Xin Hãy Quên Em

Chương 7



“Nó có làm việc bán thời gian khác không?” Cassie hỏi khi chúng tôi ngồi trong căn phòng khách nhỏ trang trí sặc sỡ của nó ở Chelsea tối hôm sau. Tôi ghé qua trên đường từ Boltons về để hỏi ý kiến của nó: Cassie có thể thiếu quyết đoán nhưng nó biết nhiều thứ lặt vặt và cả thị trường lao động phổ thông rõ hơn tôi. “Ví dụ như nó có làm ở một quán bar nào không?”

“Không.”

“Nếu có thì nó có nói cho chị biết không?”

“Nó chẳng việc gì phải giấu cả.”

“Nó có thể nghĩ là chị sẽ lo lắng về việc nó không đủ sức giúp chị.”

“Quả đúng thế, nhưng thậm chí nó không nói chị cũng sẽ biết vì nếu làm ở quán bar, nó sẽ về rất muộn và người sẽ nồng nặc mùi rượu và thuốc lá.”

“Nhưng chắc nó phải làm gì đó vì sáng nào nó cũng đến trường học cả, đúng không chị?”

“Ừ. Mỗi buổi sáng hằng tuần.” Tôi cảm thấy bực bội vì mình phải đóng học phí cho nó trong khi nó có nhiều tiền mặt hơn cả tôi. Tôi thậm chí còn bực hơn về chuyện mua thẻ hội viên cho nó ở câu lạc bộ dưỡng sinh, mặc dù công bằng mà nói nó đã cực lực phản đối việc tôi mua thẻ cho nó.

Cassie cầm lấy ly sâm banh - thứ duy nhất nó uống. “Sau đó nó trông Milly đến...”

“Năm giờ ba mươi.”

“Vậy là trừ buổi tối và những ngày cuối tuần.” Nó nhấp một ngụm sâm banh và nheo mắt lại. “Chị có nghĩ là nó làm điếm không?”

Tôi trố mắt nhìn Cassie. “Không - nó không... có vẻ gì là như thế cả.”

“Vì em gặp nó rồi nên em cũng nghĩ thế, nhưng mà,” nó nhướng mày- “biết đâu được.”

“Buổi tối Luisa chẳng mấy khi ra ngoài; thỉnh thoảng có đi gặp bạn bè nhưng nó thường ở nhà chơi ghi ta hoặc xem tivi. Chị cho là nó chẳng thể ra ngoài nhiều thế.”

Cassie nhặt đồ đan dở lên - một cuộn len màu hồng giống màu kẹo cao su đang móc vào một cái que. “Cướp nhà băng chăng?” nó ướm thử khi cuộn sợi len vào ngón tay trỏ của mình.

“Không. Và chị dám chắc là nó thậm chí không đi lừa bịp các bà già - hay ra trộm đồ trong cửa hàng. Có lẽ là nó trúng số - họ có trả bằng tiền mặt không?”

Cassie lắc đầu. “Bằng séc. Em đã từng trúng năm trăm bảng nên em biết.” Nó xoay hai cái que lại và bắt đầu đang xuống một hàng mới. “Có khả năng nó chơi cờ bạc. Khi còn làm hồ ở sòng bạc em biết một cô trông trẻ kiếm được tám ngàn bảng một đêm sau ba ván bài xìlác với chỉ mười bảng tiền cược.”

“Chị không thể hình dung được Luisa lại có thể chui vào một sòng bạc. Nhưng nó còn lại bốn ngàn bảng,” tôi nói tiếp. “Vậy nó đã tiêu ít nhất một ngàn cho chỗ quần áo mới, hóa đơn điện thoại và vài thứ khác - tóm lại nó có năm ngàn bảng cả thảy. Làm sao nó có thể để dành năm ngàn bảng chỉ trong ba tháng với bảy mươi bảng một tuần nó kiếm được từ việc trông trẻ.”

“Nó không thể làm thế được. Một đan, một móc...” Cassie nhìn lên. “Vậy thì như em nói, chắc nó phải làm điều gì đó mờ ám. Khỉ thật - em lại đan lỗi rồi... dù sao thì nó là người Colombia mà. Ba mẹ nó làm nghề gì?”

“Họ làm... nông dân,” tôi nói.

“Ồ.”

“Vậy thì đúng rồi - nó bán ma túy. Em không hiểu sao chị lại không nghĩ đến việc đó.”

“Chỉ vì nó không có vẻ gì... là loại người đó.”

Cassie lại lắc đầu. “Cũng không dễ để biết được. Thêm nữa, nó từng sống ở Marbella phải không?”

“Đúng, nó giúp việc cho một gia đình ở đó.”

