Tượng Đồng Đen Một Chân

Chương 3: Chuyện đời nay




Gần bốn chục năm trôi qua, có hai sự kiện cần được kể lại vì nó liên quan đến cuộc sống ở xóm Linh Linh.

Trước hết là cuộc chiến tranh. Cái vùng đất pha cát này vốn là nơi bỏ quên của cuộc sống đời thường thì chiến tranh lại mò đến kết bạn. Phía trên xóm Linh Linh nơi có khoảng rừng ngày trước ông Hi thường hay mò vào hái củi, sau này trở thành địa bàn của mặt trận. Thế nên bom đạn ngút trời. Rừng cây cháy trụi. Đất đá phơi trần ra. Rồi một căn cứ quân sự của Mỹ mọc lên. Còn phía đông , bên kia đường quốc lộ, cũng là khu quân sự Mỹ, ban đêm đèn điện sáng trưng. Xóm Linh Linh suốt ngần ấy năm ngập chìm trong tiếng phản lực, tiếng đại bác và xích sắt. Ban đêm phaó sáng đầy trời. Chiến tranh bọc lấy mấy ngôi nhà xơ xác kia khiến cho những người sống ở đó không thể yên ổn được. Những đứa con trai lớn phải bỏ trốn để khỏi bị bắt lính. Đầu tiên là Ngô con của La, sau đó là Ngãi con Lê. Vào những năm cuối của cuộc chiến, Nghi con Lu và cả cậu Ngụ con Lam mới bén tuổi mười lăm cũng phải bỏ nhà trốn vào phố kiếm sống. Còn lại trên xóm Linh Linh toàn là con gái. Trong những đứa cháu gái của ông Hi có lẽ chỉ có Lào, con thứ hai của La là người nối được nghiệp mẹ. Cô không được xinh đẹp cho lắm, lại quá lứa lỡ thì nên lúc nào cũng cáu gắt. Khi những căn cứ quân sự được lập ra gần xóm Linh Linh thì Lào đã vượt qua tuổi ba mươi. Thành thử, cô là người duy nhất cúi đầu xuống bàu nước rêu đen xúc tép, bẩy tôm rồi choàng tấm khăn che nửa mặt mà đi chợ. Còn lại, hầu hết đám cháu gái đều vác mặt lên ti ta ti tởn hướng về mấy cái trại lính. Đứa nhỏ thì thích thú với việc nhặt đồ hộp. Đứa lớn thì tô son trát phấn để bán trôn nuôi miệng. Của đáng tội, đồng tiền làm đĩ cũng đủ để trang trải cho cả nhà. Vì thế đám con gái ấy trở nên kiêu căng, hỗn láo. Chẳng ai dám đụng đến. Trong số đó quá quắt nhất là Lan, con gái duy nhất của Lương. Có lần, lúc mà ông Hi còn sống và còn thều thào nói được, đã gọi Lan lại bên giường, cố lấy giọng mềm mỏng khuyên bảo :

- Cháu đừng đi lại với đám người rừng ấy ....

- Rừng nào?- Đứa cháu xếch mi mắt lên nhìn ông .

- Cái bọn tóc quăn.... mắt đục ấy...

Cái môi của cô bé mười sáu tuổi bỗng chìa ra.

- Đừng... đi.. lại ! Thì lấy cái gì mà bỏ vào nồi cho cả nhà ăn nhậu ? Hừ, có tí của thì chôn ngập ở đâu đâu... Sắp chết rồi mà ngu vẫn hoàn ngu.

Ông Hi ngậm bặt miệng. Từ ngày lũ trẻ trong nhà này lớn lên, có lẽ bố mẹ nó đã truyền lại hết cho chúng nghe về pho tượng, cho nên hễ đụng vào đứa nào là lập tức bị nó bới móc việc ấy ra. Thật vô phúc.

Chiến tranh kết thúc. Đám lính tóc quăn mắt đục đã rút chạy biệt tăm. Nhưng với xóm Linh Linh hầu như chẳng có gì thay đổi. Những đứa chuyên đi nhặt vỏ hộp thì nay chuyển qua đào bới vỏ liều và nhặt mảnh nhôm, sắt. Cả một đoàn áo quần xơ xác, đầu không mũ, chân không dép, cứ sáng ra vác bao gai kéo nhau ra đi, tối mịt mới về. Những đứa chuyên làm đĩ thì nay vẫn thế. Có điều họ phải đi xa hơn, nhảy xe đò mò vào tận trong phố. Còn những cậu con trai trốn lính thì vẫn biệt tăm mất tích, chẳng thấy về. Có khác chăng là bây giờ xóm Linh Linh không còn cái gì để ồn ào, náo nhiệt nữa. Bảy túp lều lại trở về hoang lạnh như thuở xa xưa.

Sự kiện thứ hai xảy ra có một ý nghĩa như một bước ngoặt trong đời sống của xóm Linh Linh là cái chết của già Hi. Cái chết xẩy ra từ từ, ngoan cố và mòn mỏi. Kể từ bữa ông Hi ngáp liền mấy cái và sau đó hai tay quờ quạng không còn cầm nắm được vật gì nữa cho đến lúc tắt thở kéo dài hơn nửa tháng trời. Ngang đã chuẩn bị xong gỗ hòm, chiếu liệm và sau đó là đào huyệt. Công việc này, ông không cho bất kỳ đứa con nào đi theo. Cứ một mình tay cuốc tay xẻng mỗi ngày đào năm huyệt, mỗi huyệt sâu trên một mét, rộng phải đến ba bốn người nằm. Không ai trong nhà kể từ các bà vợ đến lũ con đặt miệng hỏi vì sao lại đào nhiều huyệt đến thế. Có lẽ tất cả đều đã hiểu. Họ không hỏi , không đi theo, nhưng hàng chục đôi mắt từ trong các túp lều, các bụi rậm thì lại bám chặt bóng bố không rời. Cả một vùng vườn rộng mênh mông bị đào xới loang lổ. Cũng may, đất ở đây là đất pha cát, đào bới không đến nỗi nặng nhọc lắm. Tuy vậy, đến chiếc huyệt thứ năm mươi thì Ngang vứt xẻng, phủi tay nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống huyệt rồi chưởi : " Đ.mạ, chẳng biết nó chôn chỗ nào!" . Ông không đào nữa và sốt ruột vì thấy bố vợ quá ngoan cố không chịu tắt thở.

Ông Hi tắt thở vào một buổi sáng. Lúc ấy mặt trời đã lên chừng hai con sào. Thật là một buổi sáng đẹp trời. Nắng nhàn nhạt. Gió thổi cầm chừng. Trời trong văn vắt và thậm chí sau này ông Ngang còn quả quyết là có chim hót nữa. Chỉ rủi ro, không phải cho ông Hi mà là cho đứa con rể là vào lúc đó, tất cả lũ cháu đều đã kéo nhau đi lên các khu quân sự. Mẹ chúng thì đi chợ, đi lấy củi hoặc ít ra thì cũng đi đâu đó. Từ cái hôm ông Hi ngáp mấy cái, và đặc biệt là sau khi ông Ngang tuyệt vọng trong việc đào huyệt để tìm pho tượng, thì đám vợ ông, nghĩa là lũ con quý hoá của ông Hi cứ sáng ra là bỏ nhà ra đi, chẳng biết đi đâu, đến tối mịt, có khi còn quá tối nữa mới lò dò về. Rõ ràng họ sợ bận bịu vào cái chết của bố ! Mỗi lần mò về tới lều, trong bóng sáng lem nhem của đèn dầu, các bà vội vã hỏi con : " Ông chết chưa ?" Lũ con đáp gọn : " Chưa" Họ thở dài, đi ngủ và chờ trời sáng.

Cái việc xẩy ra như vốn nó phải xẩy ra. Ông Ngang lễ mễ một mình kéo bố vợ ra huyệt, một mình lấp đất. Bỗng dưng ông căm hận. Căm hận quá chừng. Trước hết là vì cái xác chết quá nặng, huyệt lại sâu, lấp cho kín ngần ấy đất đâu phải chuyện dễ. Thế mà năm nay ông cũng đã trên tuổi năm mươi rồi, sức lực cả một thời trút hết vào cho bảy bà vợ để có thể lòi ra ba mươi tư đứa con. Thế mà đến cái công việc cuối cùng này, lũ vợ ông, cũng là lũ con của nó, rồi cả lũ cháu nó, tức là con mình, chúng nó lại bỏ mặc. Dâu là con, rể là khách. Khách gì lại có thứ khách khốn nạn thế này ! Căm hận hơn thế nữa, là cái xác chết ấy cho đến lúc đã nằm khoèo trong huyệt vẫn không chịu hé môi nói ra cái chỗ chôn pho tượng. Nó cất giữ mà tế mẹ nó chứ ? Trong lúc con cháu nó lại đói nheo đói nhóc. Thế thì ông xông vào đây làm rể để làm gì ? Lại kéo nhau túm tụm về đây ăn chui ở rúc nơi nương hoang vườn rộng này để làm gì ? Hay là chúng nó lừa ông , những cái con vợ đười ươi ấy, cái thứ nửa người nửa ngợm ấy có ma mà lấy, cho nên mới rắp tâm mua chuộc ông, bắt ông phải đèo bồng cả lũ ?

Nỗi căm hận làm đầu Ngang nóng bừng bừng. Ông lấp nhanh hố huyệt, chỉ lấp ngang bằng mặt đất chứ không cho nhô lên chút nấm nào. Rồi ông hung hăng vác cuốc đi lấp cả bốn mươi chín chiếc huyệt khác, cũng lấp bằng như vậy. Vừa làm Ngang vừa lầu bầu nguyền rủa : " Cho mất nòi chúng bay đi ! Cho tiệt ông tiệt bà chúng bay đi ! Đồ vô phúc ! Vô ơn ! Vô hậu !".

l

Thêm chục năm nữa trôi qua kể từ ngày ngừng cuộc chiến. Lúc này ông Ngang đã gần bảy mươi. Bà La trên sáu mươi. Cô gái út ngày nào khi Ngang mới đến làm khách nhà này còn là đứa bé sáu tuổi nay cũng đã gần đến tuổi năm mươi. Cuộc sống ở xóm Linh Linh có phần nới rộng ra một chút. Trước hết xóm này đã được nối liền với vùng làng cách đó khoảng một buổi đi bộ, được gọi là xã Hưng Thịnh. Chính quyền xã đã tổ chức cho dân khai hoang phục hoá những đồi đất lâu nay bỏ hoang để trồng sắn, khoai hoặc trồng phi lao, bạch đàn chắn cát. Công cuộc mở mang ấy chưa tiến sát vào xóm Linh Linh được vì hai cái căn cứ quân sự cũ dày cộm bê tông và ngổn ngang thép gai, vỏ đạn. Tuy vậy, cái xóm bảy nhà ấy không còn cô độc như trước. Thỉnh thoàng ông Ngang hoặc bà Lanh hay cô út Lục đang còn tuổi lao động vẫn phải băng đồi ra tận ngoài xã để hội họp. Cũng nhờ có mối quan hệ ấy mà con cái họ có nơi để mối mai, lui tới. Trừ có Lào, nay đã ở tuổi bốn ba, trở thành bà cô dữ dằn của cả xóm, còn lại hầu hết đều lấy được chồng. Họ tản ra vùng gần đó theo các chàng trai. Chồng họ có người là thợ xây, có kẻ buôn bán, cũng có người làm cán bộ. Nói chung là như mọi người trên đời không có gì đáng kể.

Trong đám con rể có hai người mà ông Ngang để mắt đến nhất, đồng thời chính hai người ấy cũng là những kẻ lưu tâm đến xóm nhỏ này hơn cả. Người thứ nhất là Vi Hán, chồng của Líp, con gái bà Lanh. Người thứ hai là Hoành, chồng của Lan, cô gái đáo để nhất nhà này đã một thời làm rung chuyển căn cứ quân sự Mỹ. Bà Lương chỉ sinh có mình Lan. Sau đó bỗng dưng bà to ra, tròn quay như con vịt bầu và hoàn toàn tắc tịt về mặt sinh đẻ.

Vi Hán, nói giọng Quảng Nam, người to con, mặt đen sạm. Hồi trước Vi Hán ra vào vùng này là để buôn sắt vụn, đồng nát. Đấy là một mối buôn bán lợi hại cho gia đình bà Lanh. Vi Hán đã có hai vợ. Nhưng đến khi mê Líp rồi lấy Líp về thì chính sức mạnh của cô gái vùng hoang dã này đã kéo được Vi Hán bật ra khỏi sự ràng buộc của gia đình để sống riêng với Líp. Vi Hán ra Huế, lập một xưởng đúc sắt thủ công. Từ đó Líp trở thành dân thành thị, mặc áo dài, điểm son lên má. Người ở phố gọi Líp là bà. Dân đến làm thuê thì gọi thêm : bà chủ.

Từ ngày thành con rể nhà này, Vi Hán ra vào thường xuyên. Dáng người trông sắt đá nhưng bụng dạ lại rộng rãi. Chẳng riêng gì túp lều bà Lanh ngày một khang trang sáng sủa mà cả xóm cũng được nhờ vào tấm lòng hiếu thảo của người cháu rể. Lúc Vi Hán cưới Líp thì bà Lanh chưa đến tuổi năm mươi.Mà có lẽ Vi Hán cũng gần xấp xỉ tuổi ấy. Sau nhiều lần lui tới, các bà chị bà em bắt đầu xầm xì về mối quan hệ khó coi giữa mẹ vợ với con rể ?.. Ngang nghe nhưng bỏ ngoài tai, dù bà Lanh có bỏ nhà mà đi hẳn với Vi Hán thì Ngang cũng mặc kệ. Nói chung ông chán các bà lắm rồi. Điều lo sợ của Ngang trước việc thằng con rể lui tới quá nhiều nhà này là ở chuyện khác.

Còn chuyện tình yêu giữa Lan và Hoành thì ly kỳ hơn. Đây là một trường hợp đặc biệt ngoại lệ, cần kể tỷ mỷ một chút.

Đấy là đêm cuối cùng của toán lính tóc quăn, mắt đục tồn tại trên vùng đất này. Nhưng Lan nào có hay biết điêù đó. Cả một thời cuộc dữ dội đi qua, dưới con mắt của lan chỉ là những đồng tiền hay những gói quà moi móc được của đám người rừng như ông cô vẫn gọi. Nhưng thời cuộc thì vẫn đã đi qua dù Lan không muốn thế. Đêm cuối cùng ấy cô bị tụi lính chuốc la- ve cho say mềm ngay ở quán giải khát trước cổng căn cứ. Rồi cái thân mềm như con sứa ấy được chuyền qua chuyền lại chẳng biết đến mấy tay, cho đến lúc máu tứa ra ướt đẫm cả quần áo. Cô lịm đi, không hay biết lúc ấy từ phía trên rừng lửa bốc cháy dữ dội . Súng nổ ngoài hướng bắc. Xe tăng, xe RMC rú máy chạy náo loạn. Cô vẫn ngủ. Quá nửa đêm thì toàn bộ căn cứ rút sạch. Gần sáng quân Mặt trận mới tràn xuống tới đường cái ! Chủ lực ào ào lướt dọc theo trục đường một. Du kích cắm lại từng địa bàn để giải quyết hậu quả. Một anh du kích trẻ tên là Hoành đã bê cô trên tay như bế một nạn nhân chiến tranh. Chủ quán giải khát cũng đã bỏ chạy cùng với lính tóc quăn mắt đục. Chẳng ai hay chuyện gì đã xẩy ra với cô gái tội nghiệp này. Khi chiến sự đã trở lại bình yên thì Lan mới tỉnh. Cô tỉnh và nhận ra xung quanh mình không còn những tên tóc quăn mắt đục nữa, thay vào đó là những người con trai dễ coi hơn nhưng cũng đầy súng ống. Cả một cuộc đổi đời ghê gớm đã xẩy ra, bằng một giấc say của cô. Chẳng có gì quan trọng cho lắm. Có lẽ người ta chỉ thay đổi chỗ ở cho những toán người . Thế nên sau một buổi nằm hồi sức trong sự chăm sóc của Hoành, Lan đã lấy lại thần sắc. Cô bắt đầu cười duyên với Hoành. Đây là nguyên cớ kỳ diệu mà tạo hoá khéo bày đặt để sau này họ thành vợ thành chồng. Đương nhiên cũng cần phải có thêm một thời gian nữa. Một thời gian cần thiết để chính quyền địa phương tìm hiểu về Lan, con một người nghèo khổ có nhiều vợ, sống cơ cực ở một xóm vắng, không hề dính dáng gì đến kẻ thù. Còn chuyện Lan đã sống như thế nào thì trừ mấy chị em cùng nhà ra không ai trong xã biết được.

