậy em?” anh nhẹ nhàng nói.

“Em muốn gặp Simon,” cô nói. “Anh đưa em đi gặp cậu ấy nhé?”

Đột ngột hệt như khi anh nắm lấy tay cô, anh buông cô ra. “Không. Em thậm chí không được có mặt tại Idris. Em không thể ngang nhiên tới Gard được.”

“Nhưng Simon sẽ nghĩ mọi người đã bỏ rơi cậu ấy. Cậu ấy sẽ nghĩ...”

“Anh đã tới gặp cậu ta,” Jace nói. “Anh muốn đưa Simon ra. Anh định giật tung song cửa sổ,” Anh thủng thẳng kể lại. “Nhưng cậu ta không đồng ý.”

“Simon không đồng ý? Cậu ấy muốn ở lại nhà lao?”

“Cậu ấy nói Điều Tra Viên đang xoi mói gia đình anh, và anh. Aldertree muốn phần trách nhiệm về vụ việc ở New York sang nhà anh. Ông ta không thể bắt người nhà anh rồi ép cung – Clave sẽ không vui - nhưng ông ta muốn Simon kể cho ông ta nghe câu chuyện bọn anh bắt tay với Valentine. Simon nói nếu anh lôi cậu ấy ra, Điều Tra Viên sẽ biết anh là thủ phạm, và nhà Lightwood sẽ gặp rắc rối lớn hơn.”

“Simon mới tốt bụng và cao thượng làm sao, nhưng kế hoạch dài hơi của cậu ấy là gì vậy? Sống rục xương trong tù à?”

Jace nhún vai. “Bọn anh cũng chưa biết.”

Claiy thở dài thườn thượt. “Đồ con trai,” cô nói. “Được rồi, nghe này. Cái anh cần là bằng chứng ngoại phạm. Chúng ta sẽ đảm bảo anh ở nơi nào đó mọi người đều thấy anh, và cả nhà Lightwood nữa, và rồi chúng ta sẽ nhờ Magnus đưa Simon ra khỏi tù và trở lại New York.”

“Clary, anh ghét phải nói với em thế này, nhưng Magnus không thể làm được đâu. Anh không quan tâm Magnus nghĩ Alec dễ thương thế nào, ông ta không thể ra mặt đối chọi Clave chỉ vì chúng ta.”

“Magnus sẽ làm,” Clary nói, “vì Sách Trắng.”

Jace chớp mắt. “Cái gì?”

Clary kể qua cho anh nghe về cái chết của Ragnor Fell, về Magnus xuất hiện tại nhà Fell và về cuốn sách bùa phép. Jace tập trung nghe toàn bộ câu chuyện từ đầu tới cuối.

“Ác quỷ sao?” anh nói. “Magnus nói Fell bị quỷ giết?”

Clary nhớ lại. “Không - ông ta nói nơi ở của Fell bốc mùi quỷ ám. Và Fell bị giết bởi thuộc hạ của Valentine. Đó là tất cả ông ta nói.”

“Một vài phép thuật hắc ám để lại mùi giống như quỷ,” Jace nói. “Nếu Magnus không nói cụ thể, có thể vì ông ta không vui khi có một pháp sư ngoài kia đang sử dựng phép thuật hắc ám, vi phạm Luật. Nhưng đây cũng chẳng phải lần đầu tiên Valentine dùng một trong những đứa con của Lilith để làm việc bẩn thỉu cho hắn. Em có nhớ nhóc pháp sư bị ông ta giết ở New York chứ?”

“Valentine dùng máu thằng nhỏ đó cho Nghi Thức. Em nhớ.” Clary rùng mình. “Jace, có thể nào Valentine muốn cuốn sách vì cùng một mục đích như em? Để đánh thức mẹ em?”

“Có khả năng. Hoặc giả, nếu Magnus nói đúng, Valentine muốn sở hữu sức mạnh vĩ đại từ nó. Dù gì, chúng ta phải có nó trước ông ta.”

“Có khả năng nó ở trong trang viên Wayland không anh?”