“Chà, đó là một ổ ma túy.” Thình lình tôi nhớ lại việc người chồng ở gia đình đó đã nói rằng Luisa đang tìm kiếm “cơ hội tốt hơn” ở Luân Đôn. Cassie lại ngẩn người với cái que đan. “Khỉ thật - em lại đan sai rồi. Nếu em là chị, em sẽ xem xét phòng của nó lần nữa.”

Sau khi quay về nhà tôi bảo Luisa đưa Milly ra công viên chơi rồi chạy thẳng lên phòng nó, lần này tôi chẳng cảm thấy tội lỗi gì nữa. Bởi lẽ nếu Luisa đang bán ma túy và bị bắt, rồi bằng cách nào đó bị đưa lên báo thì công việc mới của tôi sẽ bị hủy hoại bởi tiếng xấu. Tôi mường tượng ra những dòng tít - mà những tờ báo lá cải sẽ mớm cho kênh GMTV, dù là nhẹ nhàng nhất đi nữa- NHÀ THIẾT KẾ VƯỜN CỦA KÊNH TIVI BUỔI SÁNG BỊ BẮT VÌ MA TÚY!. Quan trọng hơn là nếu Milly mà tình cờ tìm thấy và nuốt một ít thì... Tôi rùng mình.

Tôi lục lọi mấy ngăn kéo của Luisa lần nữa. Tôi mở cái lọ đựng bánh quy và thấy nó vừa để thêm ba trăm bảng nữa chỉ trong mấy ngày qua. Rồi tôi bắt đầu tìm những gói nhỏ đựng chất bột màu trắng. Tôi mở tủ, tìm kiếm trong những chiếc giày và túi quần áo của nó. Tôi lục lọi cả bên trong cái ghi ta và mấy chiếc đĩa CD, săm soi kỹ cả mấy quyển sách của nó phòng khi chúng là đồ ngụy trang. Tôi tìm trong vali, hộp đựng nữ trang, tay tôi lướt dọc bậu cửa sổ nhưng tất cả những gì rơi ra chỉ là một chút bụi.

Có lẽ nó có một lời giải thích rằng nó vô tội. Tôi chợt nghĩ khi bước vào Head Girls, hiệu làm đầu của tôi, hai ngày sau. Tôi nhăn mũi khi ngửi thấy mùi amôniắc của thuốc tẩy. Có thể ba mẹ Luisa biết nó sẽ sang châu Âu trong ít nhất hai năm nên đưa cho nó số tiền đó phòng khi cho chuyện khẩn cấp. Cũng có thể đó là số tiền nó kiếm được từ việc làm trước. Bằng cách nào đi nữa thì tại sao khi chúng tôi bàn về học phí của khóa học tiếng, nó lại khăng khăng là mình không có tiền. Không phải vậy, rõ ràng là nó đã gom được số tiền đó chỉ gần đây thôi. Nhưng bằng cách nào?

Tôi không thể hỏi nó trực tiếp vì như thế nó có thể bỏ đi, và tôi không còn ai để nhờ cậy - ngoài ra tôi cũng không muốn như vậy trừ trường hợp bắt buộc. Tôi cũng chẳng thể buộc tội nó bất cứ điều gì mà không có bằng chứng - điều đó làm tôi chẳng khá hơn Citronella chút nào. Nếu Milly bé hơn khoảng một tuổi, tôi có thể giả vờ rằng Milly tình cờ đi vào phòng nó và tìm ra cái gì đó, nhưng mà giờ Milly đã gần ba tuổi và con bé sẽ phủ nhận ngay chuyện đó.

Khi ngồi trong phòng chờ, tai nghe tiếng vo ve của những cái máy sấy tóc, tôi cầm lên một tờ tạp chí I Say! và đọc phần Những Lời Thú Tội Chân Thực với sự kinh tởm sâu sắc. “Bà Ngoại Cướp Mất Bạn Trai Tôi!”; “Chồng Tôi Đổi Tôi Để Lấy Một Chiếc Porsche!”; “Cuộc Đời Bí Mật Của Mẹ Tôi!” Thật ra tôi chỉ đọc những chuyện như vậy khi phải ngồi chờ mà thôi, điều này thì chỉ thường xảy ra ở hiệu làm đầu. Tôi rùng mình. “Bạn Trai Tôi Bị Một Con Cá Mập Xơi!”

“Chào Anna,” Sandra nói. “Lâu lắm không gặp em, chị nghĩ em đã chọn hiệu khác rồi chứ.”

“Sao em lại làm thế được,” tôi nói và đặt tờ báo xuống. “Tại em quá bận nên không đến được.”

“Thế thì tốt quá.” Chị nghiêng đầu sang một bên và ngắm nghía tôi. “Em cần cắt bớt tóc đi, em gái ạ.”

“Em cần tỉa bớt đi. Chị có thể cắt từng lớp được không?”

“Được chứ.” Chị ước lượng chỗ tóc của tôi trên tay mình. “Như thế trong sẽ gọn hơn nhiều.”