Còn Lan , vốn là một người thông minh , lại mang trong mình dòng máu ranh mãnh của bố cho nên cũng chỉ sau một thời gian ngắn, cô đã ý thức được thế nào là đổi đời, là cách mạng, là chính quyền và vân vân nữa. Cô biết từ nay quyền lực thuộc về những người như Hoành. Thế nên, mặc dầu bị bố can ngăn quyết liệt và đám chị em ra mặt khinh bỉ, cô vẫn ngang nhiên đi lại với Hoành. Ông Ngang đay nghiến con : Mi đúng là con quỷ cái của nhà này ! Ai đời lại tằng tựu với đám người rừng !..Mi cười cái mả cha mi à? Việt cộng mới chính tông là người rừng đó. Lan bĩu môi, nguýt mắt không thèm đáp lại lời bố. Cô biết rõ, người yêu mình nay đã là Chủ tịch xã và nghe anh nói có khả năng năm tới sẽ được lên phó chủ tịch huyện.

Thì chuyện đó đã xẩy ra. Hoành được làm phó chủ tịch huyện và cưới vợ cùng một lúc! Đám cưới được tổ chức tại hội trường Uỷ ban. Pháo nổ mù trời. Sau đó có xe riêng đưa hai vợ chồng về xóm! Cả xóm tái mặt. Chẳng ai biết cần phải làm gì. Mọi người cứ chạy qua chạy lại nháo nhác. Sau đó Lan lên trên huyện ở hẳn với chồng. Chuyện đó cũng chẳng sao. Ông Ngang coi như thoát khỏi hoạn nạn. Nhưng thật là tai hại. Chỉ sau một tháng người con rể lại về. Hai vợ chồng ngồi trên xe chạy băng băng giữa đồi pha cát. Chiếc xe chạy một vòng quanh đồi thì dừng lại nhưng cả hai vợ chồng vẫn không ai bước xuống. Họ ngồi trên xe chỉ trỏ, nói cái gì đó với nhau có vẻ say sưa lắm. Ông Ngang nhìn qua cửa hè lầu bầu chưởi. Những bà dì ở các túp lều cũng bậm mặt lại. Họ thầm nguyền rủa cái con đĩ rạc phản tổ tông. Thế rồi sau đó chừng mười ngày, một tốp công nhân được điều động về làm đoạn đường từ quốc lộ vào thẳng xóm Linh Linh. Đường san rộng tám mết, mặt đường đổ đất sỏi đỏ ối. Thế là từ đó xóm Lịnh Linh bị kéo tuột ra giữa mọi mối ràng buộc của cuộc đời.

Tuy đã lên gần tuổi bảy mươi và với cái vóc dáng ngày một còm nhom như người nghiện, nhưng ông Ngang rất siêng năng đi họp. Từ xóm Linh Linh vào đến trụ sở xã phải đi chừng hai giờ, nhiều đêm mưa gió tối mịt ông phải bước thấp bước cao lò dò đi, cũng nhiều lần vấp ngã sóng xoài trên đất cát, ông phải ngồi yên một lúc lâu mới lồm cồm đứng dậy bước tiếp. Cán bộ xã khen ông hăng hái. Nhưng cũng có kẻ ác miệng đay nghiến rằng bố vợ phó chủ tịch huyện ắt phải gương mẫu ! Ông Ngang bỏ ngoài tai tất cả lời khen tiếng chê ấy . Ông siêng đi lại vì một lý do chỉ có ông tự biết : Cần phải lắng nghe xem người ta có bàn gì về cái kho báu của vườn nhà ông không ?

Nhưng không ai bàn tán gì cả. Có lẽ chẳng ái biết

Thời gian cứ vậy mà trôi đi. Mỗi một cuộc họp, cán bộ xã lại phổ biến một chủ trương mới của huyện. Đầu năm nói chuyện lập Tập đoàn sản xuất, giữa năm lại tiến lên hợp tác xã. Chủ trương nào ông Ngang cũng đưa tay trước tiên. Không gì cũng mang tiếng là bố vợ Phó Chủ tịch huyện. Rồi kế hoạch làm thuỷ lợi toàn huyện, huy động dân công đi đắp đập Khe ồ. Ông đưa tay ngay. Lại phát động toàn dân khai thác chổi đót xuất khẩu. Ông nhiệt liệt ủng hộ. Chuyện gì cũng hay. Chỉ có điều nhà ông thực chất chẳng có một lao động nào đáng kể. Bảy bà vợ đều đã già. Những đứa con gái lớn đi theo chồng. Những đứa khác thì còn bé bỏng vẫn tiếp tục sự nghiệp đào bới vỏ liều và nhặt sắt vụn. Duy nhất chỉ còn hai người đúng tuổi lao động nhưng chẳng ai thèm đụng đến. Đó là cô Lào đụng đâu chưởi đó và cậu con trai của bà Lục bị mù từ trong bào thai. Năm nay Ngẩu đã đến tuổi mười tám nhưng người như nặn bằng bột, suốt ngày ngồi trước thềm nhà nói một mình như thằng say. Thành thử chẳng có công việc gì của xã mà lại có sự tham gia của xóm Linh Linh. Mà cuộc sống tự nó có sự sàng lọc công minh các mối quan hệ. Người ta bắt đầu chán những cái đưa tay, những lần ủng hộ nhiệt liệt của ông Ngang khi mà không có công việc cụ thể nào của xã lại có sự tham gia của gia đình ông. Rồi người ta chán luôn cả sự có mặt của ông trong các cuộc họp .Bản thân ông Ngang cũng nhận thấy điều đó. Hơn nữa, đã lâu không đánh hơi thấy có ai dò xét xì xào gì đến cái điều bí mật của nhà mình, ông Ngang bắt đầu lơ đễnh việc đi lại. Cuối cùng, mặc dù danh nghĩa vẫn là một khóm nhà thuộc xã Hưng Thịnh, nhưng xóm Linh Linh lại trở về với nếp sống ẩn dật truyền kiếp của nó. Những bãi phi lao, bạch đàn được trồng lên sau chiến tranh đã thay thế cho rừng tràm trước đây ngăn khuất bảy túp lều với con đường quốc lộ. Cái bàu nước rêu đen ngày một sẫm đặc rác rưởi và rền vang tiếng ếch nhái mỗi đếm động trời.

° ° °

Điều mà ông Ngang ngờ vực ở hai thằng con rể tinh quái kia cuối cùng đã xảy ra. Trước đó một thời gian Vi Hán ra nhà bố vợ ở lại liền mấy ngày. Dĩ nhiên Líp - vợ hắn- không đi theo vì phải cai quản cả cái xưởng ở trong Huế. Dĩ nhiên Vi Hán mang ra rất nhiều bánh kẹo để phân phát cho tụi trẻ con, lại mang cho cậu em Ngẩu con dì Lục một ống sáo để thổi và tặng bố vợ một chai rượu bổ sâm. Và dĩ nhiên Vi Hán ngủ đêm ở nhà vợ. Những đứa bé con dì Lục, con út dì Lam ranh ma rủ nhau bò vào sát phên liếp nhà dì Lanh để lắng nghe mẹ dì tâm sự. Đèn tắt tối om. Những tiếng thở phì phì như rắn. Tiếng vạc giường cọt kẹt và thỉnh thoảng còn có cả tiếng rên. Tất cả những cái đó ngay lập tức được đám trẻ chạy đi loang báo khắp mọi nhà. Những bà dì lầu bầu nguyền rủa. Riêng cô Lào thì nhảy thách ra giữa sân, chắp tay lên hông, chạng chân ra như thế đứng của tượng Mẹ Đất mà chưởi vang lên giữa trời. " cha tổ sư , cha mẹ nó ! đĩ đâu có đĩ cả nhà !" Cũng may tiếng chưởi của cô Lào đã trở thành cơm bữa nên cũng không gây nên sự chấn động nào cả.

Ông Ngang bỏ ngoài tai tất cả. Mỗi lần Vi Hán ra thăm là ông thon thót nỗi lo lắng. Lần này nó ở lại ! ở lại để làm gì ? Những đứa con gái của ông đều là tuồng lăng loàn cả. Chúng nó chẳng tiếc gì mà không bán cả tổ tông đi. Hơn nữa chuyện con rể với bố vợ là chuyện mà chính đời ông đã trải qua, ngẫm bụng mình ra bụng người, không sao tin được.

Sáng hôm sau ông Ngang cố tỉnh dậy thật sớm. Không ngờ Vi Hán lại dậy sớm hơn. Vừa thò người ra cửa hè ông đã nhìn thấy thằng con rể ngậm điếu thuốc lá ở miệng đi lại thẫn thờ phía mép vườn giáp với rừng phi lao . Hắn tìm chi, nghĩ chi ? Ông không thể ngồi yên được. Thế này thì thật quá quắt. Ông Ngang hớt hãi chạy ra:

- Nì ... mi nhóm ngó cái chi, hử ?

Vi Hán hơi giật mình một tí, nhưng liền đó đã cười tươi.

- Ngắm vườn của bố !

- Có chi mà ngắm ?

- Có chứ ! Vườn bố rộng quá. Có lẽ phải tới bốn mẫu, có khi còn hơn nữa ...

Ông Ngang lầu bầu:

- Hừ ... vườn ông cha để lại ... Cái chi thì cũng của ông cha để lại ...

- Đã đành - Vi Hán rút thêm một điếu thuốc châm nối vào tàn lửa đang hút rồi cao giọng - Bố đã nghe chủ trương mới về ruộng đất chưa ? Mỗi hộ chỉ được cấp hai sào thôi ...

Ông Ngang nhíu mày:

- Ai cấp ?

- Chính quyền chứ ai !

- Nhưng vườn tao là của ông bà để lại ...

- Đã đành ...

- Hơn nữa nhà tao có những bảy hộ ...

- Con biết rồi ...

- Biết rồi, biết rồi.. Cái chi mi cũng biết rồi, vậy còn nhòm ngó làm chi nữa ?

- Là để con khuyên bố...bố già rồi không ham được đâu.

Ông Ngang đứng sững người. Nó nói vậy nghĩa là thế nào ? Có phải là nó đang thách thức ông ?

Nhưng Vi Hán đã quay người trở về túp lều bà Lanh. Ông Ngang cay đắng nghĩ đến những tội lỗi không thể dung tha được của con và của vợ. Cần phải trừng trị ! Nhưng trừng trị bằng cách gì thì ông chưa nghĩ ra. Vừa lúc ấy tiếng sáo tre ở nhà bà Lục vang lên nghe toe toe như còi thổi. Lũ con trời đánh. Ông Ngang tức tối đến lộn ruột, nghiến răng chạy vào nhà.

Sau đấy không đầy tuần lễ, chiếc xe con quen thuộc của Phó Chủ tịch huyện lao chồm từ ngoài đường sỏi vào chính giữa khu vườn. Hoành bước xuống trước đưa tay vẫy một vòng chào cả nhà. Sau lưng Hoành là Vi Hán, sau Vi Hán là Lan. Họ đứng túm tụm dưới một gốc mít chỉ trỏ về phía bờ phi lao. Thế có điên tiết không chứ. Ông Ngang lại chếnh choáng bước ra.

- Nì ... chỉ chỉ cái chi, hử ?

- Bố ạ ! - Hoành chào trước.

- Bố ạ ! - Cả Vi Hán lẫn Lan cùng chào một lúc.

- Bố ạ , bố ạ cái chi. Đây là đất đai tổ tông tao để lại, quyền bính chi bay mà chỉ với trỏ ?

Hoành quay hẳn lại cười rất to:

- Bố ơi, đất đai là tài sản chung của Nhà nước. Hơn nữa chúng con làm việc là làm cho toàn dân. Việc gì ích nước lợi dân thì bố phải ủng hộ chứ !

Ông Ngang khoát tay:

- ở đây không có việc chi ích nước lợi dân cả.

Hoành bước sán lại trước mặt ông Ngang, giọng nhẹ nhàng:

- Bố ơi, huyện mình bây giờ phải làm ăn lớn. Phải biết khai thác triệt để mọi thế mạnh có sẵn trong huyện. Sắt vụn, đồng nát và tất cả những phế liệu chiến tranh là một nguồn nguyên liệu rất dồi dào của huyện. Nếu cứ nhặt đem đi chỗ khác bán là vác của đi cho người ta. Vì thế anh Vi Hán có ra bàn với huyện mở một xưởng luyện thép thủ công. Việc này hay lắm. ý định của anh Vi Hán là lấy khu đất chỗ kia để xây dựng xưởng ...

Ông Ngang tròn cả hai mắt :

- Ô hay, rứa cả huyện hết đất à ?

Vi Hán xoa xoa hai tay trước mặt:

- Bố ơi, đất thì chẳng thiếu, nhưng khu vực này là trung tâm của phế liệu. Đặt xưởng ở đây rất thuận tiện.

- Thì đặt lên chỗ kia ... kia kìa ... Hay làm luôn ra ngoài chỗ căn cứ quân sự hồi trước có tiện hơn không ?

Lan khó chịu nguẩy đầu một cái, môi lại chìa ra:

- Bố thì lắm chuyện. Việc của cấp trên, biết chi mà cũng góp vào.

Ông Ngang chồm cả người tới gào lên:

- Tao mà không biết à ? Tao mà không biết ư ? Tao biết tỏng tòng tong bụng dạ chúng mày rồi ... Đồ háu ăn, đồ háu của ...

Lan mím môi lại cầm tay áo chồng dặt mạnh:

- Đi anh ! Điếc tai lắm ...

Hoành khẽ liếc mắt về phía bố vợ vẻ ái ngại. Nhưng Lan đã kéo anh về xe. Ông Ngang vẫn chưa nguôi cơn tức giận:

- Tao bảo cho mà biết ... đừng có vác mặt về đây ... đồ vô phúc !

Chiếc xe con quen thuộc lại rú máy, xịt khói chồm chồm ra khỏi khu vườn. Ông Ngang nắm chặt hai bàn tay, nhìn theo đám bụi đỏ sau đít xe mà lòng cuộn trào bao nỗi căm tức. Phải làm một cái chi đây ? Phải làm cái chi đây ? Ông điên tiết vì không nghĩ ra được mưu kế gì. Đột ngột ông đi như chạy về phía các túp lều.

- Nì, mẹ cái Ngô, họp !

Bà La ngẩng mái đầu lốm đốm tóc bạc lên nhìn chồng ngơ ngác:

- Bố nó nói cái chi ?

- Họp

Nói rồi không để cho bà vợ già kịp hiểu ra ý nghĩ của cái từ lạ lẫm đó, ông xồng xộc chạy đến một túp lều khác:

- Nì, mẹ thằng Nghi, lên họp !

- Bà Lu đâu rồi. Mẹ thằng Ngãi đâu, lên họp !

- Mẹ con Líp nữa, lên họp !

- Lên họp !

- Lên họp !

Trong số bảy bà vợ ở xóm này có quá nửa đã quen với tiếng "họp". Bởi từ ngày có quan hệ với xã Hưng Thịnh họ cũng đã nghe nhiều lần hai tiếng "mời họp". Cũng có bà đã từng đi dự họp hẳn hoi. Nhưng điều quái lạ làm cho tất cả ngơ ngác không sao hiểu nổi là người mời họp lại là ông chồng dở người của họ , mà cũng không giải thích là họp với ai, họp chỗ nào. Họ hoảng hốt như sắp có tai hoạ gì đó tràn đến. Tất cả vội vã chui ra khỏi lều, luống cuống kéo lên gặp chồng cốt để hỏi lại cho rõ. Thấy mọi người hớt hãi tập trung , ông Ngang bỗng thấy hay hay. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay, đây là lần đầu tiên ông xuất thần nghĩ ra cái trò quái dị này. Có lẽ đó là kết quả của hàng chục lần hăng hái đi dự họp. Ông Ngang cố nhớ lại xem các cuộc họp thường được bắt đầu thế nào ?