“Anh biết nó ở đó,” anh nói, khiến cô bất ngờ. “Cuốn sách nấu ăn đó? Những công thức dành cho Bà nội trợ hay gì đó tương tự? Anh đã thấy nó rồi. Trong thư viện của trang viên. Chỉ có duy nhất một cuốn sách nấu ăn ở đó.”

Clary thấy chóng mặt. Cô không thể tin rằng điều đó là thật. “Jace - nếu anh đưa em tới trang viên và chúng ta lấy cuốn sách, em sẽ về nhà với Simon. Giúp em và em thề em sẽ cùng Simon trở lại New York, không trở lại nữa.”

“Magnus nói đúng - quanh đó có những kết giới dẫn sai hướng,” anh chậm rãi nói. “Anh sẽ đưa em tới đó, nhưng từ đây tới đó không gần lắm đâu. Đi bộ, chúng ta sẽ mất năm tiếng.”

Clary thò tay rút thanh stele khỏi thắt lưng anh. Cô giơ giữa hai người và ở đó, nó tỏa ra ánh sáng trắng nhạt không giống ánh sáng từ những tòa tháp pha lê. “Ai nói về việc đi bộ thế?”

“Mấy người tới thăm cậu khá kì lạ đấy, Ma cà rồng Ưa Sáng ạ,” Samuel nói. “Đầu tiên là Jonathan Morgensterm. Và giờ là thủ lãnh ma cà rồng của Thành phố New York. Tôi ấn tượng rồi.”

Jonathan Morgenstern? Simon mất một lúc mới nhận ra, tất nhiên, ông ta nói tới Jace. Cậu đang ngồi giữa phòng, lười nhác quay cái chai trên tay. “Chắc cháu quan trọng hơn cháu nghĩ.”

“Và Isabelle mang máu cho cậu,” Samuel nói. “Dịch vụ đưa hàng ngon lành phết.”

Simon ngẩng đầu. “Chú biết Isabelle đưa? Cháu có nói gì đâu...”

“Tôi thấy cô bé qua ô cửa sổ. Trông con bé giống hệt mẹ,” Samuel nói, “ít nhất, giống mẹ con bé nhiều năm về trước.” Có một khoảng lặng ngại ngùng. “Cậu biết máu chỉ là giải pháp tình thế,” chú ta nói thêm, “rất nhanh thôi, Điều Tra Viên sẽ tự hỏi liệu cậu đã chết đói chưa. Nếu thấy cậu hoàn toàn khỏe mạnh, hắn sẽ đoán ra và giết cậu thôi.”

Simon ngước nhìn xà lim. Những chữ rune khắc vào đá phủ lên nhau như cát trên mặt biển. “Chắc cháu phải tin Jace khi anh ta nói sẽ tìm ra cách đưa cháu ra,” cậu nói. Khi Samuel không đáp gì, cậu chêm thêm. “Cháu hứa sẽ nhờ Jace đưa chú ra cùng. Cháu sẽ không bỏ chú lại đâu.”

Samuel cười sằng sặc, như kiểu tiếng cười không thoát ra khỏi cổ họng. “Ồ, tôi không nghĩ Jace Morgenstern sẽ muốn giải cứu tôi đâu,” chú ta nói. “Hơn nữa, chết đói dưới đây là vấn đề nhỏ nhất của cậu đấy, Ưa Sáng. Rồi Valentine sẽ tấn công thành phố, và rồi tất cả chúng ta sẽ chết hết.”

Simon chớp mắt. “Sao chú chắc thế?”

“Từng có thời tôi rất thân cận với hắn. Tôi biết kế hoạch của hắn. Mục đích của hắn. Hắn muốn phá hủy các kết giới của Alicante và đánh thẳng vào trái tim của Clave.”

“Nhưng cháu tưởng quỷ không thể vượt qua kết giới. Cháu tưởng những kết giới đó kiên cố tuyệt đối.”