“Vâng, em chỉ cần có thế - mái tóc lười biếng.”

“Không đến nỗi nào đâu cưng,” chị an ủi và chụp một cái áo choàng đen bóng loáng lên người tôi. “Gần đây em thế nào?” chị hỏi khi dẫn tôi qua những người khách khác vào chỗ những chiếc bồn gội đầu màu trắng.

“Em ổn cả, cám ơn chị. Thực ra thì rất ổn.”

“Công việc của em trôi chảy chứ?” Tôi ngả đầu ra sau khi Sandra bắt đầu gội tóc tôi. “mà này, em trông rất tuyệt trên kênh GMTV. Giờ thì chị biết đặt chậu thủy tiên của chị ở đâu rồi!” Chị cười khúc khích. “Em sẽ tiếp tục trên đó chứ?”

“Vâng - tháng Sáu tới.” Tôi cảm thấy thoải mái khi dòng nước nóng chảy dọc tóc mình. “Họ bảo em làm chương trình đó ba tháng một lần.”

“Sao em biết chương trình đó?”

“Người sản xuất chương trình gọi điện cho giáo viên cũ của em để xin tư vấn và ông ấy đã giới thiệu em.”

Sandra bắt đầu xoa dầu gội lên tóc và tôi cảm thấy nhẹ nhõm,bao nhiêu căng thẳng bị cuốn đi khi chị miết những ngón tay lên đầu tôi.

“Thế chắc em bận rộn lắm?”

“Vâng. Em đang có một dự án lớn ở khu Boltons.”

“Hay thế...”

“Rồi sắp tới em có thêm đơn hàng cho hai mảnh vườn nhỏ nữa.”

“Xả lần cuối nào. Thế còn Milly?” chị hỏi khi chúng tôi đi lại phía cái gương.

“Cháu vẫn khỏe, cảm ơn chị.” Tôi quệt dòng nước chảy dọc xuống tai. “Cháu đã bắt đầu đi nhà trẻ Sweet Peas rồi.”

“Thế còn em?” Sandra chải mái tóc ướt của tôi. “Em đã gặp ai chưa?” Tôi nhìn vào gương và thấy chị vẫy vẫy tôi bằng cái lược với vẻ thông cảm. “Dù đã có con hay chưa em vẫn có quyền sống cho riêng mình chứ.” Sandra là một bà mẹ độc thân có một cô con gái nay chừng mười sáu tuổi tên Lydia, dường như đang muốn truyền cho tôi kinh nghiệm của một người mẹ nuôi con một mình.

“À...” tôi do dự một lúc vì sợ rằng Sandra có thể ngồi lê đôi mách. Mặt khác, tôi chẳng có gì phải giấu diếm cả. Tại sao tôi lại không thể kể cho chị ấy nghe về Patrick nhỉ, tôi băn khoăn. Tự nhiên tôi muốn thổ lộ cùng ai đó. “Thực ra thì có một người.” Tôi nhìn vào gương. “Thú thực là tối nay em có hẹn.”

Sandra mỉm cười nhìn tôi. “Tốt rồi.” Chị túm một ít tóc của tôi, quấn phần đuôi vào cái lược và bắt đầu tỉa nó bằng kéo. “Kể cho chị nghe về anh ấy đi.”

“À, anh ấy là một người lịch lãm, đẹp trai, phong lưu và sống động.” Tôi bắt đầu kể khi một cô thợ học việc mang đến một tách cà phê.

“Nghe có vẻ triển vọng nhỉ?”

“Dù chưa quen lâu nhưng em thích anh ấy,” tôi nói với vẻ hào hứng.

“Chị thấy mừng cho em,” Sandra nói khi lọn tóc bị cắt rơi xuống sàn nhà. “Em gặp anh ấy lúc nào?” Tôi kể cho chị nghe chuyện chiếc giày của Milly. “Lãng mạn thế,” Sandra tỏ ra thích thú. Rồi tôi kể tiếp chuyện xảy ra ở nhà thờ. “Còn lãng mạn hơn, nó gần như là duyên trời định,” chị nhận xét.

“Ồ, không,” tôi cười tủm tỉm. “Vì sau đó em phát hiện ra anh ấy sắp đặt cái duyên ấy bằng cách mua sạch chỗ vé.”

“Oa, thế à, anh ấy cũng quái đấy nhỉ - và chắc hẳn giàu lắm. Anh ấy làm nghề gì vậy em?”

“Hiện tại thì chẳng làm gì nhiều – năm ngoái anh ấy vừa bán đi công ty về Internet của mình và đang dự tính một dự án mới. Thế nhưng anh ấy cũng thích làm vườn,” tôi nói tiếp. “Ít ra thì đó cũng là điểm chung giữa hai chúng em. Anh ấy còn nuôi cả ong.”

Sandra bỗng dừng lại. “Ong à?” chị hỏi lại và nhìn tôi trong gương.