- E hèm ... mời bà con ngồi ... e hèm. Mời chú bác ngồi vào trong này ...

Cả bảy bà vợ sững sờ nhìn chồng. Họ tái mặt vì ai cũng nghĩ có lẽ chồng mình đã trở tính. Nhưng ông Ngang thì vẫn hăng hái:

- Nào ... mời ngồi ! ... ô hay, điếc cả à ?

Tất cả miễn cường ngồi xuống, nín lặng, mắt lấm lét nhìn nhau.

- E hèm ... kính thưa các ... mẹ nó. Hôm nay tôi mời tất cả các mẹ nó đến để họp nhằm thảo luận một cái chủ trương ...

Ông Ngang mím môi lại. Chà, biết nói cái chi. Không hiểu sao ở các cuộc họp người ta nói được dài đến vậy. Đ.mạ, chẳng ai ngu như mình, ông nuốt ực một cái trong cuống họng, ừ, vì mình ngu cho nên nay phải còng lưng mang bảy con mụ này trên vai, mà cái kho của kia đâu chẳng thấy. Tất cả là do các mụ này. Những đứa con bất hiếu kia cũng từ các mụ này mà ra. ánh mắt của ông đột ngột loé lên những tia nhìn căm hờn:

- Cái chủ trương là ... con cái mấy mụ quá hư đốn. Tất cả đều cõng rắn cắn gà nhà ... Ngày trước cha mấy mụ lừa tôi, chừ đến lượt con mấy mụ lừa tôi. Tôi là cái gì ? Là con trâu còng lưng kéo cày, là con chó ngày đêm gác cửa, là con ngựa è cổ kéo xe ... Từ ngày tôi về đây, có ai nhớ được tôi đã làm những gì. Cái nương cũng tay tôi phát, cây mít cũng tay tôi trồng. Nuôi vợ, rồi nuôi con. Rứa mà chúng nó rình rập nhau phá hết. Một thằng rể bày mưu cướp đất. Một thằng rể khác nghe vợ xúi giục đồng loã với thằng kia . âm mưu chúng là gì ? Thưa các mẹ nó ! Thực chất là chúng muốn nhòm ngó thế mạnh của ta. Nhưng thế mạnh của ta ở đâu ... ? Sư cha nó. Nó chết thì nó mang theo, không hở miệng cho ai biết. Hơn bốn chục năm về sống với cái nhà này tôi nào có nhìn thấy. Toàn là nghe nói. Đầu tiên là mẹ thằng Ngô thầm thì vào tai tôi. Đúng rứa không mụ La ? Rồi thì đến lượt mẹ thằng Nghi quyết một quyết hai là có. Rứa mà đến chừ tôi hỏi có ai đã trông thấy cái thế mạnh ấy chưa ? Chưa hí ? Đ. mạ, toàn là một phường bịp bợm ! ... Khi tôi chưa về đây, dù nhỏ dù to tôi cũng có một cái hiệu thuốc trong phố, dù hay dù dở người ta cũng kêu tôi bằng thầy. Rứa mà mấy mụ thay nhau xúi giục tôi, về đi, mau lên. Về mà chiếm lấy khu đất ấy, có cả một kho của cải đủ xây cả một thành phố, về mau đi , bố già sắp chết, rõ đúng là miệng lưỡi rắn độc. Chừ thì bầy con của mấy mụ chắc chắn cũng đang cuống quýt giục mấy thằng chồng nó như vậy. Mau lên, thằng bố sắp chết rồi, mau về mà chiếm lấy cái vườn ấy ... Đ.mạ chúng nó ! Cứ về đó mà đào mà bới, có cái máu l ...

Các bà vợ ngao ngán thờ dài. Thì ra họp là như vậy. Ông ấy kêu lên đủ mặt để chưởi cho sướng miệng. Lâu nay ông ấy vẫn chưởi, nhưng mới chưởi từng người, mới chõ mồm vào từng căn lều. Còn chừ thì ông bắt tập trung lại nghe chưởi tập thể.

Bà La chống gối đứng dậy, dáng điệu run rẩy. Bà vừa tức giận, vừa tủi hổ lại vừa mệt mỏi. Năm nay bà đã trên tuổi sáu mươi. Tất cả những gì thuộc về quá khứ đã hoang lạnh và mờ xa trong ký ức bà. Ngay cả chuyện bà mê muội bỏ nhà trốn đi theo cái thằng thầy lang ấy nay bà cũng không nhớ rõ. Tuổi tác và sự nghèo nàn ê chề đã gặm mòn tất cả những khát vọng ngày trước. Rồi đến bà Lê, bà Lu, bà Lanh cũng thế. Quả thật có một thời hễ nhằm mắt là các bà nhìn thấy một hình nhân mình đỏ như máu, đứng bằng một chân cứ lù lù hiện ra trước cửa. Đó là những gì nhìn thấy được của mẹ các bà. Nhưng rồi gần trọn một kiếp sống, nỗi cơ cực bần hàn cứ bào xát lên từng bữa ăn, từng mảnh áo khiến cho con người xa dần mọi hy vọng. Những ảo ảnh về của cải, về sự giàu sang cứ lụi dần rồi tắt hẳn.

May mắn trong số các bà, chỉ có hai người em sau cùng vẫn còn phảng phất chút ảo mộng. Bà Lương, từ ngày con gái biết làm ra tiền bằng chính cái bà đã sinh sản ra, rồi đến khi nó lấy được chồng có quyền có chức thì tấm áo trên người bà có phần sáng sủa ra, bữa cơm hàng ngày cũng có phần mặn đũa. Hơn nữa, ngoài Lan ra bà không sinh đẻ thêm được, cho nên sức lực còn căng mà đồng tiền chi tiêu lại ít, của cải trong nhà đã có phần dôi ra . Và khi đã có thể nhìn thấy đồng tiền dư dật thì người ta lại biết khát khao. Vì lẽ đó, khi Lan thủ thỉ hỏi mẹ chuyện tượng đồng đen một chân , bà Lương đã cố nhớ lại những gì thuở bé mình nghe được rồi bà bắt đầu thêm thắt, thêu dệt nó để kể cho con như kể một câu chuyện cổ tích đầy hấp dẫn. Lan nghe xong suốt đêm không ngủ. Hơi thở cô gấp gáp một cách lạ thường. Nếu phải là con trai có lẽ cô đã vác cuốc đi đào đất ngay trong đêm ấy.

Còn bà Lục thì ngược lại. Trước hết vì bà là con út, năm nay mới rập rình cái tuổi năm mươi. Ham muốn của con người thường ngược chiều với tuổi tác. Cái độ tuổi ấy chưa lấy gì già lắm , vẫn còn nuôi dưỡng trong nó khát vọng làm giàu. Hơn nữa thực tế đời sống bà là kẻ bất hạnh trong số những kẻ bất hạnh, là túp lều nghèo nàn nhất của xóm bảy nóc nhà. Bà chỉ đẻ được một đứa con trai thì lại bị mù, vô tài vô tướng, ngày ngày chỉ biết ngồi trước thềm nhìn ra, hình hài trắng muốt như cục bột. Sau đó, bà sinh thêm ba gái nữa. Con Loã mới mười sáu tuổi đã lấy thằng thợ nề. Còn hai đưa em lên mười và tám tuổi, ngày phải lang thang đi bới vỏ liều. Lắm đêm bà Lục nằm khóc một mình, nước mắt ướt đẫm chiếu. Khóc chán bà lại ngủ mê, bỗng thấy thằng Ngẩu vươn vai thành một người cao lớn, đôi mắt sáng quắc. Nó lừng lững đi ra vườn, chỉ vào một gốc mít. Thế rồi nó đào, nó xúc, loáng một lúc đã ôm trên tay một cái bọc đỏ loét. Cả xóm nhào nhào chạy theo nó. Nhưng đôi chân cao lớn của nó bước nước sải. Chẳng ai theo kịp. Mẹ nó cũng không theo kịp. Nó quay lại cười vang cả vùng đồi ...

Sau một hồi chưởi bới no nê, ông Ngang thấy nỗi ấm ức trong lòng có vợi đi đôi chút. Cho nên ông tuyên bố giải tán. Sáu bà vợ ra về. Bà La đã bỏ vào giường trong nằm từ lúc nào.

Ông Ngang ngồi lại một mình ngẫm nghĩ. Chừ thì ông đã có thể bình tâm mà ngẫm nghĩ. Có lẽ chúng nó sẽ lấy phần đất giáp bờ phi lao ấy thật. Cầu trời pho tượng đừng chôn ở vùng ấy. Mà nếu vậy thì nó được chôn ở đâu ? Cái cấp bách nhất hiện nay là phải tìm cho ra chỗ chôn pho tượng ... Giả sử tìm được, ôm nó trong tay rồi thì mặc cho chúng bay, muốn chia năm, sẻ bảy hay lấy luôn cả vườn cũng được. Biết làm sao đây ?

Ông Ngang cảm thấy ruột gan cồn cào như lửa đốt. Biết làm cách nào ? Ông đã từng đào đến năm mươi cái huyệt, mà mỗi huyệt phải bằng ba bốn cái lỗ huyệt thông thường, chẳng lẽ phải đào đến năm mươi nghìn huyệt sao! Khốn nạn thay cái thứ công việc ấy không thể công khai. Không thể mượn nhờ tay người khác, không thể huy động hay thuê mướn nhân công được. Nhưng nếu rồi đây cái thằng mặt sắt kia nó đóng xưởng chỗ ấy, nó nể nang gì mà không đào ...Biết đâu nó vớ phải. Thế là toi công cả cuộc đời !

Ông Ngang lồm cồm đứng dậy, hấp tấp đi ra vườn. Ông băng ngang lội dọc thành hình chữ thập rồi sau đó lụi cụi đi một vòng khắp bốn chiều nương. Vừa đi ông vừa để mắt nhìn. Lòng thấp thỏm một hy vọng ngây ngô, biết đâu sẽ phát hiện ra một dấu vết gì đó ? Thật là thảm hại. Đã gần một trăm năm rồi. Mảnh vườn đã qua không biết bao nhiêu lần cuốc xới làm sao lại có thể còn dấu vết. Thế mà ông vẫn đi, mỗi lúc một luống cuống. Ông vấp ngã liên tục, thở lào phào, mặt túa mồ hôi. Cái tuổi già thạt đáng nguyền rủa!

° ° °

Giữa những ngày căng thẳng và hoảng loạn như vậy thì đột nhiên vào một buổi chiều có một người cưỡi Hon- đa lao vào sân giữa căn nhà ông Ngang. Bọn trẻ con nhào ra đầu tiên. Chúng reo hò vì được nhìn thấy tận mắt chiếc xe máy. Các bà mẹ cùng lò đầu ra khỏi các túp lều. Ông Ngang giật thót người, nấp sau tấm phiên liếp nhìn ra.

Người khách tuột xuống khỏi xe. Chính anh là người ngạc nhiên hơn ai cả vì sự đón tiếp ngơ ngác và lạnh lẽo ấy. Anh đứng đực giữa sân mồm cười gần như mếu:

- Sao ? ... Không ai nhận ra tôi nữa à ?

Đột ngột bà Lê nhào ra:

- ối trời đất ơi, thằng Nghi !

- Há ?

- Hứ ?

- Lạy phật!

Chừ thì tất cả mới nhìn thấy rõ. Thằng Nghi con trai bà Lê ! Các bà dì thay nhau đổ xô tới, mếu máo, sụt sịt, người cầm tay, người xoa đầu. Ông Ngang chếch choáng bước ra, nước mắt nhỏ giọt:

- Cha tổ sư mi ... con với cái ! ...

Đã lâu lắm, hay nói cách khác là chưa bao giờ cái xóm nhỏ Linh Linh này lại có được một cuộc chuyện trò nồng nhiệt và cảm động như tối hôm đó. Một nồi khoai luộc bốc hơi nghi ngút. Đằng sau bếp cô Lào giúp dì Lê chặt cổ một con ngan. Cả bảy nhà, hàng chục người xúm xít trong căn lều bà Lê nghe đứa cháu kể chuyện. Giọng nói của Nghi oang oang. Sức vóc của nó cũng cao lớn, nhìn vào nó mới tin dòng họ này chưa thể tàn phai được.

Nghi kể dạo anh trốn quân địch chạy vô Huế, lang thang mãi mà chẳng kiếm ra cái gì ăn, muốn lảng vảng vào các tiệm nhậu để xin mẩu bánh thừa thì sợ bị tóm cổ. Đói quá, đói đến mức mồ hôi túa ra đầy cả mình. Lúc ấy giá như ăn cướp được, giết người được để có cái cho vào bụng anh sẵn sàng làm. Nhưng phố xá lúc nào cũng kìn kịt người, chém giết đâu phải chuyện dễ. Thế là anh phải gắng gượng đứng lên, run run đi ra phía ngoại thành. Anh đi, cứ đi, vô định hướng ..Bỗng anh nhìn thấy một chiếc cổng lớn khép hờ. Bên trong, ở ngay giữa sân nhà có một tốp người đang ngồi quanh chiếc bàn, trên đó bày la liệt các món ăn. Trời đất ơi, thà đừng nhìn thấy nó, còn đã nhìn thấy rồi thì không thể nào bước đi được nữa. Nước chua ói lên cổ. Bao tử kêu réo rắt. Anh như kẻ bị thôi miên, ngất ngưỡng bước vào.

Một lão béo ục ịch, vừa cầm la - ve lên định mở thì trông thấy anh. Hắn có vẻ kinh ngạc, mồm há ra: "Anh hỏi ai ? " Dĩ nhiên lúc ấy anh chưa kịp nghĩ ra một lý do gì đó để trả lời. Lão béo ị nhăn mặt " Cái thằng này, mi lạc lối à ? ". Cần phải nghĩ ra một lý do ngay lập tức nếu không sẽ được ăn cái bạt tai . Anh cuống cuồng nghĩ. Nhưng lý do chi mới được chứ ! Cả tốp người quanh mâm đều đã quay hết lại nhìn anh. Có lẽ lúc đó bọn ấy kinh hãi lắm vì hình hài xơ xác của anh. Trong số những đứa ngồi bên bàn tiệc ấy có một thằng trông rất dị hình. Ngàn lần đội ơn thằng ấy. Nhờ có cái mặt đen thui thủi của hắn mà trong một giây xuất thần anh kịp nghĩ ra. Anh kịp nghĩ ra rồi ! Khi cái thằng béo ị kia cầm lăm lăm trong tay chai la - ve lừ lừ tiến sát vào mặt anh, khi cánh tay hắn chưa kịp vung lên để choảng vào trán anh thì anh đã kêu lên : "Tôi muốn bán một pho tượng đồng đen". "Cái chi ? Tượng đồng đen à ? Mấy cân " Cả bầy nhao nhao hỏi. Anh đáp khủng khỉnh " Hai mươi bảy cân" "Cha mẹ ôi, đ.mạ thiệt chơi mi". "Tôi từ xa đến đây, lang thang mấy ngày rồi ! không thể là chuyện chơi được " Thằng mặt đen như tượng bỏ ghế tiến thẳng lại phía anh: " Này, đưa ra đây xem. ở đây toàn người tử tế cả !" Anh cười phì: "Ông nói như là đi bán cái nồi đất không bằng. Tôi chỉ là người dẫn mối thôi !" Cả bọn gật gù ra vẽ hiểu. Thế rồi tất cả ồ lên, kéo anh vào cuộc. Chừ thì không thể nhớ tỷ mỉ lúc ấy mọi chuyện diễn ra như thế nào. Có điều chắc chắn là anh đã ăn được một bữa no nê tới mức đêm ấy phải đi ngoài hai lần và suốt ngày hôm sau không hề nghĩ tới cơm nước.

Chuyện của Nghi kể chẳng hiểu bịa hay thật nhưng cả nhà được một trận cười đến lộn cả ruột. Riêng ông Ngang không vui, thậm chí còn thấy khó chịu nữa. Cứ cho là chuyện bịa một trăm phần trăm thì vẫn có cái điều rất thật là, ngần ấy năm trôi qua hắn, cái thằng trời đánh này, vẫn không thể quên pho tượng đồng đen một chân, hắn vẫn tâm tâm niệm niệm về cái kho của ấy.