“Đấy là người ta nói thế. Để hạ kết giới, thứ nhất cậu cần có máu quỷ; thứ hai, điều đó phải được thực hiện từ bên trong. Nhưng vì không một con quỷ nào có thể chui qua kết giới - và, đây là chuyện hoàn toàn không thể. Nhưng Valentine nói hắn đã tìm ra cách, một cách để đột nhập vào. Và tôi tin hắn. Hắn đã tìm ra cách hạ kết giới, và hắn sẽ chui vào thành phố cùng đội quân quỷ của hắn, rồi hắn sẽ giết tất cả chúng ta.”

Sự đoán chắc trong cách nói của Samuel làm Simon lạnh xương sống. “Chú nói như kiểu chúng ta đang ngồi chờ chết vậy. Chú không thể làm gì sao? Báo với Clave chẳng hạn?”

“Ồ có chứ. Khi họ tóm được tôi. Tôi đã nói đi nói lại rằng Valentine định phá hủy kết giới, nhưng họ đâu có tin. Clave nghĩ kết giới muôn đời ở nguyên đó, vì chúng đã đứng vững cả ngàn năm nay. Và đế chế La Mã cũng vậy, cho tới lúc bọn mọi rợ xâu xé nó. Thứ gì mà chẳng có ngày tàn của nó.” Chú ta cười khùng khục: một tràng cười cay đắng, giận dữ. “Cậu cứ coi như ngoài kia đang có một cuộc đua giành mạng cậu đi, Ưa Sáng – Valentine, một cư dân Thế Giới Ngầm khác, hoặc là Clave.”

Ở đâu đó giữa đây và đó, bàn tay Clary bị giật khỏi tay Jace. Khi cơn bão thổi văng cô và cô đập xuống sàn nhà, cô rơi xuống một mình, mình mẩy ê ẩm, vừa thở vừa lăn tới khi dừng lại.

Cô từ từ ngồi dậy và nhìn quanh. Cô đang nằm giữa một tấm thảm Ba Tư trải trên nền một căn phòng tường đá lớn. Quanh đây có bày biện vài món nội thất: những tấm vải trắng chùm lên tất cả, tạo thành những bóng ma gù lưng to kềnh. Những tấm rèm nhung che ngang những ô cửa kính; nhung ngả màu trắng của bụi bám và những hạt bụi nhỏ li ti nhẹ nhàng bay như khiêu vũ dưới ánh trăng.

“Clary?” Jace xuất hiện sau một món đồ to đùng phủ khăn trắng; chắc là một cây đại dương cầm. “Em ổn không?”

“Ổn.” Cô đứng dậy, hơi nhăn mặt chút xíu. Khuỷu tay cô đau. “Nếu không tính chuyện cô Amatis có khả năng sẽ giết em khi chúng ta trở về. Vì em đã đập sạch banh đống đĩa và mở Cổng Dịch Chuyển ngay trong bếp.”

Anh chìa tay cho cô. “Không biết để được gì,” anh nói, giúp cô đứng vững. “Anh rất ấn tượng.”

“Cám ơn.” Clary liếc nhìn quanh. “Vậy đây là nơi anh lớn lên? Nó giống như một nơi bước ra từ chuyện cổ tích ấy.”

“Anh đang nghĩ tới một bộ phim kinh dị,” Jace nói. “Chúa ơi, đã nhiều năm rồi anh mới nhìn lại nơi này. Trước đây nó không quá…”

“Lạnh?” Clary hơi run. Cô đóng cúc áo, nhưng cái lạnh trong trang viên này còn hơn cái lạnh hữu hình: Nơi này cho người ta cảm giác lạnh lẽo, như thể nơi này chưa từng được ánh nắng sưởi ấm, chiếu sáng; một nơi chưa từng có lấy một tiếng cười.

“Không,” Jace nói. “Nó luôn luôn lạnh. Anh đang nói là bụi bặm.” Anh rút viên đá phù thủy từ túi áo, và nó bừng sáng giữa những ngón tay anh. Ánh sáng trắng từ dưới hắt ngược lên gương mặt anh, tạo nên những bóng đen dưới má, những hố sâu hai bên thái dương. “Đây là phòng học, và chúng ta cần tới thư viện. Đi nào.”