“Vâng - anh ấy có ba tổ ong trong vườn nhà.”

“Vậy anh ta sống ở đâu?”

“Ở khu St. Peter.”

“Và trước kia anh ta sống ở Brook Green phải không? Ở đường Caithness?”

“Làm sao chị biết?” Tôi nhìn Sandra nhưng chị ngoảnh mặt đi chỗ khác.

“Em đang nói về Patrick Gilchrist,” chị tiếp tục tỉa mái tóc của tôi.

“Đúng vậy, chị biết anh ấy à?” Tôi hỏi.

“Không... nhiều.” Sandra túm một lọn tóc khác lên. “Nhưng chị biết vợ cũ của anh ấy.”

“Ồ.” Tôi ước gì mình nghe theo bản năng và chẳng kể gì cả. “Thế nào hả chị?”

“Cô ấy là một khách hàng của chị trong suốt bốn năm kể từ khi cặp với Patrick. Thỉnh thoảng chị vẫn nhận được email của cô ấy. Cô ấy rất tốt.”

“Thật vậy ư? Thành thật mà nói em không nghĩ việc mang một thằng bé con sang sống tận New Zealand trong khi ba nó vẫn ở Anh là điều đúng đắn.”

“À... có vẻ như thế,” Sandra gật gù. “Nhưng mà theo quan điểm của chị ấy,” chị lẩm bẩm. “Cô ấy có... lý do riêng... Chị không biết nữa...” Sandra ngập ngừng. “Cũng không phải chuyện của chị.”

“Dù sao thì em cũng chưa biết rõ Patrick lắm, nhưng anh ấy rất lôi cuốn,” tôi nói, cố lái câu chuyện sang một hướng khác thoải mái hơn.

“Quả vậy,” Sandra ngắt lời tôi. “Anh ấy rất quyến rũ.”

“Và anh ấy cũng khá là thú vị,” tôi kết luận. “Em có ấn tượng tốt về anh ấy.”

“Em ngẩng đầu cao lên một chút nhé,” Sandra nói.

“Cô có thể đến sớm hơn một chút không? Tôi sẽ cho cô xem lũ ong.” Patrick bảo tôi qua điện thoại khi tôi đang đi bộ về nhà.

“Được thôi. Tôi sẽ đến sớm.”

“Nhớ mang theo đôi ủng, mặc quần dài màu sáng thì tốt nhất, và cả áo dài tay nữa, đại loại như vậy - dù cô có làm gì nữa thì đừng dùng nước hoa, thuốc xịt tóc hay nhai tỏi. Được không?”

“Được chứ,” tôi đáp, hơi thất vọng vì sẽ không được diện chiếc váy bằng lụa casơmia bó sát mà tôi đã chọn sẵn. Đó là chưa kể tôi còn phải gội đầu lại để xả sạch lớp keo vừa bôi lên tóc.

Tôi nghe thấy tiếng hát khi mở cửa.

“Las ruedas del autobús giran i giran, giran i giran, giran i giran...” Luisa và Milly dường như không để ý khi tôi đứng ở cửa bếp. “Las ruedas del autobús giran i giran-TODO el DÍA!! Los bebés del autobús...”

“LUISA!” Tôi hét lên. Cả hai ngừng hát. Milly quay lại rồi chạy tới ôm hôn tôi.

“Chào cún con của mẹ. Năm giờ chị phải đi,” tôi bảo Luisa và đặt ấm đun nước lên bếp. “Nhưng mười giờ chị mới về.”

“Được ạ.”

“Em xinh thế,” tôi trầm trồ nhìn cái sơ mi bằng lụa màu hồng sẫm của nó. “Áo mới à?”

“Vâng,” Luisa hơi đỏ mặt.

Tôi lấy hộp sữa ra khỏi tủ lạnh. “Luisa à, nhân tiện đây, chị đã bảo em đừng mua thêm quà gì cho Milly nữa mà - cái hộp nhạc đẹp thật nhưng nó đáng giá ít nhất là hai mươi bảng.”

“Ồ, nhưng Milly nhìn thấy trong cửa hàng và ất thích nó. Em nó cho nhân lễ Phục sinh.”

“Nhưng em nhất định không phải mua quà cho nó nữa. Dù thế nào đi nữa thì chị đoán là em không đủ tiền,” tôi vờ như không biết gì. “Chỉ với bảy mươi bảng một tuần.”

Luisa lại đỏ bừng mặt lên. “Không... sao đâu, chị Anna.”

“Được rồi, chị sẽ trả lại tiền cho em,” tôi nói. “Chị cảm thấy áy náy về chuyện đó.”

“Không, chị không trả,” Luisa nài nỉ. “Em quý Milly mà.” Đôi mắt to màu nâu của nó chợt long lanh. “Thấy Milly vui là em vui rồi.”