Nghi vẫn say sưa kể. Sau đó, thằng có cái mặt đen sì và cặp môi dày như hai con đỉa vắt ngang ấy đã dắt anh về nhà. Hoá ra hắn là chủ một xưởng đúc gạch hoa. Hắn hỏi anh tỉ mỉ về pho tượng. Dĩ nhiên anh cũng phải kể tỉ mỉ cho hắn nghe. Trí óc anh không đủ khôn ngoan để bịa ra những gì ngoài câu chuyện mà mẹ đã kể cho nghe hồi trước. Hắn nghe và tin lời anh. Dĩ nhiên là hắn hẹn hò. Và dĩ nhiên là anh phải hứa hẹn. Biết làm cách nào khác được. Sau đó hắn nhận anh vào làm việc trong xưởng. Thật là may, chỉ sau một năm thì đại loạn. Giải phóng tràn vào. Thằng mặt đen phải bỏ chạy vô Đà Nẵng. Sau giải phóng, con trai hắn tiếp tục sự nghiệp của bố, lập lại xưởng gạch hoa. Anh vẫn làm việc, vừa làm vừa học. Nay thì anh đã trở thành một kỹ thuật giỏi. Có thể tự mình lập xưởng được rồi ...

Chuyện đến đó thì không còn ai cười nữa. Hết những cái để cười. Hơn nữa người ta bắt đầu thấy ái ngại. Các bà dì khẽ liếc mắt nhìn nhau. Ông Ngang thở hắt ra một cái rõ to rồi đột ngột xẵng giọng:

- Rứa chứ mi về đây làm chi ?

- ơ hay - Nghi có vẻ ngạc nhiên, trán nhíu lại - con về thăm bố, mẹ với các dì ...

- Hừ ...

Ông Ngang gầm gừ trong cổ. Các bà vợ nín lặng. Họ nhanh chóng đọc được ý nghĩ của chồng. Mọi người lặng lẽ đứng lên, vờ đi ra sân rồi lẹ làng rút lui. Không khí đột nhiên tẻ lạnh.

Đêm đó, bà Lê thủ thỉ bên tai con, kể cho Nghi nghe tất cả chuyện nhà chuyện cửa suốt mười mấy năm qua. Vừa kể bà vừa thở dài. Bà khuyên con có về thăm thì đừng nhắc nhở gì đến cái tượng đồng đen quái gỡ ấy cả. Mà thực ra đã chắc gì có cái đó. Tất cả chỉ là chuyện tầm phào. Bà kể cả việc thằng cháu rể Vi Hán với Hoành bàn định nhau cắt đất làm xưởng đúc sắt. Bà ca thán chuyện con Lan hùa theo chúng nó làm khổ bố ! ...Nghi ngồi nghe, im lặng như một người câm. Đã quá canh ba, gà trong xóm te te gáy, tất cả bảy túp lều đã tắt đèn, nhưng điếu thuốc trên môi Nghi vẫn lập loè cháy. Có thể nói, suốt một đêm ròng anh không ngủ. Có thánh mới biết Nghi nghĩ ngợi chuyện gì.

Sáng hôm sau Nghi chào cả xóm rồi lên xe phóng đi từ lúc mặt trời chưa mọc. Mọi người cứ đinh ninh là anh trở về Huế. Nhưng vừa ra đến đường quốc lộ anh đã cho xe quẹo phải. Nghi lao thẳng lên huyện.

Loanh quanh mãi gần đến tám giờ Nghi mới tìm ra được nhà riêng của Phó chủ tịch Hoành. Nhìn thấy người đàn bà dáng hình thon thả mặc chiếc áo lót Thái Lan có viền hoa ở ngực đang đứng chải tóc trước gương lớn gắn ở tủ đứng, Nghi đoán chắc đấy là Lan. Anh bỏ xe ngoài cổng chạy sầm vào:

- Có phải Lan đó không em ?

Tiếng gọi hơi suồng sã khiến Lan quay phắt lại. Có một phút ngớ ra, lúng túng. Nghi phải gào lên cuống quýt:

- Không nhận ra anh à ? Anh đây mà, Nghi đây !

- ối, anh Nghi !

Lan lao ra, nhảy chồm lên ôm ghì lấy cổ người anh trai cùng cha khác mẹ. Nghi bế xốc em gái lên, siết chặt vào người quay vù vù hai vòng. Cung cách ấy Lan học được từ thủơ còn đám lính tóc quăn mắt đục. Còn Nghi thì nhìn thấy thiên hạ ôm nhau quay trong các tiệm nhảy.

- Chao ôi, đi đâu mà mất tăm mất tích thế ?

- Đi làm ăn chứ đi đâu.

- Khá không ?

- Tạm đủ. Đây, quà cho em gái này ...

Vừa nói Nghi vừa rút luôn chiếc nhẫn một chỉ trên ngón tay đeo luôn vào tay Lan. Việc này anh đã tính từ lúc phóng xe trên đường. Chỉ có ở thời điểm này, thời điểm gặp gỡ đầy cảm động thì móc chỉ vàng ấy vào là ngon nhất. Để muộn chút nữa sẽ rất khó nói.

Quả nhiên Lan sững ra vì cảm động. Rồi ngay lập tức như con bệnh bị bắn trúng huyệt , cô đánh đu lên cổ anh trai hôn đánh chụt một cái. Hai anh em cười híp mắt. Sau đó họ túm tay nhau chạy như những đứa trẻ vào trong nhà.

Lan liến thoắng hỏi chuyện, còn Nghi thì từ tốn kể. Sau cái giấy phút cuống quýt đầy cảm động của buổi hội ngộ, bây giờ anh cần nhất là sự tỉnh táo, tỉnh táo để lái mọi câu chuyện vào đúng trọng tâm.

- Bây giờ thì anh đã thành một thằng thợ giỏi nhất trong đám thợ ở đó. Tất cả các kỹ thuật tân tiến về gạch men đều nằm gọn trong tay anh. Tuy vậy vẫn không sao yên lòng được em ạ. Mình dù có giỏi giang đến mấy cũng chỉ là thằng làm công. Có phải số kiếp mình nó định như vậy không ? Không. Chắc chắn là không. Cuộc đời cũng phải dám thử xông ra làm chủ một lần chứ ! Nghĩ vậy nên anh quyết định về , giá như mình thành đạt ở quê cha đất tổ thì sung sướng biết mấy. Mà tại sao quê mình cứ phải đi mua gạch hoa chỗ khác ? Thật là ngu ngốc. Nếu như chúng ta có được một xưởng gạch hoa ...

Lan khẽ mím môi một cái gần như cười. Khó mà đoán được cô ta nghĩ gì. Nghi bỗng thấy chợn chờn. Bất ngờ Lan hỏi:

- Anh định đặt lò gạch ở đâu ?

Nghi hơi bị ngớ ra. Lẽ nào cô ta lại nhận ra ý đồ của mình mau lẹ đến vậy ? ... Anh nói ngập ngừng:

- Thì đang định về bàn với dượng ...xem xem ý huyện thế nào ?

- Anh Hoành nhà em cả tuần nay bận họp. Anh đã về thăm nhà chưa ?

- Đã. Đêm qua anh ngủ lại ở dưới xóm ...

Lan cười. Bây giờ thì cười to hẳn hoi. Đôi mắt sắc như lá lúa khẽ liếc người anh một cái tinh quái. Rồi cô đứng lên, với tay kéo chiếc phin cà phê trên tủ, vừa pha cà phê cô vừa tủm tỉm hỏi:

- Chắc ý anh muốn đặt xưởng gạch hoa dưới xóm Linh Linh chứ gì ?

Nghi thuộn cả mặt, cười gượng gạo:

- ờ ... dưới đó cũng hay. Chỗ đất sát bàu nước rêu đen ấy làm gạch men tốt lắm ...Mà cũng gần bố mẹ

- Này, nhưng em nói thật, phải chia nghe chưa ?

Nghi nhíu mày lại:

- Chia cái gì ? Em cũng định lát lại sàn nhà ư ?

Lan quay phắt lại, khuôn mặt đột ngột đổi sắc, hơi tái đi:

- Thôi đừng vờ nữa. Cứ thẳng tuột ra có hơn không. Người ngoài em còn chịu chơi huống anh em ruột. Nếu tìm thấy phải chia, chịu không ?

Đã đến nước ấy thì không còn đường để loanh quanh nữa, Nghi nhếch mép cười nhạt:

- Cô đáo để thật. Trách chi mạ với dì cứ kêu rên mãi.

- Xì ...cái môi Lan lại chìa ra - Mấy cái mụ già " cố đỉnh ".

- Thôi được, đã chắc gì có. Nhưng giả sử trời cho thì chia.

- Chia sao?

- Phần em cái chân còn lại.

- Dẹp

- Ô, em có biết một cái chân là mấy lượng không ?

- Đ. mạ, rứa anh có biết cả con người là mấy chục cân không ?

- Nhưng đã chắc chi có ...

- ừ, thì cứ biết vậy. Có điều , ăn cho- buôn so, cái chi cũng phải sòng phẳng từ trước.

Nghi đứng hẳn dậy, dáng điệu dứt khoát như kẻ mua hàng:

- Vậy ý em sao, nói thẳng anh chiều !

- Từ rốn xuống.

- Rồi, từ rốn xuống !

Nghi chìa tay ra. Lan đập đánh bốp một cái. Họ cùng cười. Nghi bước ra xe. Lan nói với theo:

- Đi đâu vội, ở đây em làm cơm ăn đã.

- Thôi khỏi.

Xe nổ máy xả khói đen sì. Cả người cả xe lao như điên về hướng thành phố.

Sau đó những chuyện gì đã diễn ra trong gia đình Phó Chủ tịch Hoành thì không ai biết được, vì đó là việc nội bộ. Nhưng chỉ độ nửa tháng sau, xóm Linh Linh bỗng nhiên náo động vì cùng một lúc có hai đoàn thầu đến cuốc xới. Ông Ngang lồng lộn chửi bới. Người ta chìa ra cho ông hai tờ giấy có đóng dấu đỏ. Ông không thèm đọc. Người ta đọc cho cả xóm nghe. Đấy là hai quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện. Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương, căn cứ vào thế mạnh của huyện nhà, thực hiện chủ trương Liên doanh hợp tác, nay quyết định khởi công xây dựng xưởng luyện thép thủ công, nay quyết định thi công tổ hợp gạch tráng men, địa điểm xóm Linh Linh, bắc giáp ... đông giáp ... tây giáp ...

Các bà vợ , kể cả những bà già từ lâu đã tắt hẳn nổi thèm muốn về chuyện pho tượng thì nay với sự đổ bộ ồ ạt của hai đoàn thầu, đào cuốc từ hai phía vườn, bỗng nhiên họ cũng thấy lo sợ và hoảng hốt. Một cái gì đó đột ngột giục dã trong lòng các bà. Thế là không ai bảo ai, những người còn sức thì tự mình vác cuốc ra, những người không còn sức thì gịuc con, hối cháu, tất cả lao ra vườn thi nhau đào bới. Cây lớn như mít, chè bị đào, chặt từ bốn phía. Cây nhỏ như sắn, khoai thì lật tung ra giữa đất. Cả một khu vườn mênh mông ồn ào tiếng cuốc xới. Nắng tháng năm như xối lửa. Cây chết héo, khô lá, trốc rễ. Trên bốn mẫu đất phút chốc trống trải xơ xác như bị ném bom.

Công cuộc tìm kiếm của đám các bà và trẻ con chỉ kéo dài được ba ngày. Sau đó họ phạc phờ vì mệt mỏi. Không thể đua nhau với đám người khoẻ như trâu kia được. Họ vứt cuốc, thở dài, tuyệt vọng. Thế rồi hình như con người khi ở cực điểm của sự tuyệt vọng lại xuất thần nghĩ ra kế hay. Các bà chợt nhớ đến con cái mình. Trước hết là bà La còn có thằng Ngô, bà Lu có thằng Ngãi và bà Lam có thằng Ngụ. Còn bà Lục thì đau đớn nhìn đứa con trai trắng như cục bột suốt ngày ngồi thổi sáo ở thềm.

Cô Lào được phái đi với trọng trách vô cùng lớn lao là tìm cho được người anh và hai chú em hiện đang ở phương nào. Cả bà La lẫn dì Lam, dì Lu góp nhặt lại được bốn ngàn đồng giao cho Lào. Cô ra đi vào một buổi sáng gió lào thổi ù ù. Không ai trừ ba bà già kia được biết nội dung chuyến đi quan trọng ấy của người đàn bà luống tuổi không chồng.

Sau hơn nửa tháng đợi chờ một cách cháy gan cháy ruột trong tiếng đào bới ầm ầm của hai đoàn thầu cho đến một buổi chiều người ta chợt nghe thấy tiếng xe máy rú ga ở ngoài đường sỏi. Cả ba bà già đều hớt hải chạy ra. Một chiếc xe máy màu sữa lao như điên vào thẳng xóm. Ngồi trước là một gã đàn ông bận bộ sơ mi tuyền trắng. Sau lưng là một người đàn bà. Có thể dễ dàng nhận ra cô Lào. Còn người đàn ông kia là ai ? Cả ba bà đều lầm rầm khấn vái cầu khẩn.

Đó là Ngãi. Ngãi lao xuống gấp gáp như kẻ chữa cháy. Bà Lu chồm ra mếu máo. Còn bà La và bà Lam thì đứng đực người. Lào vất vả lắm mới xuống được khỏi yên xe và đột ngột khóc hu hu: "Con tìm, tìm mãi.. mà không ai biết anh Ngô con ở .. chỗ .. chỗ nào ... hu hu... Dì Lam ơi ... cả chú Ngụ nữa ... hu hu, thật là kham khổ ..." . Thế là cả hai bà cùng oà lên khóc. Tiếng khóc chen vào nhau nghe não ruột như thể đưa ma. Nhưng lúc ấy Ngãi đã kéo tuột bà Lu vào nhà. Anh hỏi dồn dập trong hơi thở:

- Đứa nào dẫn cái lũ chó chết ấy đến đây rứa ? Thằng Vi Hán là thằng nào ? Thằng Hoành ở chỗ nào ? Làm sao con Lan lại vớ được hắn ? Có phải chính con Lan xúi giục không? Mà liệu con Lan có còn nhận ra con không ?

Vừa lúc đó ông Ngang lò dò bước vào:

- Nì ... mi ở đâu về ?

- Kìa bố ! Chà bố vẫn còn mạnh nghen. Con ở Đà Nẵng

- Mi làm nghề chi ?

- Thuỷ tinh bố ạ.

- Thuỷ tinh ! Hay đó, răng không về chỗ này mà lập xưởng luôn đi ?

Ông Ngang cay cú mà nói như vậy, không ngờ Ngãi đã đứng thẳng dậy, vươn rộng hai vai:

- Để con phải coi đã !

Nói rồi anh đi thẳng ra phía cuối bàu nước, nơi có toán thợ đang đào đât làm lò gạch.

- Này ... có anh Nghi đó không ?

Nghi đang dán mắt vào các hố đất theo dõi từng nhát xẻng của đám người làm, nghe tiếng gọi liền ngẩng nhanh dậy:

- Chu cha, chú Ngãi phải không ?

- Ha ha ... ông anh làm chi mà bạo liệt vậy ?

Họ nhào tới ôm nhau, đấm đấm vào lưng nhau. Phong cách rất chi là Tây. Đám thợ đào đất trố mắt nhìn. Bất ngờ Nghi quay lại:

- Cho mấy chú nghỉ. Đi uống nước đi !

Mọi công việc ngay lập tức được đình hoãn. Hai anh em, một đen, một trắng ngồi bệt xuống bờ cỏ nhìn ra bàu nước.

- Chú làm ăn thế nào ?

- Cũng tàng tàng

- ở mãi đâu kia ?

- Đà Nẵng

- Nghề ?

- Thuỷ tinh !

Nghi gật gù:

- Khá đấy. Có điều nghề đó thì phải bám trong đó, ra ngoài này không được.

Ngãi cười nhạt:

- Đâu có cát là làm được tất.