Anh dẫn cô rời phòng và bước đi trên một hành lang dài với hàng tá gương phản chiếu hình ảnh họ. Clary không nhận ra trông cô bù xù thế nào: áo cô dính bụi, tóc tai xơ xác. Cô cố vuốt thẳng thớm và thấy hình Jace cười toe toét trong tấm gương tiếp theo. Vì lý do gì đó, chắc chắn là do một thứ phép thuật Thợ Săn Bóng Tối huyền bí mà cô chẳng mong hiểu, tóc anh trông vẫn hoàn hảo.

Dọc hành lang, những cánh cửa cách nhau từng quãng một, một vài trong số đó đã mở sẵn; Clary đã liếc nhìn qua vài căn phòng, chúng cũng bụi bặm và hoang phế hệt như phòng học. Valentine bảo chú Michael Wayland không có họ hàng thân thích nên chắc chẳng ai thừa hưởng nơi này sau khi chú ấy “chết” - cô cứ tưởng Valentine sẽ tiếp tục sống tại nơi đây, nhưng rõ ràng là không. Mọi thứ đều toát lên sự tang thương và hoang phế. Ở Renwick's, Valentine đã gọi nơi này là “nhà,” đã cho Jace nhìn thấy nó qua gương Dịch Chuyển, một ký ức mạ vàng về những cánh đồng xanh và những tảng đá thân thuộc, nhưng đó, cũng chỉ là dối trá. Rõ ràng, Valentine không sống ở đây trong nhiều năm ròng - có lẽ hắn chỉ bỏ mặc cho nó mục nát, hoặc thi thoảng hắn mới tới, để lượn lờ trong những hành lang tối tăm tựa như một bóng ma.

Họ tới cuối hành lang và Jace mở cửa, đứng sang bên để Clary đi qua trước. Cô đã tưởng nơi này giống thư viện của Học Viện, và hóa ra, nó không hoàn toàn giống; nó cũng có những bức tường chất đầy những sách, cũng những cái thang di động để với tới những giá sách cao. Trần nhà phẳng và đổ mái nghiêng, không phải hình nón, và ở đây không có bàn. Những tấm rèm nhung xanh lá, những nếp gấp dính đầy bụi trắng treo trên cửa sổ kính họa tiết màu xanh lam và xanh lá. Dưới ánh trăng, chúng lấp lánh như những bông tuyết có màu vậy. Bên ngoài tấm kính kia, không gian chìm trong bóng đen.

“Đây là thư viện?” cô thì thầm hỏi Jace, dù chẳng hiểu vì sao. Có gì đó đặc biệt tĩnh lặng trong căn phòng lớn, trống trải này.

Anh đang nhìn ra sau cô, đôi mắt tối lại khi những ký ức ùa về. “Anh từng ngồi trên ô cửa sổ đó và đọc bất cứ cái gì bố đưa anh đọc. Những thứ ngôn ngữ khác nhau cho những ngày khác nhau - thứ bảy tiếng Pháp, chủ nhật tiếng Anh - nhưng giờ anh không nhớ được ngày tiếng La tinh là ngày nào, có thể là thứ hai hay thứ ba gì đó...”

Đột nhiên, Clary nghĩ tới hình ảnh cậu bé Jace, cuốn sách đặt trên đầu gối ngồi trên bậu cửa sổ, nhìn ra ngoài - ngoài gì nhỉ? Ở đây có vườn không? Một nơi để ngắm cảnh? Những bức tường gai cao cao giống bức tường quanh lâu đài của Người Đẹp ngủ trong Rừng? Cô thấy khi anh đọc, ánh sáng xiên qua ô cửa sổ tạo thành những ô vuông màu xanh lam và xanh lá trên mái tóc vàng và khuôn mặt nhỏ nhắn nghiêm túc hơn bất cứ đứa trẻ mười tuổi nào khác.

“Anh không nhớ được,” anh nhắc lại, nhìn chằm chằm vào bóng tối.

Cô chạm vào vai anh. “Không sao đâu, Jace.”