“Chà,” tôi thở dài. “Em rất tốt, nhưng xin em đừng mua thêm gì cho nó nữa. Và nếu em có cần tiền, chị có thể giúp em, được không?”

“Ồ, nhưng em có đủ tiền rồi. Chị rất tốt với em, chị Anna,” tôi có cảm giác là Luisa có vẻ hối lỗi khi nói vậy, rồi tôi đi lên gác tắm.

Khi đến nhà Patrick, anh đặt một nụ hôn lên má khiến tôi thấy rùng mình vì sự đụng chạm. Người cuối cùng mà tôi thân mật là Xan. Trong suốt những năm qua tôi phần vì lo lắng cho Milly, phần vì quá bận và buồn chán về Xan mà chẳng để tâm đến tạo dựng một mối quan hệ mới. Giờ đây như những con ong đang ngủ đông của Patrick, tôi đã sẵn sàng khao khát trở lại.

“Tôi đã kiểm tra mấy cái tổ ong chiều nay,” anh nói khi đưa tôi vào trong. “Tôi vẫn để dành một cái vì nghĩ cô sẽ muốn xem chúng.”

“Tôi muốn xem,” tôi lo lắng, “miễn là chúng không đốt tôi.”

“Tôi có thể cam đoan với cô rằng chưa một người khách nào, bạn bè hay hàng xóm của tôi từng bị một con ong nào cắn cả.”

“Thế anh từng bị chưa?” chúng tôi đi ngang qua phòng bếp.

“Tất nhiên là rồi, mỗi năm ba bốn bận, nhưng thường là do tôi bất cẩn. Bây giờ thì chúng ta phải kín cổ cao tường rồi,” anh nói và mở cửa sau.

Anh để sẵn trong vườn mấy bộ áo liền quần màu trắng và một đôi găng tay cao su. Anh xỏ đôi găng tay và cả một đôi ủng vào. “Cô phải thật kín từ bên trong,” anh giải thích, “để chúng không thể chui vào quần áo của cô được.” Tôi nhún vai đồng ý lấy lệ. “Giờ thì,” anh nói tiếp khi tôi cho hai ống quần vào trong ủng và nhét cái áo thun vào dưới thắt lưng. “Tôi có một bộ cho cô đây. Cô mặc vào đi...” tôi làm theo, rồi anh đưa cho tôi cái mũ trùm đầu của thợ nuôi ong. Khi nhìn anh qua cái mặt nạ, tôi cảm giác như mình là một cô dâu. Anh kéo dây khóa vòng quanh vai tôi, nhét hai ống tay áo tôi vào găng rồi quan sát tôi lần nữa, sau đó bảo tôi quay một vòng để kiểm tra lại lần cuối. “Tốt rồi... chẳng con ong nào làm gì được cô nữa rồi.” Rồi anh đội chiếc mũ của mình lên, kéo dây khoá rồi nhặt hộp dụng cụ và cái ống hun khói. “Nếu có con ong nào đậu lên người cô, đừng đuổi nó, nó chỉ đang thám thính thôi.”

“Thật ra thì anh định làm gì với mấy cái tổ ong vậy?” Chúng tôi đi về phía cuối vườn. Cây mộc lan đang nở đầy những bông hoa màu hồng nhạt, bên cạnh cây lệ đường sum suê những nụ hoa cánh kim màu hồng đào. Những cây táo cũng đang được phủ một màu kem với lấm tấm những nụ non.

“Thường vào thời điểm này trong năm, chúng cần được làm vệ sinh sạch sẽ - thu dọn xác ong chết, kiểm tra xem có tổ mối hay dịch bệnh gì không. Tôi cũng phun lên chúng ít nước đường để tạo nguồn nuôi ban đầu vì lượng mật dự trữ trong mùa đông đã gần hết.”

Anh dừng lại bên cạnh một cái bàn chân gỗ nơi anh nhét ít giấy vụn và rơm khô vào cái ống hun khói rồi châm lửa. “Bây giờ tốt nhất là cô ngồi trên cái ghế dài kia trong khi tôi mở những cái tổ - Tôi sẽ gọi cô nếu có gì đó đáng xem,” anh nói khi làn khói cay xè bay lên.

Tôi lùi lại, Patrick dí cái ống hun khói vào cửa tổ.

“Anh làm thế để làm gì?”

“Để trấn an lũ ong vì chúng sẽ nghĩ có đám cháy ở nơi nào đó, và chúng sẽ chuẩn bị rời tổ - nhưng trước tiên chúng sẽ hút ít mật để tiếp thêm năng lượng.”

“Thật kỳ lạ. Nếu tôi nghĩ đang cháy ở đâu đó xung quanh, tôi cho là mình sẽ chẳng kịp dừng lại để lấy một cái bánh sandwich đâu.”