- ừ ... ừ ... nếu có ra đây thì cũng phải về dưới vùng biển ...

Ngãi cười to hơn, rồi chợt quay nghiêng người lại:

- Công nghệ tân tiến bữa nay cát nào cũng làm được hết .

- Đất này mà cũng làm gạch men được à ?

- Được chứ, rất tốt.

- Tốt cho ai ?

- Cho gạch . Nói rồi Ngãi cất tiiêng cười ha ha .

Nghi cảm thấy khó chịu trước kiểu cười ngạo mạn ấy. Anh đứng dậy:

- Thôi, chú mới về tranh thủ thăm hỏi bố mẹ với mấy dì. Tối nayrỗi rãi, anh em ta kiếm cái chi nhậu đã rồi dốc bầu tâm sự.

- Dạ. Còn khối thì giờ anh ạ.

Họ chia tay nhau. Ngãi quay nhanh vào nhà. Anh xách chiếc túi nhỏ cũng màu sữa trắng đi một lượt khắp bảy túp lều. Trước hết anh tặng cho ông Ngang năm ngàn. Cho mẹ năm ngàn. Sau đó mỗi dì một ngàn. Số tiền lớn đã làm vui vẻ trở lại cả xóm. Mọi người , kể cả ông Ngang bỗng thấy quý mến Ngãi hơn.

Đêm đó họ lại tập trung đến nhà bà Lu nghe kể chuyện . Chuyện của Ngãi, không vui nhộn gây cười được như chuyện của Nghi trước đây nhưng cũng không gây nên nỗi ngờ vực khó chịu cho mọi người vì anh tuyệt nhiên không hề nhắc gì đến cái vật linh thiêng của xóm. Khi mọi người chào anh ra về, mấy đứa em gái đã ngủ say, bà Lu mới thầm thì hỏi:

- Chị Lào đã nói chuyện chi với con chưa ?

- Dạ có

- Con tính sao ?

Im lặng. Ngãi đang cân đong giữa cơ ngơi ở Đà Nẵng với cái kho của cải nghe như chuyện huyền thoại ở chỗ này. Nên hy sinh cái nào ?

- Mạ cũng chẳng ham hố chi nữa. Có điều không lý của chung cha ông để lại mà cuối cùng lại rơi vô tay kẻ khác.

Không thấy con nói gì , bà Lu ngỡ như Ngãi cũng chẳng màng tưởng gì chuyện đó, bà chép miệng:

- Đó là mạ nói vậy chứ cũng chẳng thiết tha chi lắm đâu. Con về được thế này là mừng rồi ...Nếu ăn làm trong đó mà phát đạt thì cũng chẳng nên bươn bã làm chi nữa.

Bà không biết rằng, trong đầu đứa con trai của bà đang nảy ra một con toán ghê gớm. Hắn đoán chắc là Vi Hán và Nghi đã dựa vào thế Phó Chủ tịch. Mà muốn kéo dây được Phó Chủ tịch chắc chắn họ phải thoả hiệp với Lan. Cái con bé ấy nó sẽ đòi bao nhiêu ? Cùng lắm là một chỉ. Bởi cứ ngẫm như bản thân hắn trước đây, từ cái bờ ao nước rêu đen này ra đi, trong túi không một hào bạc lẽ thì khao khát có được là mấy ! Con người ta khi chưa biết đến cái giàu có thì ước ao cũng bé nhỏ. Loại như con Lan, ăn xài là chủ yếu, chắc chắn ước mơ cũng không vượt quá mấy bó coóc- sê ngoại và loại dép thêu rua. Nhưng sự thoả hiệp bao giờ cũng có giới hạn. Hắn đã nhận đến hai hợp đồng rồi, liệu có dám nhận tiếp cho anh không? Chi bằng ta dốc vốn ra, đi một nước thượng lên thẳng chủ tịch? Quả này tốn lắm. Tốn nhưng cao cường. Nếu được là sẽ đánh bại. Thử kiểm điểm lại khả năng của mình xem...Trước mắt có thể bỏ ra một "cây". Với lại cán bộ huyện mới nhoi lên cầm quyền, một "cây" chắc đổ.

Để cho thật chắc chắn, Ngãi thấy cần quay trở vể Đà Nẵng. ở trong đó do chuyện làm ăn mà Ngãi đã quen thân với một vị phó chủ tịch quê ở ngoài này. Cần phải có một lá thư riêng của vị phó chủ tịch ấy gửi về cho quê hương, nói rằng dù đang công tác nhưng tình cảm lúc nào cũng hường về huyện nhà, rằng phải biết làm ăn táo bạo, phát huy hết thế mạnh của địa phương, rằng với tấm lòng tha thiết ấy mà xin giới thiệu cho quê hương một chuyên viên thuỷ tinh loại giỏi. Cứ thế và cứ thế...Cần phải có liền mấy mũi giáp công, đánh là chắc thắng.

Mờ sáng hôm sau, vẫn là bộ quần áo sơ mi trắng, chiếc túi ký giả màu trắng, anh đĩnh đạc ngồi lên chiếc Vec - pa màu sữa trắng lướt nhẹ ra khỏi xóm Linh Linh, quay đầu phóng như bay về phía Đà nẵng.

Tổ hợp thuỷ tinh được quyết định thành lập không dễ dàng như hai tổ hợp trước, điều đó đúng như Ngãi dự đoán. Một cuộc tranh luận khá quyết liệt xảy ra ở cơ quan lãnh đạo cấp huyện. Dù sao xu hướng văn minh cũng thắng. Tương lai mở ra trước mắt mọi người đầy những cóc chén, bình lọ lóng lánh sắc pha lê. Chỉ nghe nói cũng đủ hấp dẫn .

Thế là bao bọc lấy cái xóm nhỏ Linh Linh hẻo lánh là ba cơ sở công nghiệp được ồ ạt thi công sớm muộn hơn nhau không đáng kể. Phía bắc giáp với rừng phi lao là xưởng luyện thép. Phía nam giáp với bàu nước rêu đen là lò gạch tráng men. Phía đông ăn lấn ra hướng quốc lộ mới là tổ hơp thuỷ tinh. Giai đoạn giải phóng mặt bằng và xây dựng nền móng được thi công một cách tổng lực nhưng đến phần thi công nhà xưởng thì cả ba công trình lại kéo dài quá, từ giữa mùa hè đến hết mùa thu.

Rồi bỗng nhiên cả ba công trình không hẹn mà cùng ngưng trệ lại. Mới có vài ba căn nhà lợp tạm bằng tồn. Một cái lò khum khum như chiếc tẹc đựng xăng. Dăm ba đụn đất được tấp lại như những tổ mối. Gió mùa đông bắc bắt đầu thổi. Mưa nhão nhoẹt nền đất. Người làm công vắng dần. Ba ông chủ cũng không còn bám chặt từng ngày như trước nữa.

Ông Ngang thở phào khoan khoái. Cơn sốt thế là qua . Lạy phật. Ông mong bão lụt cứ ầm ầm suốt đêm suốt ngày, nếu cần cứ bão lụt liên miên hết tháng này qua tháng khác!

Nhưng niềm khoái lạc của ông Ngang kéo dài chưa được một tuần thì đột ngột một hôm có hai người, một trai, một gái, tay xách nách mang, ướt đẫm cả tóc tai quần áo ,vừa chạy vừa vấp ngã từ ngoài ngõ lao xộc thẳng vào nhà ông.

Ông Ngang trố mắt nhìn. Đứa con trai chừng trên hai mươi tuổi, tóc dài phủ quá gáy, má hóp, môi dày. Đứa con gái có lẽ cũng trạc tuổi ấy hoặc kém hơn một chút, mặt hơi rỗ, bộ ngực chồm ra quá mức, ống quần bó sát, mông phìn ra phía sau như một cái thúng. Ma quỹ nào đưa cái lũ trời đánh này đến đây? Ông Ngang tự nhủ thầm như vậy. Ông định lên tiếng thì thằng con trai đã bước sát lại:

- Thưa ông cho con hỏi, đây có phải là nhà ông Ngang có bảy vợ không ạ?

" Sư cha mồ tổ nó chứ, cái giống mất dạy,!." Ông vừa chửi thầm vứa trừng mắt lên:

- Tao đây. Mi hỏi chi?. Ai dạy mi hỏi xức xược rứa hả?

Đứa con trai nhoẻn miệng cười:

- Thưa ông, cháu là cháu nội ông đây. Cháu con ba Ngô!

- Há? Ông Ngang trợn tròn mắt . ừ, mà quả thật là giống thằng Ngô. Thế mà lúc nãy đến chừ ông không nhận ra.

- Thiệt à? Mi là con thằng Ngô à? Trời đất ơi, rứa cha mi đâu.

- Cha con chết rồi!

Cậu con trai đáp một cách gọn lỏn. Ông Ngang đứng sững người. Vừa lúc ấy từ buồng trong bà La chồm ra, gào lên thống thiết:

- Con ơi là con... Cháu ơi là cháu... khốn nạn con tôi hô... hô...

Tiếng hỏi nháo nhác loạn xị. Rồi tất cả đột ngột cùng khóc đồng thanh và vang rền. Không ai để ý đến cô gái có bộ ngực vĩ đại. Cô lặng lẽ ngồi vào một góc nhà.

- Khoan đã nào! - Ông Ngang hét lên - Để cháu nó kể lại xem đã, cứ ầm ầm như ông vỡ tổ!

Lập tức tất cả đồng loạt nín thin. Chỉ còn có bà La vẫn rên rĩ từng hồi dài. Bà bỏ mặc các dì , lom khom chui vào buồng, nằm vắt xuống chõng mà khóc. Cậu cháu trai bắt đầu kể:

Hồi ba cháu mới lên A Lưới, lấy mẹ cháu , sinh sống thế nào cháu không rõ. Nhưng từ khi cháu lớn lên thì thấy ba mẹ quá khổ. Mẹ cháu sống bằng nghề làm nương. Còn ba thì hoàn toàn không có nghề nghiệp gì . Ba ở nhà hì hục làm những con rối, đèo trước ghi đông xe đạp cùng với một cái chuông gõ leng keng đi hết bản này đến bản khác để bán cho tụi con nít. Khi cháu lên mười tuổi thì công việc đi bán là việc của cháu. Ba chỉ ở nhà nghĩ ra đủ loại hình rối để làm sao cho vừa mắt khách hàng. Những con rối được gọt bằng ống trúc, bện bằng cật tre hoặc nặn bằng đất sét. Đôi khi lại đẽo bằng gỗ mớc. Muốn hấp dẫn tụi con nít, phải luôn nghĩ ra những hình dạng quái lạ, dữ tợn và bôi màu sặc sỡ. Đó là những chú gà trống cổ nghếch ra sát sau đuôi, là con khỉ có cái mũi đỏ choét. Hoặc một thằng hề đội nón lá. Có khi là hình chú lính Mỹ râu rê vễnh ngược cong như móc câu. Trước đó thì không biết, nhưng từ khi cháu phải đèo hàng đi bán cho đến nay có lẽ phải đến chục năm, không biết có mấy trăm thứ rối hình quái dị. Nếu không thế thì hàng sẽ ế ngay . Cho đến một lần ba cháu cứ ngồi loay hoay suốt cả buổi chiều trước đống gỗ mớc và ống trúc đã được cắt nhỏ mà không biết nên tạo cái hình chi. Mèo, chó, gà, vịt, quan công, phật tổ chi cũng làm hết rồi. Coi như một buổi sáng phí công. Đến lúc ăn trưa vừa bê bát cơm lên tay ba bỗng lật đật đặt xuống. Ba vội chạy đến đống gỗ nhặt lên một đoạn bằng ngón chân cái rồi bắt đầu gọt. Xong bữa cơm cháu chạy lại thì thấy hiện lên hình một người đàn bà. Hai ống trúc nhỏ cắt gập lại làm hai tay chống nạnh. Nhưng khi chắp chân thì ba chỉ lắp có một chân. Thấy lạ cháu hỏi: " Người chi lại có người một chân" Ba nói: Rứa mới lạ, càng lạ chúng nó càng ưa!. Chiều đó ba làm thử mười con. Sáng hôm sau cháu lại đẩy xe đi bán. Chưa khi nào rủi ro như hôm đó, cháu đi hoài đi mãi, đi cho rạc cả hai chân mà chẳng bán được con rối nào. Bọn con nít sau khi cầm hình người lên coi thì lắc đầu nguầy nguậy." Người chi lại một chân , xấu!". Buồn quá cháu đẩy xe về chợ. Chợ tan rồi, nhưng thỉnh thoảng vẫn có nhiều người qua lại. Toàn là người lớn. Có số thì đi trầm. Có số đi bán thuốc. Cháu cứ kiên nhẫn đứng chờ. Đến quá trưa, đói bụng quá cháu định đẩy xe về, thì đột ngột sau lưng có tiếng hỏi:

- Mi bán chi rứa?

Cháu quay lại. Ôi chao ôi, suýt nữa cháu kêu toáng lên. Có ba người chẳng hiểu đàn ông hay đàn bà đang đứng nhìn chằm vào những con rối. Cháu sinh ra trên đó, đến nay đã trên hai mươi tuổi, ngày nào cũng gặp người dân tộc nhưng nói thiệt là chưa khi nào thấy có người dữ tợn đến vậy. Tóc họ xoã xuống đến tận chỗ này. Họ cũng mặc áo nhưng ngắn cũn cỡn. Quần cũng ngắn. Lông mày như sâu róm. Nói tóm lại cháu rỡn gai óc, hai hàm răng cứng lại không sao mở miệng ra được. Một lão trong số họ hỏi cháu?

- Mi lấy cái ni ở mô?

- Dạ... ba... cháu làm.

- Ba mi ở mô?

- Dạ... ở xa.

Lão ta ngậm miệng một lúc rồi bất ngờ cúi sát vào tai cháu:

- Tao muốn con này...

- Thì mua đi!

- Nhưng mua nhiều nhiều.

- Đây chỉ có chừng này thôi.

- Mi dẫn tao về nhà.

Thế là cháu dẫn họ về nhà. Cháu đâu có ngờ tai hoạ lại bắt đầu như vậy. Ba người đàn ông vào nhà, họ đuổi cháu ra ngoài rồi ngồi vây lấy ba cháu hỏi. Chẳng biết họ hỏi những cái chi, chỉ thấy ba cứ lắc đầu hoài. Một lúc khá lâu họ đứng dậy và đưa tay kéo ba dậy. Rồi họ ra sân, ba cũng ra sân. Họ đi trước ba đi sau. Cháu hoảng hốt gọi nhưng ba không ngoái lại. Cháu chạy tới níu lấy tay ba giật mạnh . Nhưng ba không hề nhìn cháu. Mà lúc ấy mặt ba trông kỳ lắm, cứ trắng bạch, hai con mắt đờ đẫn, hai tay cứ run lên như cơn sốt. Cháu oà lên khóc. Một lão trong số ba lão ấy quay lại xô cháu ngã xuống bên đường. Thế rồi họ vụt đi rất nhanh, nhanh một cách kỳ lạ. Cả ba nữa, ba cũng đi nhanh như họ. Cháu vừa chạy vừa gào thét gọi ba. Nhưng loáng một cái cả bọn đã mất hút vào trong rừng...

Chiều ấy mẹ cháu về. Mẹ cháu đã khóc suốt mười ngày, mười đêm. Rồi mẹ cháu thắp hương cắm trước mái nhà, thắp hương cả ngoài ngõ. Một tháng, rồi hai tháng, đến nay nữa là chẵn một năm, ba cháu không trở lại...

Một không khí kinh hãi bao trùm cả căn lều. Những người đàn bà ngồi nép sát vào nhau. Lũ trẻ thu mình vào sát chân mẹ. Ông Ngang mặt tái ngắt, mồm lắp bắp nói thầm thì điều gì đó không ai nghe thấy. Mãi một lúc khá lâu, có lẽ lâu hơn cả thời gian kể chuyện của cậu cháu trai, ông Ngang mới định tâm lại:

- Cháu tên chi?

- Dạ tên Nghê.

- Còn ... đứa kia? - Ông chỉ tay ra phía người con gái.

- Dạ... vợ con đó. Tên hắn là Vĩ Kiều.

Ông Ngang chậc chậc đầu lưỡi:

- Chà... tên chi mà dỡ ẹc.

