Xin Cho Tôi Gọi Cô Là Em Yêu

Chương 40



Buổi chiều ngày thứ Ba, Jason Arnott lái xe hơi rời khỏi Alpine để đến ngôi nhà rộng lớn của ông ta ở nông thôn, nằm khuất giữa những ngọc đồi trong một vùng hẻo lánh của Catskills, nơi ông ta cất giấu kho tàng vô giá ông ta đã ăn trộm.

Ông ta biết ngôi nhà này là một thứ ma túy, một sự phát triển đôi khi không thể kiềm chế thúc đẩy ông ta ăn trộm những đồ vật đẹp ông ta thấy trong nhà những người quen biết. Vì, xét cho cùng, chính vẻ đẹp đã khiến cho ông ta làm những việc đó. Ông ta mê vẻ đẹp, ông ta mê dáng dấp của vẻ đẹp,cảm giác của vẻ đẹp. Một đôi khi, sự khao khát nắm lấy một vật nào đó, vuốt ve nó, mãnh liệt đến nỗi gần như không chống lại được. Đó là một đặc tính bẩm sinh, và như vậy, vừa là một phúc lành vừa là một tai họa. Một ngày nào đó nó sẽ gây rắc rối cho ông ta. Hầu như đã có một vài dấu hiệu. Ông ta bắt đầu bồn chồn mỗi khi khách đến nhà trầm trồ những tấm thảm, đồ đạc, bức tranh hoặc đồ mỹ nghệ trang hoành trong nhà ông ta ở Alpine. Thường thường ông ta cười thầm với ý nghĩ họ sẽ sửng sốt như thế nào nếu ông nói toạc ra: "Nơi này là bình thường theo những tiêu chuẩn của tôi".

Nhưng, lẽ tất nhiên, ông ta sẽ không bao giờ nói ra, bởi vì ông ta không ước mong san sẻ bộ sưu tập riêng của mình với bất cứ một ai. Đó là của một mình ông ta.

Và sẽ luôn luôn như thế.

Hôm nay là ngày lễ Halloween, ông ta nghĩ với ý gạt bỏ điều làm ông ta bận tâm, trong lúc ông ta lái xe chạy nhanh trên đường 17. Ông ta vui mừng vì đã thoát ra ngoài lễ hội. Ông ta không ước mong bị quấy rối bởi những đứa bé giả trang liên tục gọi cửa. Ông ta đang mệt mỏi.

Vào kỳ cuối tuần, ông ta đến một khách sạn ở Bethesda, trong bang Maryland, và lợi dụng thời gian này để ăn trộm trong một ngôi nhà ở Chevy Chase nơi ông ta đã tham dự một bữa tiệc trước đó vài tháng. Trong bữa tiệc tối đó, Myra Hamilton, đã nói không ngừng về cuộc hôn nhân sắp tới của con trai bà ta, sẽ diễn ra vào ngày 28 tháng Mười tại Chicago, dường như có nghĩa thông báo cho những ai muốn biết rằng ngày hôm đó nhà bà ta sẽ không có ai ở nhà.

Ngôi nhà của Hamilton không lớn, nhưng tuyệt đẹp, đầy những món có giá trị mà gia đình Hamilton đã sưu tập trong nhiều năm. Jason đã chảy nước bọt khi nhìn một khuôn dấu để bàn Fabergé bằng xa phia màu xanh gắn trên một nắm tay bằng vàng hình quả trứng. Cái đó và một tấm thảm Aubusson tinh xảo chín-tấc-một-mét-rưỡi có một bông hoa hồng ở chính giữa mà họ dùng làm vật treo tường là hai món ông ta muốn chiếm đoạt hơn hết.

Giờ đây cả hai món đó đang nằm trong ngăn hành lý của xe ông ta, trên đường đến nơi ẩn dật của ông ta. Bất giác, Jason cau mày. Ông ta không có cái cảm giác chiến thắng như thường lệ mỗi lần đạt tới mục đích. Một nỗi lo lắng mơ hồ, không sao xác định đang day dứt ông ta. Ông ta thầm xem xét lại từng bước một trong quá trình đột nhập nhà của Hamilton.

Hệ thống báo động đã được bật lên nhưng cũng dễ tắt đi. Rõ ràng ngôi nhà không có ai, như ông ta đã đoán trước. Trong chốc lát, ông ta đã định thăm dò ngôi nhà một cách nhanh chóng, tìm kiếm bất cứ gì có giá trị lớn mà ông ta đã không nhận thấy trong buổi tiệc. Nhưng ông ta thực hiện theo đúng kế hoạch ban đầu, chỉ lấy những món ông ta đã để ý từ trước.

Ông ta đã nhích từng phân trong luồng xe cộ lưu thông trên đường 240 khi hai chiếc xe cảnh sát, hụ còi và chớp đèn, chạy qua mặt ông ta và rẽ trái vào con đường ông ta vừa rời khỏi. Hiển nhiên, họ đang trên đường đến nhà Hamilton. Điều đó, tất nhiên, có nghĩa là không biết bằng cách nào ông ta đã kích hoạt hệ thống báo động ngầm độc lập đối với hệ thống chính.