“À, lũ ong hành động một cách bí ẩn.” Patrick đang cố nhấc cái mái của tổ ong ra - có vẻ hơi nặng - rồi cầm một que sắt dẹt, anh móc cái khay bằng gỗ bên trong ra. “Những cái khay này được gọi là bánh tổ,” anh nói. “Bên trong chúng chia nhỏ thành từng ô”- anh nhẹ nhàng nạy một cái ra với một tiếng cắc. - “đó là nơi mật được tiết ra. Cô ngồi đấy có sao không?”

“Tôi ổn mà,” tôi nói với giọng lo lắng. Xung quanh bắt đầu nổi lên những tiếng vo ve giận dữ. “Nhưng trên đầu cô ong đang bay đầy kia kìa.” Nó trong giống như một đám mây nhỏ màu đen vậy.

“Ồ - chúng hơi tức giận vì tôi đã chọc phá chúng. Thôi đi mà, các cô gái!” anh nói khi một đám ong bay quanh mặt nạ của anh như một đám lửa nhỏ. “Là tôi cơ mà, các cô gái!”

“Vậy chúng là ong cái à?”

“Đúng vậy. Lũ ong đực chỉ chiếm mười phần trăm một tổ ong và công việc duy nhất của chúng là giao phối với ong chúa. Sau khi xong xuôi rồi chúng bị đuổi ra khỏi tổ với những đôi cánh bị cắt cụt. Tôi không biết chúng cảm thấy thế nào,” anh nói với giọng châm biếm.

Một vài con ong bắt đầu bay sát đầu tôi. “Oái,” tôi kêu lên khi chúng lao thẳng vào cái mặt nạ tôi đang đeo. “Ù ù.” Càng ngày càng nhiều con kéo đến, bay thẳng vào tôi, tấn công tôi, tạo ra những tiếng vo ve đầy giận dữ quanh tai, bò dọc ống tay áo khiến tôi căng cứng lên. Tôi cố giũ chúng ra khỏi người. “Ôi Chúa ơi...” Tôi rên lên, máu trong người như đông lại. Tôi vỗ hai bàn tay để xua chúng đi nhưng chúng vẫn bay trở lại. Tôi không thể chịu nổi nữa liền đứng lên và bỏ đi.

“Đứng YÊN!” Patrick la to. “Đừng đi như thế! Tôi xin lỗi,” anh nói thêm. “Tôi không định... quát cô. Nhưng làm ơn đừng có bất cứ cử động mạnh nào nếu không chúng sẽ đốt qua qua cái mặt nạ đấy.” Tôi nghĩ bụng mình không hợp với nghề nuôi ong. “Chúng chỉ tò mò thôi mà,” giọng anh an ủi khi tôi đang ngần ngừ định ngồi xuống lại nhưng tim vẫn đập thình thịch. “Chúng chỉ muốn biết tất cả về cô - giống như tôi vậy.”

Tôi bắt đầu cảm thấy trấn tĩnh hơn. Lũ ong có vẻ nhận thấy điều này nên dần rút lui.

“Anh nuôi ong thế này mà hàng xóm không cằn nhằn gì à?” Một lúc sau tôi hỏi anh.

“Không sao cả mà,” anh nói. “Quan trọng là phải đặt cái tổ ong cạnh một cái hàng rào hay một cái cây để chúng buộc phải bay thẳng lên khi rời tổ. Một điều nữa là phải có nguồn nước cho chúng”- anh hất hàm về phía cái ao - “để chúng không phải đi tìm nước ở những khu vườn khác. Ngoài ra thì cuối tuần tôi chẳng bao giờ mở tổ và tôi còn biếu hàng xóm mật - đó là một động thái ngoại giao rất có ích.”

“Tôi muốn thú thực với anh một điều.”

“Được thôi - miễn là không phải chuyện cô đang hẹn hò với một ai đó.”

“Không.” Tôi mỉm cười. “Tôi chẳng hẹn hò với ai cả. Nhưng mà... sự thật là... tôi không thích... mật ong lắm.”

Anh quay lại nhìn tôi. “Sao không? Nó là một loại thực phẩm hảo hạng mà.”

“Tại vì... Đơn giản là tôi không thích. Tôi chưa bao giờ thích chúng.”

“Ồ, cô gái ơi - tuy vậy cô sẽ thích mật của tôi cho mà xem, tôi không ba hoa đâu. Vào mùa hè cô có thể đến và giúp tôi lấy chúng ra. Giờ cô qua đây nhìn xem này.” Tôi do dự một giây. “Thôi nào,” anh khích lệ, “chúng sẽ không làm cô đau đâu.”

Tôi bước tới và run rẩy nhìn vào tổ ong. Có khoảng vài trăm con ong đang bò lổm ngổm trên một cái khung bánh tổ, tiếng vo ve nhức cả tai.