° ° °

Tất cả những điều mà Nghê đã kể là có thật. Tuy vậy, cái phần sau đó, cái phần rất quan trọng làm cho xóm Linh Linh về sau này càng thêm bi đát thì Nghê đã không kể. Đó là câu chuyện tình duyên của anh với Vĩ Kiều. Có thể vì anh ngượng mà cũng có thể tự anh không hiểu hết. Dù sao anh cũng là một người thật bụng.

Mẹ của Nghê là một người phụ nữ vô tâm , như người ta vẫn thường nói, đấy là loại người bụng để ngoài da. Sau mười ngày khóc lóc như mưa trút thì chị nằm mơ thấy chồng hiện về bảo rằng hãy đi lấy chồng đi, đừng sống cô đơn vậy mà tội. Chi đem chuyện đó kể ra cho bất kỳ ai chị gặp ở ngoài nương hoặc đến nhà thăm chị. Cũng có người ngậm ngùi khuyên chị hãy thư thả chờ đợi thêm thời gian nữa, nhưng chị đã gân cổ lên cãi: " Anh ấy đã dặn rứa, phải nghe anh ấy chứ!"

Thời gian này ở thị trấn A Lưới người ta bắt đầu phát triển nhiều nhà xây. Cả nhà của cơ quan Nhà nước lẫn nhà riêng cá nhân. Nhiều đoàn thợ xây dựng từ dưới xuôi lên đấu thầu. Trong số đó có ông Phú Đản. Phú Đản quan tâm đến chị trước hết là vì câu chuyện nửa có thật nửa huyền thoại mà chị vẫn thường hay kể bô bô ở chợ. Thế rồi một hôm Phú Đản đích thân đến thăm chị. Bằng một giọng đầy thương cảm, ông hỏi về hoàn cảnh gia đình chị, gia đình chồng. Như thể có người gõ vào cái vung ăp ắp nước sôi, lập tức nó xì ra. Chị kể say sưa suốt cả buổi. Rằng nhà chị góc gác ở dưới vùng đầm phá. Ba chị gã chị cho một thằng thợ cưa. Từ khi chị lấy chồng, chị phải bám vào nó như tay cưa, lòng thòng hết chỗ này sang chỗ khác. Là vì hồi ấy người chị khoẻ mạnh, nhan sắc cũng tương đối hấp dẫn, mà tính tình thì lại dễ dãi. May mà chị hơi khó có con, nếu không có lẽ chỉ mới riêng với thằng thợ cưa ấy cũng đã đẻ được hàng chục đứa. Nhưng cái thằng trẻ ranh ấy là một thằng đểu. Nó đưa chị đi lang thang chán chê thì lên đến vùng A Lưới này. Nó cưa xẻ gỗ thuê và cưa xẻ chị. Rồi nó làm cho chị một túp lều bằng gỗ tạp, xung quanh che bằng ván bìa, sau đó nó tuyên bố từ nay gia đình mình sẽ đóng chốt tại đây, em cứ ở nhà cuốc đất làm vườn, anh đi làm mang tiền về để xây tổ ấm. Nghe nói đủ sướng cả người. Chị ở nhà, hắn đi. Đi biệt tăm mất tích. Cái đồ cọp tha quạ rỉa ấy! Mà sao đời chị lại khốn nạn làm vậy hở trời. Lấy chồng nào thì rồi chúng nó cũng bỗng dưng bỏ chị mà đi biệt tăm biệt tích. Thế nên chừ chị đã có kinh nghiệm . Anh Ngô đã đi là sẽ không bao giờ trở lại. Chị chắc chắn vậy vì ai là chồng thì trước sau cũng như vậy thôi.

Phú Đản ngồi nghe người đàn bà bụng để ngoài da ấy kể chuyện. Hắn tỏ ra kiên nhẫn, thực ra là rất sốt ruột. Thực ra hắn hơi đâu mà nghe những chuyện ba chìm bảy nổi đầy thất bại kia. Hắn đang tò mò chuyện khác. Cuối cùng không chịu đựng được hắn hỏi cắt ngang lời chị:

- Này, nghe chị kể với mấy bà ngoài chợ là anh Ngô trước đây có chôn cất một pho tượng đồng đen giống như hình con rối anh ấy làm phải không?

- Là nói bố anh ấy kia. Bố anh ấy là một người đàn ông quái dị. Nghe anh ấy kể mà tui cười đến đứt cả dây lưng quần. Ông ta lấy đến bảy vợ một lúc. Mà bảy bà ấy lại là bảy chị em ruột kìa... Ôi chao ôi là khiếp. Không biết tối đến ông ấy ăn ngủ như thế nào. Gớm, đàn ông các anh ham hố dễ sợ...

Chị cười toe toét, mặt phừng phừng đỏ. Phú Đản cựa quậy người vẻ nôn nóng.

- Thế nghĩa là ở chỗ ông già bảy vợ ấy hiện tại vẫn chôn giữ cái tượng ấy à ?

- Thì tui nghe anh ấy kể vậy chứ từ ngày lấy nhau đến chừ đã có khi nào tui về được dưới đó mà biết...

Phú Đản đứng dậy, vẻ mặt tư lự đăm chiêu. Hắn đút tay vào túi quần, đi đi lại lại như một vị chỉ huy quân sự đứng trước một tình huống phức tạp. Rồi đột ngột Phú Đản dừng lại.

- ở chỗ tôi còn thiếu một cấp dưỡng, một phụ nề. Nếu chị ưng thì cùng với cháu tới làm...Trước mắt đang xây cái cửa hàng cho Thương nghiệp...

Chỉ vài ngày hôm sau chị trở thành cấp dưỡng của đoàn thợ. Còn Nghê thì làm phụ nề. Được nửa tháng, chị ngủ chung giường với Phú Đản. Hai tháng sau, họ tuyên bố là vợ chồng. Tính chị vốn xưa nay là người dễ dãi.

Vợ con Phú Đản ở chỗ nào không ai rõ. Nhưng hắn có một đứa con riêng bán thuốc lá và kẹo ở bến xe An Hoà. Sau khi mẹ con Nghê trở thành "người nhà" của Phú Đản được hơn một tháng thì một hôm Phú Đản cho người về Huế gọi đứa con riêng lên. Đó chính là Vĩ Kiều.

Phú Đản đã ngồi nói chuyện riêng với con gái suốt một buổi chiều. Đám thợ không ai dám lãng vãng đến gần. Người ta chỉ liếc thấy lúc đầu Vĩ Kiều cứ lắc đầu nguây nguẫy, nhưng sau một hồi lâu, hai mắt cô bé sáng rực lên , cả khuôn mặt rạng rỡ y như trẻ con nhìn thấy gói kẹo. Thế rồi sau đó Vĩ Kiều ở lại hẳn với bố. Cố không làm thợ, hàng ngày Vĩ Kiều xách túi hàng ra chợ A Lưới. Loại nghề như cô ở chỗ nào mà chẳng sống được.

Tất cả những sự kiện khác thường ấy lúc đầu Nghê không hề bận tâm đến. Anh là một đứa con trai nhút nhát và thực bụng. Hơn nữa công việc phụ nề quá nặng nhọc khiến tay chân thể xác anh luôn luôn mệt mỏi rã rời. Đó là chưa kể những lời giục gọi, quát mắng, đay nghiến của đám thợ cả. Mặc dù Nghê là đứa trẻ sống lam lũ và cực nhọc từ thủa nhỏ. Tuy vậy, do hoàn cảnh sinh sống của gia đình mà công việc chủ yếu của anh chỉ là đẩy xe đi chợ. Chưa bao giờ anh phải còng lưng xúc những xẻng đất đầy ắp, vẹo cả sườn khi xách xô vữa nặng như đá. Mồ hôi đầm đìa quần áo, vôi vữa dính bết khắp mặt mày. Da chân, da tay rộp bong lên rát bỏng suốt đêm.

Vĩ Kiều chỉ ra chợ một buổi. Buổi chiều cô ở nhà, lảng vảng với đám thợ. Cô không thuộc loại con gái lắm lời Nhưng cặp mắt sắc như dao của cô hoàn toàn đủ khả năng thay cho mọi lời nói. Nghê bắt gặp lời nói ấy nhiều hơn cả. Vài lần đầu, anh tỏ ra khó chịu, nhưng rồi cũng quen. Cả sự liếc trộm nhau cũng thành quen. Thế rồi họ liếc nhau công khai. Đôi khi còn ném vữa vào nhau nữa. Chỉ một tội, càng như vậy Nghê càng bị đám thợ cả đày ải và nhiếc móc. Họ hạch tội anh đủ thứ, có khi thật oan trái khiến Nghê ứa cả nước mắt. Một lần, trong lúc rửa chân ở giếng, Nghê đã thổ lộ điều ấy với Vĩ Kiều:

- Cô đừng có cười cười với tôi nữa.

- Tôi ưng thì cười, ai cấm ?

- Nhưng mấy anh thợ cả họ ghét tôi, làm cực tôi lắm.

Vĩ Kiều bĩu môi:

- Tại anh cù lần.

- Nhưng mình đâu dám nói. Họ là thợ cả, còn tôi chỉ là thứ phụ nề.

Vĩ Kiều khoát tay dõng dạc:

- Anh quên mất điều này. Anh là con chủ thầu. Còn bọn kia, có giỏi mấy cũng là đám thợ làm thuê.

Nghê đứng đực người. Lẽ nào công lý là như vậy. ừ mà cũng có lý thiệt. Mẹ mình đã lấy ông Phú Đản. Mặc dù việc ấy làm cho Nghê đau khổ, thậm chí là xa lánh mẹ nữa, nhưng dù sao cái lý vẫn là như vậy. Nghê chợt thở dài.

Chiều hôm đó, khi Nghê vừa đổ xẻng vữa xuống, dưới chân một anh thợ cả, một hạt hồ bắt lên mặt, anh ta đứng phắt dậy:

- Mi ngu vừa vừa chứ ! Tao tấp cả bay hồ vào giữa mặt coi thử có chịu được không ?

Nghê điên tiết chìa cả mặt ra:

- Anh tấp đi ! Đố cả nhà anh.

Người thợ chồm tới nghiến răng:

- Tổ thằng cha mi, cút đi, cút khỏi đây ngay !

Nghê nhếch mép cười:

- Tao cút hay mi cút ?

- Há ? Người thợ cả trợn tròn mắt, không sao hiểu nổi cái thằng phụ nề đận độn lại cả gan láo xược với mình đến mức ấy. Đang sững sốt thì Nghê đã quay mặt đi.

- Muốn yên thân làm ăn thì câm mồm đi ! Nếu không tao cho biết mặt.

Trong một giây kinh ngạc, bỗng người thợ cả hiểu ra. Anh ta cắn chặt hai hàm răng lại đập đánh bốp chiếc bay vào tường.

Hoá ra mềm nắn rắn buông, từ hôm đó về sau, đám thợ cả không còn xỉa xói Nghê nữa, thay vào đó là thái độ khinh khỉnh, họ không thèm gọi anh, coi như anh không có mặt. Thế càng hay, càng nhàn việc. Nghê thích thú vì đã tìm ra cái chìa khoá quá đơn giản. Anh là con chủ thầu Phú Đản. Mà như thế có nghĩa là anh với Vĩ Kiều là anh em. Từ đó, Nghê ra mặt coi thường đám thợ. Đôi khi anh còn chỉ chỏ những chỗ làm dối, làm ẩu của họ nữa. Còn với Vĩ Kiều, Nghê thả cửa cười đùa, nói chuyện. Họ múc nước cho nhau rửa mặt, có lúc lấy khăn lau một vết bẩn cho nhau, thậm chí có khi Vĩ Kiều nhờ anh thò cả ngón tay nhón một hạt cát rơi xuống phía cổ. Anh em với nhau mà lại. Hết giờ làm, họ dẫn nhau ra chợ chơi. Vĩ Kiều sẵn tiền hơn Nghê. Cô thường mua những hòn kẹo bi tròn như quả trứng thằn lằn. Cả hai nhai bi bóc.

Một buổi tối thị trấn có chiếu phim. Tất cả đoàn thợ đều đi xem. Phú Đản cũng dắt mẹ Nghê đi xem. Đương nhiên Nghê phải đi với Vĩ Kiều. Anh em phải đi với nhau lỡ có ai trêu chọc còn bênh được. Ba dặn thế. Cả hai người ngoan ngoãn dạ ran.

Đường ở A Lưới khó đi. Ban đêm trời tối như mực. Tới một đoạn đường vắng đột ngột có con gì đó nó nhảy xoẹt ở trong bụi rậm. Vĩ Kiều "eo" lên một tiếng, quay vụt lại ôm ghì lấy Nghê, Nghê xoa xoa tay vào lưng em gái:

- Con chồn đó ...đừng sợ !

- Không phải ... ma đó !

Giọng nói của Vĩ Kiều nghe lạc hẳn đi. Cả người cô nóng như một bếp lửa. Vòng tay vẫn xiết chặt lấy người Nghê. Cả bộ ngực đồ sộ và mềm nhũn cứ cựa quậy trước ngực anh.

Có tiếng cười nói của một tốp người từ phía sau đi lại. Vĩ Kiều từ từ buông tay ra. Rồi họ cầm tay nhau, như những kẻ say rượu chếnh choáng bước về bãi chiếu.

Sau lần đó, Nghê như kẻ nghiện, ngày đêm thẫn thờ. Một cảm giác kỳ lạ cứ xâm chiếm lấy trí não anh. Đôi khi nằm một mình, anh bíu chặt hai tay vào thành ván, cảm thấy da thịt nổi gai. Anh nhớ, nhớ một cái gì đó không rõ rệt. Ngực nghẹt thở. Đầu hâm hấp nóng. Nhiều đêm vì như vậy mà Nghê thức trắng.

Nhưng cuộc sống vẫn diễn ra bình thường. Đám thợ vẫn cúi mặt vào đống hồ và bờ tường. Bà mẹ Nghê còng lưng thổi lửa. Còn Nghê thì bần thần ngẩn ngơ như kẻ mất trí. Đổi lại Vĩ Kiều cứ nhỡn nhơ. Cuộc sống không hề hẹn trước với bất kỳ một ai. Cả niềm vui lẫn nổi buồn, cả may mắn cùng uất hận. Ví như cái chiều hôm đó, ba anh, tức là ông Phú Đản đã bảo anh đi tắt qua một cánh rừng nhỏ đến bên kia suối A Li, hỏi nhà ông Thậm mua thêm mười khối đá. Ba dặn rằng, nếu giá đá vẫn một trăm tám thì đồng ý mua mười khối. Khoảng chủ nhật sau sẽ thuê xe qua chở. Đó là công việc làm ăn bình thường. Chẳng ai biết trước đó lại là những bước đi quyết định số phận anh.

Sau khi hỏi han mua bán với ông thầu đá xong , Nghê quay về. Lúc này đã quá chiều. Anh cúi đầu hối hả vượt qua khóm rừng nhỏ. Bất ngờ anh trông thấy Vĩ Kiều:

- Ô ... răng em lại đi qua đây ?

- Đi tìm anh

- Làm chi ?

- Ba nói rằng, nếu họ đòi lên trăm chín cũng mua.

- Rứa thì về. Giá vẫn trăm tám. Chủ nhật tới sẽ đủ mười khối.

Nhưng Vĩ Kiều đã trề môi:

- Mỏi chân lắm, em không đi được nữa đâu.

- Thế thì nghỉ một lúc đã.

Họ loay hoay tìm một chỗ ngồi. Nhưng đây là một đoạn đường vừa mới san húc. Đất lổn nhổn không thể ngồi chơi được. Vĩ Kiều chỉ tay về phía trong.

- Ngồi kia ... có gốc cây.

Cả hai đạp cỏ chạy vào. Nhưng đó là một gốc cây cháy. "úi, bẩn dễ sợ !" Vĩ Kiều trề môi ra. Họ đi sâu thêm đoạn nữa. Bắt đầu có cỏ. Một vài hòn đá mồ côi nhô lên. Họ đạp qua mấy bụi cây chạc chìu, cố tình tìm một phiến đá bằng phẳng. Chẳng có phiến đá nào bằng phẳng. Chợt Vĩ Kiều kêu lên:

- Chẳng thèm ngồi đá , cứ bẻ lá ngồi xuống sạch hơn.