Gia đình Hamilton còn có kiểu báo động nào khác? Ông ta tự hỏi. Lúc này người ta rất dễ che giấu các máy quay phim. Ông ta đã mang bít tất làm mặt nạ mà ông ta luôn luôn trùm lên mặt mỗi khi bước vào một trong những ngôi nhà ông ta đã lựa chọn, nhưng vào một lúc trong đêm hôm nay ông ta đã cởi mặt nạ ra để xem kĩ một bức tượng hình người nhỏ bằng đồng, một việc làm ngu xuẩn - hóa ra bức tượng nhỏ đó chẳng có giá trị gì.

Chỉ một phần triệu khả năng có một máy quay phim đã chụp được mặt của mình, Jason tự trấn an. Ông ta sẽ xua tan mọi nỗi lo âu và tiếp tục với cuộc sống, mặc dầu phải thận trọng hơn một chút trong một thời gian.

Mặt trời buổi chiều gần như mất dạng phía sau những ngọn núi khi ông ta chạy xe vào nhà. Cuối cùng ông ta cảm thấy lên tinh thần. Người láng giềng gần nhất ở cách đây nhiều cây số. Maddie, bà giúp việc đến một lần một tuần - một phụ nữ cao lớn, lạnh nhạt, kém tưởng tượng và không thắc mắc - vừa mới đến ngày hôm qua. Mọi vật sẽ bóng loáng.

Jason biết rằng bà ta sẽ không nhận ra sự khá biệt giữa một tấm thảm Aubusson và một tấm thảm có giá mười đô là mỗi mét, nhưng bà ta là một trong những con người hiếm hoi lấy làm hãnh diện vì công việc của mình và chỉ bằng lòng với sự hoàn hảo. Trong mười năm, bà ta không bao giờ làm mẻ một cái tách.

Jason mỉm cười một mình, nghĩ tới phản ứng của Maddie khi bà ta nhận thấy tấm thảm Aubusson treo trong tiền sảnh và cái khuôn dấu để bàn Feberge trong phòng ngủ chính. Ông ấy không có đủ đồ cần phải hút bụi hay sao? Chắc bà ta sẽ tự hỏi trong lúc tiếp tục các công việc lặt vặt của mình. Ông ta đậu xe trước cửa bên, rồi, với sự nôn nóng luôn luôn xâm chiếm đầu óc mỗi lần ông ta đến đây, ông ta bước vào trong nhà và với tay tìm công tắc đèn. Một lần nữa, nhìn những vật hết sức đẹp như thế môi và bàn tay của ông ta lại ẩm ướt vì thích thú. Mấy phút sau, sau khi cất túi thực phẩm qua đêm và an toàn mang các tài sản mới vào bên trong, ông ta khóa cửa và gài chốt. Buổi tối của ông ta bắt đầu.

Công việc đầu tiên của ông ta là đem cái khuôn dấu Feberge lên gác và đặt nó lên bàn trang điểm kiểu cổ. Sau đó, ông ta thụt lùi lại để ngắm nó, rồi cúi người xuống và so sánh nó với cái khung ảnh nhỏ đã ở trên bàn đầu giường suốt mười năm nay.

Cái khung ảnh này tượng trưng cho một trong mấy lần ông ta bị lừa gạt. Đó chỉ là một bản sao Fabergé đứng đắn, chắc chắn không phải là thứ thật. Điều đó giờ đây dường như đã quá rõ ràng. Nước men màu xanh trông có vẻ xỉn, so sánh với màu sẫm của khuôn dấu. Đường viền bằng vàng khảm ngọc trai không là gì so với tài nghệ Fabergé đích thực. Nhưng từ bên trong khung ảnh đó, khuôn mặt của Suzanne đang mỉm cười với ông ta.

Ông ta không thích nghĩ tới đêm hôm ấy, cách đây gần mười một năm. Ông ta đã lẻn vào qua cửa sổ mở sẵn của phòng khách kế phòng ngủ chính. Ông ta biết ngôi nhà được xem là không có người ở. Chính ngày hôm ấy, Suzanne đã kể cho ông ta nghe cô đã hứa đi dự bữa tiệc trong buổi tối, và Skip sẽ không có mặt ở nhà. Ông ta đã biết mã số hệ thống báo động, nhưng khi ông ta đến đó, ông ta trông thấy cửa sổ mở rộng. Lúc ông ta lên gác, khắp nơi tối đen. Trong phòng ngủ, ông ta nhận ra khung ảnh nhỏ mà ông ta đã trông thấy trước đó; nó đang ở trên mặt bàn đầu giường. Nhìn từ xa trông nó có vẻ đích thực. Ông ta còn đang xem xét nó kỹ hơn thì chợt nghe một giọng nói. Suzanne! Hoảng hồn, ông ta đã bỏ khung ảnh vào túi và ẩn trốn trong một tủ quần áo.

Giờ đây, Jason nhìn xuống khung ảnh. Nhiều năm qua,thỉnh thoảng ông ta vẫn tự hỏi lý do kỳ quái nào đã khiến ông ta không gỡ tấm ảnh của Suzanne ra khỏi cái khung, hoặc vứt bỏ toàn bộ đi. Xét cho cùng, khung ảnh chỉ là một vật sao chép.

Nhưng, đêm này, trong lúc nhìn chăm chú vào nó ông ta mới hiểu được vì sao ông ta vẫn để nguyên tấm ảnh và cái khung. Đó là vì nó đã giúp ông ta xóa khỏi ký ức gương mặt ghê rợn, méo mó của Suzanne khi ông ta tìm đường tẩu thoát.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.