“Apis melifera melifera,” Patrick thốt lên. “Ở trong này, chúng là những con ong thợ,” anh giải thích. “Chúng làm việc cật lực rồi chết sau ba tuần, tội nghiệp chúng, cặm cụi đi kiếm mật hoa từ sáng đến tối.”

“Chúng đi bao xa?”

“Khoảng ba dặm. Cô có thể thổi cái ống hun khói cho tôi được không? Mỗi ngày chúng tìm đến sáu trăm bông hoa. Phải mất một triệu bông hoa mới làm ra được một lọ mật. Cô nhìn mấy con ở dưới này này.”

Tôi nhìn đằng trước cái tổ nơi có ba hay bốn con ong đang đậu ở chỗ cửa, bụng giơ lên cao và vẫy cánh liên hồi.

“Chúng đang làm gì vậy anh? Chào buổi sáng chăng?”

“Chúng đang nhả ra một mùi hương và quạt nó vào trong không khí để báo động cho những con khác quay về để bảo vệ tổ.”

“Ong có biết nhảy múa không?”

“Có chứ - Chúng múa bằng cách vẫy đuôi - từ bên này sang bên kia. Và số lần điệu nhảy lặp lại, phương hướng của nó và âm thanh mà lũ ong phát ra có thể cho biết chính xác vị trí của phấn hoa.”

“Thông minh thật.”

“Ong là vậy mà. Thông minh và chăm chỉ. Chúng ta nên học tập chúng.”

Patrick phun nước đường lên cái khung, đặt lại nó vào trong bánh tổ rồi kéo một cái khác ra. “À, nó đây rồi,” anh mừng rỡ nói. “Kính chào Hoàng hậu. Đừng lo - cô không phải cúi chào đâu.” Tôi ngắm nhìn con ong chúa. Nó dài gần hai inch và được một đám ong vệ sĩ bảo vệ xung quanh. “Tốt,” Patrick lẩm bẩm. “Nó có vẻ khỏe. Nó đã sống qua được mùa đông và đang bắt đầu đẻ trứng.” Anh giơ cái khung ra ánh sáng. “Cô có nhìn thấy từng quả trứng nhỏ xíu ở mỗi cái ô không? Hiện tại thì mỗi ngày nó đẻ hai trăm quả trứng như vậy, nhưng đến tháng Sáu là hai nghìn quả một ngày.”

“Đến lúc đó thì có bao nhiêu con ong?”

“Khoảng năm mười nghìn, với số hiện nay là chừng mười nghìn. Lúc đó lũ ong bận rộn nhất vì cũng là lúc lượng mật hoa nhiều nhất.”

“Có bao nhiêu con ong chúa tất cả?”

“Mỗi tổ chỉ có một con. Con này rõ là Victoria - Beckham rồi - hai con kia là Elizabeth-”

“Hurley?”

“Đúng thế. Và cả Cleopatra nữa. Cánh của chúng bị kẹp lại nên không thể bay ra khỏi tổ được, chính điều đó khiến lũ ong tụ lại thành đàn.”

“Nuôi ong thì có gì hay hả anh?” Tôi hỏi khi chúng tôi quay vào nhà hai mươi phút sau đó. “Đó có phải là cảm giác thích thú khi lấy mật do chính tay mình làm ra?”

“Không phải - vì cô chỉ làm điều đó mỗi năm một lần. Tôi nghĩ có lẽ là do niềm vui được hòa đồng với thiên nhiên - và chấp nhận một điều là ở đây có một số điều mà ta không kiểm soát được.”

“Nhưng... tại sao anh lại muốn làm?”

“Ý tôi là, cô chỉ việc thả xuôi bản thân mình theo tự nhiên... và hòa nhập với nó. Ví dụ như khi trời mưa, cô biết là đàn ong sẽ hối hả bay về tổ vì chúng ghét bị ướt. Khi có một cơn bão đang đến cô sẽ nghe thấy tiếng rầm rì phát ra từ những chiếc tổ do lũ ong đập cánh khi chúng thấy bị xáo động.”

“Khi nào thì chúng vui vẻ?”

“Khi cô nghe thấy tiếng rì rào vui tai. Tôi thích nghe những âm thanh của đàn ong tạo ra khi chúng vui vẻ,” anh nói tiếp và cởi mũ cùng bộ quần áo choàng ra. “Nuôi ong là cách trị liệu tốt hơn bất kỳ phương pháp nào khác - nó là một kiểu yoga hiện đại. Bất kể lúc nào làm việc với chúng, bao nhiêu căng thẳng của tôi tan biến hết. Tôi kể cho chúng nghe mọi chuyện,” anh cởi mặt nạ cho tôi.

“Thật vậy sao?”

“Vâng, như ngày hôm nay chẳng hạn, tôi bảo chúng là hôm nay cô sẽ đến.”

“Thế còn tiếng vo ve ban nãy là sao?”