“Chắc vậy.” Anh lắc mình, như vừa tỉnh dậy khỏi giấc mộng và sải bước đi với ngọn đèn phù thủy tỏa sáng trên tay. Anh quỳ xuống rà gáy một hàng sách và đứng thẳng dậy với một cuốn trên tay. “Công thức đơn giản cho những bà nội trợ,” anh đọc. “Nó đây.”

Cô vội chạy tới và cầm lấy cuốn sách. Trông nó rất bình thường với gáy xanh và bám bụi, hệt như mọi thứ trong ngôi nhà. Khi cô mở sách, bụi bay lên từ những trang giấy như cả một đàn bướm đêm vỗ cánh bay lên không trung.

Một cái lỗ lớn, hình vuông được cắt rời ở giữa sách. Đặt vừa khít trong cái lỗ như một viên đá quý là một cuốn sách bé hơn, bằng tầm một cuốn sách cầm tay nhỏ, bìa da trắng với tựa đề in bằng chữ La tinh mạ vàng. Clary nhận ra từ “trắng” và “sách”, nhưng khi cô cầm nó lên mà mở, ngạc nhiên là những trang giấy viết đầy những chữ viết tay mảnh, rối rắm bằng một thứ ngôn ngữ cô không thể hiểu được.

“Tiếng Hy Lạp,” Jace nói, ngó qua vai cô. “Cổ đại.”

“Anh đọc được không?”

“Hơi khó chút,” anh thừa nhận. “Nhiều năm rồi mà. Nhưng chắc là Magnus có thể.” Anh gập sách và nhét vào túi áo khoác nhung xanh của cô trước khi trở lại giá sách, lục tìm những hàng sách, những đầu ngón tay lần theo gáy sách.

“Anh muốn cầm cuốn nào đi không?” cô nhẹ nhàng hỏi. “Nếu anh muốn.”

Jace cười và hạ tay xuống. “Anh chỉ được đọc khi được bảo,” anh nói. “Một vài giá sách có những cuốn anh còn chẳng được động tới.” Anh chỉ một hàng sách, cao hơn, bìa da nâu giống nhau. “Anh từng đọc một cuốn, khi anh lên sáu, để hiểu giận là gì. Hóa ra đó là một cuốn nhật ký bố anh còn giữ. Về anh. Những ghi chép về, ‘con trai ta, Jonathan Christopher.” Ông ta dùng thắt lưng quất anh khi biết anh đã đọc. Thực ra đó là lần đầu tiên anh biết mình có tên đệm.”

Cảm giác đau đớn của hận thù đối với người bố đẻ cháy trong Clary. “Nhưng giờ Valentine đâu có ở đây.”

“Clary...” Jace dợm nói, trong giọng chứa đựng sự cảnh cáo, nhưng cô đã vươn tay và với một cuốn sách ra khỏi giá sách cấm, làm nó rơi xuống sàn. Một âm thanh thịch vừa lòng người vang lên, “Clary!”

“Ồ, thôi nào.” Cô lại làm lại, hạ rơi một cuốn sách khác, và một cuốn nữa. Bụi bay lên từ những trang giấy khi rơi xuống sàn. “Anh thử đi.”

Jace nhìn cô một lúc, và rồi một nụ cười nửa miệng cong lên nơi khóe môi anh. Vươn tay lên, anh lướt tay trên giá, đánh hạ những cuốn sách còn lại xuống sàn với tiếng soạch lớn. Anh cười - và rồi ngừng lại, ngẩng đầu, như một con mèo giương tai nghe ngóng tiếng động từ đằng xa. “Em nghe thấy không?”

Nghe thấy gì? Clary định hỏi thì dừng lại. Đúng là có tiếng động, càng ngày càng lớn hơn - một tiếng rít the thé và tiếng kêu ken két, giống như tiếng máy cơ hoạt động. Âm thanh đó dường như vọng từ trong những bức tường. Dù không muốn nhưng cô vẫn phải thối lui ngay khi những tảng đá trước mặt họ trượt vào với tiếng kêu rền rĩ, cọt kẹt - một khung cửa xấu xí mở ra trên tường.

Đằng sau khung cửa là một cầu thang, dẫn vào bóng tối.