Nghê nhanh nhẹn vươn người vít cành bẻ lá . Vĩ Kiều trải xuống đất. Thế là họ có một tấm thảm. Vĩ Kiều lăn đùng ra, hai chân duỗi duỗi ...

- Ui, mỏi dễ sợ. Đường chi mà cứ toàn dốc ... em đau cái bắp chân này này ... Đây này ... Anh bóp cho em tí.

Thế là Nghê bóp. Cả người anh nóng bừng bừng. Nỗi khát khao cào cấu trong cuống họng. Nhưng anh lại run sợ. Tất cả tuỳ thuộc vào thái độ của cô ấy ... Lạy trời. Biết đâu anh sẽ bị tống cổ ra khỏi nhà này.

Nhưng hai mí mắt của Vĩ Kiều đã khép lại như ngủ. Nghê vẫn bóp bóp ở bắp chân. Anh cố nuốt nước bọt, ghìm bàn tay lại. Rồi anh như vô tình nhích lên một chút. Mắt anh nhìn như dán vào khuôn mặt của Vĩ Kiều để đo lường phản ứng. Anh nhẩm tính trong bụng, chỉ cần thoáng thấy một cái nhíu mày là anh sẽ quay phắt mặt đi, tay anh rụt ngay xuống, giả vờ như là một sự xâm phạm vô tình.

Nhưng nét mặt Vĩ Kiều không hề nhăn lại. Thậm chí nó còn có vẻ giãn ra. Hai gò má hừng lên như trái chín. Đôi môi nhấp nháy gần như cười. Thế là cái bàn tay vô tình của Nghê cứ bóp bóp nhích dần lên, đôi khi vô tình nhúc nhích quá lên một chút. Lại vô tình thêm một chút nữa . Có lẽ cô ngủ thật. Dăm bảy lần vô tình liên tiếp, đến cái phút chót, cái phút có tính quyết định như lật con bài, được ăn cả ngả về không, bàn tay Nghê đột ngột chọc lên cái nơi nguy hiểm nhất. Cả người Vĩ Kiều khẽ giật run lên. Còn Nghê thì run cầm cập. Nhưng sau đó thì không có gì xảy ra cả. Cặp mắt Vĩ Kiều vẫn nhắm tịt, còn Nghê thì gần như mất hết trí khôn. Anh điên dại cào cấu, cắn xé rồi nhào lộn ... Tất cả đều ngột ngạt và đê mê ... Anh chết chìm trong cơn mĩ mãn.

Sau đó một tháng, đột ngột Vĩ Kiều rỉ vào tai Nghê:

- Nì ... em có mang.

Mặt Nghê trắng bệch ra không còn chút máu.

- Chết cha ! Phá đi ...

- Úi, em sợ lắm.

- Nhưng nếu không thì chết.

- Mặc kệ anh đó, em sợ lắm.

Suốt mấy ngày Nghê cứ bàng hoàng như người vừa ốm dậy. Anh lo sợ, hoảng hốt, mặt lấm lét liếc nhìn tất cả mọi người. Nhưng cuộc sống vẫn thế. Đám thợ cứ suốt ngày cúi mặt xuống đống hồ và bờ tường. Bà mẹ còng lưng nhóm lửa. Chủ thầu Phú Đản thì cứ phóng xe đi, một lúc ký kết năm bảy hợp đồng, lấy tiền nhà này nuôi cơm nhà khác. Vĩ Kiều vẫn xếch làn ra chợ.

Cho đến một buổi tối bất ngờ Phú Đản gọi Nghê lên. Mồ hôi ứa ra lấm tấm trên trán Nghê. Anh run từ ngoài sân run vào. Phú Đản ngồi chạng chân trên ván còn Nghê thì đứng.

- Tao biết cả rồi. Chúng bay thực lăng loàn. Đáng ra tao phải nọc cổ chúng bay ra đánh cho thối đít, sau đó tao sẽ cạo trọc đầu rồi dong ra ngoài chợ ... Thật là phường loạn luân.

Hắn mắng phủ đầu như bắn súng liên thanh. Nghê cúi gầm mặt. Phú Đản rút một điếu thuốc châm lửa, cố kéo dài thời gian để cho những lời đe doạ kia ngấm hết vào trí não thằng bé. Sau một lúc hắn đột ngột thờ dài:

- Nhưng làm như vậy thì xấu mặt bây mà cũng nhơ nhuốc mặt tao. Thiên hạ người ta sẽ chưởi cho lút mặt. Ai đời ba lấy mạ, mà con lại lấy con ... Thật nhục nhã hết chỗ nói - Hắn lại thở dài thêm một tiếng nữa nghe thật não ruột - Thôi thì thế này con ạ. Đằng nào cũng lỡ ra rồi, đàn áp chúng bay thì gan ruột ba cũng cào xé. Chi bằng tao cho chúng bay được lấy nhau. Tuy nói rằng anh em nhưng cũng không phải máu mủ ruột rà nên chẳng có chi đáng ngại. Chỉ có điều ba mạ đã lấy nhau thì chúng bay không tổ chức cưới hỏi được. Cũng không thể cùng sống trong một gia đình được. Ba đã thức trắng mấy đêm, nghĩ đến bạc tóc mới tìm ra phương kế này. Ba cho hai con một chỉ và ít tiền mặt làm vốn. Chúng mày hãy dẫn nhau về nội. Ba nghe nói nội chúng mày ở xóm Linh Linh, vùng Thủ Đông. Ba cũng đã có đi qua vùng đó một lần. Phía tây là vùng Thuỷ Thuỷ, phía bắc là Thuỷ Bắc, phía nam là Thuỷ Hạ. Như vậy làng nội con ở khúc giữa. Ông nội con tên là Ngang lấy bảy vợ. Loại người đặc biệt như vậy chắc chắn hỏi ai cũng biết. Hai con đem nhau về đó, chịu khó làm ăn. Thỉnh thoảng có gặp khó khăn thì tìm vào, ba mẹ sẽ trợ giúp.

Giọng nói của Phú Đản bỗng trở nên bùi ngùi, Nghê nghẹn ngào vì cảm động. Anh ngước lên nhìn người bố dượng mà cũng là bố vợ, nước mắt cứ tuôn trào ra.

° ° °

Những bộ óc của các ông chủ thầu nói chung là kỳ diệu. Hơn nữa thời buổi bây giờ thiên hạ, kể cả nhiều nhà lãnh đạo kinh tế địa phương đã đặt hết lòng tin vào tài ba của giới chủ thầu cho nên họ có đầy đủ điều kiện để tư duy. Họ tư duy lỗ lãi với người thuê họ, tư duy ăn chặn kẻ họ thuê lại, tư duy ăn cướp vật liệu vật tư, tư duy làm dối làm ẩu để bớt công, tăng tiền ...Nhưng phải nói rằng ít ông chủ thầu nào tư duy nổi nước cờ như ông Phú Đản, vì ông đã thức đến bạc đầu ra mà nghĩ chứ có phải chuyện đùa đâu.

Ông là bộ óc kỳ diệu nhất của những bộ óc kỳ diệu vốn sinh ra để mà xỏ lá. Họ là hiện thân của tất cả những đức tính tồi tệ nhất mà loài người đã lỡ làng sinh ra như những quái thai.

Thế nên, đứa con gái, cũng là một thứ gần với quái thai do người đàn bà đó lỡ làng sinh ra với Phú Đản, đã được chủ thầu Phú Đản sử dụng như một chuyến hàng lậu tung ra địa bàn Linh Linh. Vĩ Kiều theo người chồng bất đắc dĩ ra đây mang theo một trọng trách nặng nề mà chỉ mình cô được biết. Nhưng chuyện đó sẽ kể vào hồi sau. Chừ hãy cứ để mắt vào cô gái có bộ ngực và cái mông hơn người ấy xem cô ta đã hoạt động như thế nào !

Vĩ Kiều làm dâu xóm Linh Linh chưa tới mười ngày, đã làm quen được tất thảy mọi người. Đó cũng là một điều đáng gờm. Dẫu sao Nghê cũng là con đầu cháu sớm. Hơn nữa bố nó đã mất, nghĩa tử bao giờ cũng tràn đầy. Những người đàn bà về già thường hay đa cảm. Thế nên đứa cháu đich tôn đã chiếm được tình thương yêu chiều chuộng của các bà là lẽ đương nhiên, còn đứa cháu dâu bỏ cha, bỏ mẹ theo về chốn này đương nhiên cũng được mọi người chăm chút.

Vĩ Kiều không chút ngượng ngùng khi xưng hô cháu với tất cả mọi người ở bảy túp lều, kể cả với những đứa trẻ mặc quần chưa phân biệt mặt trái, mặt phải. Với Vĩ Kiều tất cả là cậu, là cô, là chú, mệ, ông ... Nhờ ngoan ngoãn và vui tính, chỉ một thời gian ngắn, lũ trẻ đã quấn quýt quanh Vĩ Kiều. Cô kể cho đám trẻ nghe nhiều chuyện ngộ nghĩnh.Dĩ nhiên cô cũng không quên moi móc tất cả những điều cần biết qua lũ trẻ. Nhưng mà cái điều hệ trọng ấy bọn trẻ chỉ biết qua quýt. Quan trọng nhất là hiện tại nó được chôn ở đâu thì tụi nó hoàn toàn không biết. Hỏi ông chắc sẽ lộ tẩy. Các mệ lại quá kín đáo. Cô Lào thì hay chửi khiến Vĩ Kiều không dám đến gần. Cô tính nát nước. Cuối cùng Vĩ Kiều quyết định đột phá một mục tiêu : Chú Ngẩu ! Chú ấy trông buồn cười quá, còn thanh niên trai trẻ thế kia mà cứ suốt ngày ngồi thổi sáo. Nhưng chú là người tốt, chắc chú phải biết. Chú cũng chưa phải già, cùng lắm chỉ hơn Vĩ Kiều dăm tuổi. Người trẻ thường ít đa nghi và hay nhạt bụng. Phải thắng quả này !.

Cái nếp sống muôn thủa của xóm Linh Linh vẫn không thay đổi. Mờ sáng lũ con gái rùng rùng kéo nhau đi nhặt vỏ liều, đồng nát. Các mệ còn sức thì đi chợ, mệ La già nằm ho lụ khụ trong giường. Ông Ngang ra cuốc đất. Người canh cửa duy nhất là Ngẩu cùng với tiếng sáo và một bầy chó cũng đông đúc, nhếch nhác như lũ trẻ ở đây. Chồng của Vĩ Kiều sau một tuần nghỉ ngơi, đã lên thị trấn huyện xin được một chân lao động hợp đồng phụ nề cho xí nghiệp xây dựng. Cái không gian lễnh loãng ấy đã tạo ra một cơ hội vô cùng thuận lợi cho ả vợ vốn trời sinh ra để mà dâm đãng.

Ả rón rén bước lại trước cửa túp lều mệ Lục. Ngẩu vẫn ngồi ngay bậc cửa thổi sáo, mặt ngước ra phía trước vườn có vẻ như đang cho tâm hồn bay bổng. Vĩ Kiều cố nén cười, lên tiếng:

- Chú ơi ! ...

Tiếng sao ngừng. Cả khuôn mặt trắng như bột nghếch về phía cô.

- Chị Vĩ Kiều phải không ?

- Chú tài ghê - Vĩ Kiều được cớ ngồi sà xuống sát bên cạnh - Chú ơi, chú thổi bài chi rứa ?

Ngẩu cười một cách ngây thơ.

- Tôi chẳng biết bài chi cả. Có ai dạy cho bài chi mà biết.

- Ơ .... không biết bài răng chú thổi được ?

- Được chứ ! Thổi sáo cốt là phải kêu. Mà cái tiếng kêu phải trong veo, càng trong càng thích. Rồi sau đó mình cứ nhịp nhịp cách răng để lên cao, xuống trầm. Nó cứ véo von khi mau khi chậm. Mình vui thì nhịp mau, buồn thì nhịp thong thả. Mình ưa thế nào thì nhịp thế đó ...

Suýt nữa Vĩ Kiều đã ôm bụng cười ré lên. Cô bặm chặt hai vành môi lại, vai rung lên bần bật. May mà Ngẩu lại mù, nếu không chắc chú ấy giận chết.

Đúng là Ngẩu không hay biết gì cả. Anh đưa sáo lên miệng. Phải thừa nhận tiếng sáo của Ngẩu trong veo và mấy ngón tay nhịp nhịp trông dễ thương đáo để. Nhìn mấy ngón tay, lại nhớ đến điều Ngẩu vừa giải thích, Vĩ Kiều buồn cười quá, cô phải đưa tay lên bụm lấy miệng. Nhưng mấy ngón tay của Ngẩu đang nhịp một cách thong thả, tiếng sáo vút cao lên rồi đột ngột rơi xuống như một người trượt chân rơi xuống vực, tiếng sáo trầm hẳn lại như rên rĩ. Mấy ngón tay trắng bạch của Ngẩu rung rung. Tiếng sáo tắc lại rồi oà ra nghe da diết như một tiếng khóc. Chao ôi, một tiếng sáo kỳ diệu như vậy mà lại thổi cho một bị thịt như thế kia có oan uổng không ? Vĩ Kiều sốt ruột đưa tay lên giằng ống sáo trên miệng Ngẩu.

- Chú ơi ...chú thổi thì hay đấy. Nhưng dù sao cũng phải biết bài, không biết bài mà cứ thổi lung tung rứa họ cười chết.

- Nhưng mà ... làm răng để biết ?

- Cháu tập cho chú .

- Ôi rứa thì tuyệt - Nét mặt Ngẩu rạng rỡ lên một niềm vui bât ngờ - Tập chừ hí ?

- Dạ tập chừ. Này nghe, cháu hát trước, hai ba thì chú hát theo. Được chưa ? Tình i yêu có i từ nơi i đâu ... hai ba !

- Tình i yêu có từ i nơi đâu !

- Hai ba ..

- Tình i yêu có từ nơi i đâu !

Ngẩu cố tình hát từng tiếng còn Vĩ Kiều thì gõ nhịp. Cô xoè bàn tay vỗ vào bắp đùi của Ngẩu. Cô vỗ nhẹ một cái, rồi liền đó cô lại xoa một cái. Nhưng Ngẩu không để tâm gì chuyện đó. Anh đang say sưa.

- Tình đã i cho ta em đềm, hai ba !

- Tình đã i cho ta êm đềm.

- Em là cô tấm thảo hiền, hai ba !

- Em là cô tấm thảo hiền ...

Một vòng tay của Vĩ Kiều đã choàng lên vai Ngẩu. Người cô lắc lư xô ập vào anh theo nhịp hát. Bất giác Ngẩu thấy rộn ràng. Một cảm giác kỳ lạ chưa bao giờ anh có được từ thủa cha sinh mẹ đẻ đến nay, cảm giác xúc động, anh thoáng nghĩ nhanh, có lẽ do cái bài hát quá hay và cái giọng hát ấy nữa. Sao mà nghe hay hơn cả tiếng nói ! Hai tai Ngẩu ù ù, không còn phân biệt được nội dung lời ca. Anh hát theo như một sự thôi miên và cả người anh cũng lắc lư theo nhịp lắc của cô cháu gái. một lời ca. Vĩ Kiều thử ngừng lại đo lường cái hậu quả của trò chơi này, cô buông lửng một tiếng "hết".

Mặt Ngẩu ngớ ra, mồm nhấp nháy "Hết à ?"

Vĩ Kiều phì cười chạy vào chiếc giường bên cạnh nằm vật ra.

- Cháu mệt quá ! Còn đến ba đoạn lời nữa kia. Ngẩu quờ quạng hai tay, hấp tấp bước đến. Vĩ Kiều cầm lấy tay Ngẩu kéo sát lại.

- Chừ chú ngồi đây, cháu nằm thế này cũng được. Tập tiếp hí ! Tình yêu có từ nơi em, hai ba !

- Tình yêu có từ nơi em ...

- Hai ba !

- Tình yêu có từ nơi em ...

- Chú phải chịu khó gõ nhịp kia. Có gõ thì hát mới trúng.