“Là do chúng đang vui sướng - đặc biệt là khi tôi bảo chúng, cô là một thợ làm vườn. Thôi nói chuyện ong bướm thế đủ rồi, để tôi cởi cái này ra cho cô.” Anh nhấc cái mũ của tôi lên, mặt nạ chạm nhẹ vào da tôi. Rồi anh giúp tôi cởi áo khoác. Khi tôi vẫn đứng đó, sát bên cạnh, anh đưa tay ra và vuốt lên mặt tôi. Tôi như thấy một dòng điện chạy qua người. “Chúng ta vào uống một ly sâm banh nào...”

“Vậy còn thiết kế vườn có gì hay?” Patrick hỏi tôi khi chúng tôi ngồi ở chiếc bàn trong phòng bếp dưới ánh nến một giờ sau. “Có phải vì việc làm vườn đã trở nên sexy? Một loại rock ‘n’ roll mới?”

“Không phải,” tôi xúc nốt thìa kem sôcôla cuối cùng. “Tại vì nó liên quan đến hội họa, kiến trúc, trồng trọt và bố trí màu sắc - cũng như là kiến thức về ánh sáng và đất đai. Tôi yêu việc đó vì không ngày nào giống ngày nào, và tôi thường thích ra ngoài, cũng bởi vì tôi đang thiết kế một thứ mà tôi hy vọng sẽ đem lại niềm vui cho nhiều năm sắp tới.”

“Thế thì cũng bõ công đấy.”

“Thật vậy. Cái cảm giác mà tôi có thể biến một cái sân sau đơn điệu thành một, chẳng hạn như là một mảnh vườn kiểu Ý, như tôi đang được thuê làm ở Hampstead gần đây, thật là thú vị; tôi yêu tính cách mạng của việc thiết kế vườn- và tôi cũng hạnh phúc với suy nghĩ rằng mình sẽ tạo ra một cái gì đó tồn tại lâu dài.”

“Những cái cây không sống mãi được,” anh nhận xét khi đổ nước vào ấm.

“Không sai - thời gian sống của chúng có hạn. Nhưng mà cái khung của những khu vườn- những lối đi, những bức tường rào và những viên đá lát - chúng sẽ tồn tại hàng thập kỷ. Và đó cũng là điều tôi không có được khi tôi ở trong thành phố, cảm giác mình đang được thực sự làm điều gì đó thật đáng giá, chưa nói đến việc mình đang tạo ra những thứ tồn tại lâu dài. Với các loại quỹ đầu tư - như anh biết rồi đấy, người ta mua bán trao đổi những cổ phiếu mà họ không sở hữu - chỉ là đầu cơ để chờ giá lên hay xuống rồi rút ra hai mươi phần trăm lợi nhuận từ số lãi thu được. Tôi không thể tin được rằng họ lại được trả lương rất hậu hĩnh chỉ để làm việc với những thứ thậm chí còn không tồn tại. Tôi biết là mình nên thoát khỏi đó và làm điều gì đó... có ích hơn.”

“Và bây giờ cô đã làm được - với một vài thành công đáng kể.” Tôi nghĩ về khu vườn ở khu Boltons - mọi thứ đang định hình tốt. “Cô có muốn uống thêm ít trà bạc hà không?”

Tôi lắc đầu. “Tôi phải về rồi.”

“Tôi hy vọng là sẽ gặp lại cô,” anh nói và giúp tôi choàng áo khoác vào.

“Tôi cũng mong gặp lại anh,” tôi cầm lấy túi và nói.

“Thật chứ?”

“Vâng,” tôi mỉm cười với anh. “Thật mà.”

Anh nhìn tôi chằm chằm. “Nếu thế thì cô sẽ không phản đối nếu tôi hôn cô chứ?”

Tôi sững sờ cả người. “Không. Ý tôi là, có, ý tôi là...Tôi không phản đối... thực ra thì... tôi...”

Thế nhưng đôi môi Patrick đã gắn chặt lên môi tôi. Khi anh ôm ghì lấy tôi, tôi cảm thấy cơ thể cường tráng và gợi tình của anh áp vào người mình đầy nhục cảm, và đôi bàn tay choàng quanh người tôi như một sợi dây đai.

Trên đường lái xe về nhà, người tôi rạo rực với nỗi khao khát. Tôi nghĩ về Xan. Anh ta đã rời xa tôi từ rất lâu và cuối cùng cũng đến lúc tôi rời xa anh ta. Sandra nói đúng: tôi có quyền sống cho riêng mình, quyền được tìm kiếm tình yêu- hay chí ít là một bạn tình, người có thể làm cha của Milly. Nó cần điều đó và Xan chẳng thể phản đối được. Trong gần bốn năm trời tôi sống cuộc sống của cô bé lọ lem xấu xí, lặng lẽ chờ đợi trong bóng tối, bây giờ là thời điểm để tôi bước ra ánh sáng với niềm hạnh phúc của mình.

Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.