Nói rồi Vĩ Kiều nắm lấy bàn tay Ngẩu gõ nhẹ vào bụng mình.

- Xuyên qua năm tháng đợi chờ hai ba !

- Xuyên qua năm tháng đời chờ ...

Chừ thì không có vòng tay Vĩ Kiều choàng lên vai nhưng người Ngẩu vẫn lắc lư theo quán tính. Vĩ Kiều vẫn cầm chặt tay anh, gõ gõ êm êm lên bụng. Rồi từ bụng gõ dần lên ngực. Ngẩu lại ù ù hai tai. Bây giờ thì anh mang máng hiểu ra, hình như cái cảm giác xúc động ngây ngây như lên cơn sốt ấy không hoàn toàn là do bài hát. Anh mù, không nhìn thấy gì cả. Chỉ có đôi tai đang rung lên với cái tiếng hát run rẩy kia, và bàn tay tê buốt như có điện giật. Dù cuộc đời chưa một lần được nhìn thấy hình hài con gái, nhưng có lẽ do trời đất sinh ra nhận biết bẩm sinh cho nên Ngẩu vẫn ý thức được bàn tay mình đang di chuyển về đâu. Bài hát càng về cuối càng hay. Cảm giác tê mê càng dữ dội. Bàn tay được kéo lên đập vào cái phần khủng khiếp nhất. Đến đó thì anh điếc hẳn tai, không còn nghe thấy gì nữa. Một cú giật mạnh. Ngẩu đổ nhào xuống. Đầu anh u mê tăm tối. Người như điện giật. Và, giống như bài giảng về thổi sáo, anh mù quáng nhịp nhịp theo đúng sự đê mê của mình.

° ° °

Nửa tháng sau, Vĩ Kiều xin phép ông và mệ vô Huế để mua ít đồ đạc. Từ Huế cô nhảy xe lên A Lưới. Lúc này Phú Đản đã sắp kết thúc công trình. Hai bố con gặp nhau vội vã. Vĩ Kiều đã kể cho bố nghe toàn bộ những gì thu được ở xóm Linh Linh. Cô kết luận:

- Chuyện pho tượng là có thật. Thậm chí rất rõ nữa. Nhưng hiện tại cả xóm ấy, từ lão Ngang trở xuống không ai biết được nó chôn ở đâu. Hai ông con trai và một ông con rể đã lập ba công trường quanh vườn. Họ đào bới dữ dội nhưng chắc chắn vẫn không tìm thấy. Vì thế hiện tại họ không đào nữa mà bắt đầu sản xuất. Nhưng cả ba tổ hợp đều làm rất uể oải. Nói chung sớm muộn rồi cũng bỏ cuộc.

Phú Đản chăm chú nghe con gái nói. Hắn lấy que vạch xuống đất hình dung ra một mảnh vườn. Cuối cùng Phú Đản kết luận.

- Như vậy, chắc chắn pho tượng ấy được chôn khoảng giữa vườn. Chừ có cách chi mà đào vào chính ở giứa đó.

- Cách chi được ?

Phú Đản đốt một điếu thuốc lá. Cái đầu kỳ diệu của hắn lại bắt đầu tư duy. Cuối cùng hắn nhìn chằm chằm vào con gái:

- Ba cái thằng vừa con, vừa rể ấy chưa tắt hy vọng đâu. Một khối lượng của cải lớn như vậy làm sao lại dễ đoạn tuyệt được. Con phải tìm cách gần bọn đó, kích động chúng lập mưu để được cuốc chính giữa vườn.

- Nhưng mà ... mưu chi ?

- Đã đến lúc phải lật bài ra. Con có thể nói với họ như vậy. Trong tình hình hiện nay, thằng nào ăn một mình cũng không xong đâu. Vì thế, cần phải thẳng thắn với nhau, nói toạc ra với nhau, nếu được sẽ chia nhau.

Đứa con gái dù được đào luyện nghệ thuật ranh ma cao cường đến đâu cũng không thể hiểu nổi ý bố. Vĩ Kiều nhăn nhó kêu lên:

- Nhưng mà .. con biết nói thế nào ?

Phú Đản gật gù một cách chắc chắn:

- Cả ba thằng vừa con vừa rể phải hợp tác lại, góp tiền cho bố xây một ngôi nhà. Một ngôi nhà lớn tập trung, nhiều phòng cho tất cả các bà cùng ở. Người thi công ngôi nhà ấy là ba ! Đó là thượng sách.

Nói rồi Phú Đản cất tiếng cười khoái lạc. Còn Vĩ Kiều , cô gái làm đĩ chuyên nghiệp ở Huế được nguỵ trang bằng mớ hàng thuốc lá và bánh kẹo thì lại nhăn trán suy nghĩ. Cô đang nghĩ đến những động tác khác nhau để chinh phục ba người đàn ông lớn tuổi kia.

° ° °

Tiếp thu cái ren tư duy của bố ả đã tìm ra được " cái cầu chì" để dễ dàng tiếp xúc với các ông chú và dượng. Đó là ba chiếc xe máy. Một tuần tiếp đó, Vĩ Kiều đi Huế ba lần, mỗi lần đi nhờ một chiếc xe máy khác nhau. Đương nhiên các chú và dượng chẳng khó khăn chi cho lắm khi phải nhận lời đèo giúp đứa cháu dâu dễ thương quá giang một đoạn đường. Các động tác nói chung là lặp đi lặp lại, với Vĩ Kiều thì cũ nhưng với từng chú thì mới. Bắt đầu là xe phóng ào ào. Vĩ Kiều siết chặt vòng tay áp sạt bộ ngực đồ sộ của mình vào tấm lưng đàn ông vạm vỡ phía trước. Các chú hay dượng nói chung đều cảm thấy hay hay. Thế là phóng như điên dại. Cặp vú vĩ đại của đứa cháu lại có lý do để chà xát vào lưng gây hiệu quả rõ rệt. Thế rồi gặp chỗ đường xấu, xe phanh chậm đột ngột , Vĩ Kiều xô tới áp sít toàn bộ bề mặt của khuôn ngực đồ sộ lên những tấm lưng lúc này đã rất nhạy cảm. Rồi cái vòng tay ma quái nữa, nó bắt đầu mệt mỏi, nó trượt chậm xuống, từ khúc co thắt của bụng các chú mà tuột xuống, xuống nữa, tới cái điểm chạm có điện giật thì kê hẳn lên đó. Nên nhớ các chú hay dượng đều là những chủ thầu. Thế là các bộ óc kỳ diệu bắt đầu tính toán. Họ vừa lao xe chạy một cách như điên loạn, vừa tính toán cái địa điểm nghỉ lại ở Huế. Đương nhiên là đêm đó chú cháu đã nghỉ lại ở những địa điểm ấy. Nói chung là họ thức trắng đêm vì cả chú lẫn cháu đều giàu kinh nghiệm ăn chơi. Họ vắt óc tư duy ra đủ kiểu chơi, cào cấu, moi móc, cắn xé, bú mút , vân vân nữa. Cuối cùng, họ cứ trần như nhộng thế mà quắp lấy nhau và đứa cháu gái tỉnh táo mở đầu cuộc hội đàm. Cuộc hội đàm với một nội dung cực kỳ trọng đại nhưng lại diễn ra quá nhẹ nhõm. Nói chung các chú và dượng đều gật đầu mau lẹ. Họ phải gật đầu mau lẹ để nhanh chóng được xả cái khát khao đang ứ nghẹn vào tấm thân phừng phừng của đứa cháu dâu.

Tuần kế tiếp sau đó, ba người đàn ông - hai con trai với một con rể - đã gặp nhau thương lượng. Cả ba nhất trí giao cho Nghi, thay mặt cho hai em đến đặt vấn đề với bố và các mẹ.

Cũng giống như bố mấy tháng trước, Nghi đã đến từng lều mời các mẹ lên tập trung ở nhà mẹ La để họp. Các mẹ đều thở dài " Chà cái xóm mình bữa ni hay họp hè" Ai cũng chậc lưỡi nói như vậy, nhưng tất cả đều kéo lên.

Đại diện giới chủ thầu trí tuệ ngồi ở vị trí chủ toạ. Các mẹ bạ đâu ngồi dó. Riêng mẹ La vẫn nằm ở giường trong. Ông Ngang tựa lưng vào cột nhà quay mặt hướng khác.

- Thưa bố với các mẹ. ! Mấy anh em con vừa họp với nhau đã thống nhất một chủ trương. Hôm nay con thay mặt mấy anh em xin phổ biến lại cho bố với mấy mẹ chủ trương đó. Rằng thì là, bấy lâu ni, do chiến tranh với chi cái bè lũ Mỹ Nguỵ, nên anh em và bà con mình lưu lạc mỗi đứa mỗi nơi. Cũng may nhờ được sự dạy bảo của bố mẹ mà đứa nào cũng ăn nên nấu chín. Chừ hoà bình rồi, đất nước thống nhất, anh em họp mặt sum vầy, bà con tập trung về một mối. Đó là cái hạnh phúc ghê gớm của giống nòi mình. Nhưng tập trung về được với nhau không phải để suốt ngày nhìn nhau và cứ cam chịu cảnh đói khát. Không ! phải nghĩ ra kế làm ăn cho giàu có và phải thật sự đoàn tụ. Thưa bố cùng các mẹ ! Hiện nay, ngoài xã hội người ta đang làm ăn lớn. Làm lớn và ăn lớn. Ta cũng phải làm như vậy. Muốn làm ăn lớn trước hết phải tập trung lại. Bữa nay khắp mọi nơi đều tập trung lại. Gia đình mình cũng cần tập trung lại. Vì vậy, chúng con thấy không thể để các mẹ cứ ở mỗi người một mái lều như thế được. Chúng con đã bàn với nhau. Mỗi đứa góp lại năm chỉ. Ba đứa được mười lăm. Chúng con sẽ xây cho bố mẹ một ngôi nhà lớn. Đây, con đã tạm vẽ ra mẫu thế này. Đây là căn phòng giữa làm nơi thờ phụng tổ tông và đón khách với lại hội họp gia đình. Còn phía tây có hai phòng lồi tạo thành ba phòng, phía đông cũng có hai phòng lồi tạo thành ba phòng, đằng sau lồi ra một phòng nữa. Như vậy, là bảy phòng ở. Đây là một công trình cực kỳ to lớn, có diện tích rộng. Mọi việc chúng con đã lo liệu xong. Chừ thì xin ý kiến bố và các mẹ. Nếu bố và các mẹ nhất trí là ngay tuần tới sẽ bắt tay vào thi công.

Cả nhà ngơ ngác nhìn nhau. Cái chủ trương mới lạ đến mức không một ai kể cả ông Ngang hiểu ra được. Họ chỉ mang máng một điều là làm nhà mới. Còn lại tất cả những chủ trương, những đề nghị với lại làm ăn lớn nhỏ gì đó thì họ nghe như nghe hát tuồng. Cứ thấy choang choang réo rắt thế nhưng không sao hiểu nổi.

Sự không am hiểu quả thật là một lợi thế. Bởi vì mọi người đã nhất trí mau lẹ. Họ nhất trí bằng những tiếng cười vô nghĩa. Họ đấm lưng thùm thụp, chống gối đứng dậy và tản mác ra về. Tất nhiên Nghi cũng chỉ cần có thế. Với cái đám người này phải nói đến thế là quá đáng lắm rồi.

° ° °

Theo đúng sự mặc cả của Vĩ Kiều, người ta đã mời đoàn thợ xây Phú Đản ra hợp đồng xây căn nhà vĩ đại này. Mặc dù công trình trên A Lưới còn một vài công việc cuối cùng nữa mới hoàn tất nhưng Phú Đản đã giao lại cho một thợ cả chịu trách nhiệm. Ông kéo số còn lại tức tốc về xuôi. Ngày khởi công ngôi nhà xóm Linh Linh được ấn định vào ngày mồng mười tháng hai âm lịch.

Dám nói một cách chắc chắn rằng trên trái đất này chưa có một ngôi nhà tư nhân nào lại có buổi lễ khởi công trang nghiêm và căng thẳng đến mức ấy. Hai mươi bốn người thợ được rải ra theo các đường dây căng ngang dọc để đào móng. Cả gia đình ông Ngang có tất thảy là hai mươi tám đứa con, trừ Ngô đã chết , còn hăm bảy, cộng với bố và bảy vợ vị chi là ba lăm, hai đứa cháu là ba bảy, tất tất đều kéo về có mặt. Trang nghiêm hơn nữa là có đến những bốn vị chủ thầu đứng chắp tay sau đít nhìn như thôi miên vào các đầu xẻng đang đạp đất. Quan trọng hơn cả là phó chủ tịch huyện cũng về dự, anh ta cứ đi đi lại lại cực kỳ sốt ruột . Sáng nay có cuộc họp với Uỷ ban kế hoạch tỉnh. Thế mà Lan đã xỉa xói và đay nghiến anh, bắt anh phải cùng về đây cho bằng được. Bí quá, anh phải chạy lên chủ tịch, hớt hải bịa ra rằng vợ anh lên cơn sốt cấp cứu phải đưa đi gấp. Mà cũng gần đúng như vậy, sáng nay Lan như kẻ động kinh.

Nắng đầu mùa mới khó chịu làm sao. Người đào đất đã quá vất vả, người đứng nhìn còn căng thẳng hơn nhiều. Một buổi sáng trôi qua. Mặt trời gần đứng bóng đám thợ bỏ xẻng cuốc vào nhà nghỉ. Nhưng chủ thầu và bầy con gái không chịu nghỉ. Họ sục xuống những đường hào, đi lại, ngó nghiêng. Tất cả những công việc ăn uống chỉ một mình cô Lào lo liệu. Cô vừa chổng mông thổi lửa vừa chưởi bới oang oang.

Buổi chiều sự căng thẳng tăng lên cực điểm. Bởi vì những đường mương sâu hoắm, tất cả các mạch dây cũng đã được đào, công việc coi như sắp kết thúc, thế mà cái cần quan tâm nhất của họ thì vẫn biệt vô âm tín. Tất cả các vị chủ thầu đều tự hỏi, nếu như kết thúc chiều nay mà vẫn là số không thì sau dó thì sẽ thế nào ? Chẳng lẽ cứ tiếp tục bỏ đá xuống, xây tường lên. Trời đất ơi, chẳng lẽ lại dốc vốn ra để làm cái công việc vô bổ như vậy. Phải tìm cách tháo chạy. Mặc kệ chúng nó. Nghi nghĩ thầm thế, mặc kệ thằng Ngãi với Vi Hán, Ngãi cũng thầm nghĩ thế , kệ cha lão Nghi với đứa em rể. Đương nhiên Vi Hán cũng chẳng ngu dốt gì mà không nghĩ được thế. Thây bố chúng nó, những thằng con bất hiếu ấy. Mình sẽ chạy trước. Và chắc chắn đêm nay bố con chủ thầu Phú Đản cũng sẽ hội ý với nhau, kệ kiếp cái lũ nửa người nửa ma kia, bố con ta bỏ của mà chạy lấy người !...

Công việc buổi chiều đã kết thúc đúng như đoán. Toàn bộ các đường móng đã hoàn thành. Trừ đám thợ đào đất ra chẳng ai còn thiết nghĩ gì đến cơm nước. Lũ con gái lớn của ông Ngang vội vã chào hỏi : "Thưa bố, chúng lên chơi thăm bố, mừng cho bố sắp có nhà mới, chừ chúng con phải về vì các cháu dại nó khóc, với lại rau heo cháo chó không ai làm". Lan cũng kéo tay chồng đến trước mặt ông Ngang" Thưa bố, chúng con phải về vì nhà con bận trăm công ngàn việc". Chủ thầu Phú Đản nháy Vĩ Kiều đi ra phía ngoài bờ phi lao để tính kế. Chủ thầu Nghi, chủ thầu Ngãi, chủ thầu Vi Hán, ai về công trường người đó. Dĩ nhiên các bà vợ cũng vậy. Họ lặng lẽ rút về lều. Tiếng sáo của Ngẩu lại cất lên một nội dung mới mẻ : Tình yêu có từ nơi đâu !

Ông Ngang mỉm cười một mình. Mấy hôm trước, khi Nghi thao thao thuyết trình các thứ chủ trương trong cuộc họp thì ông chẳng hiểu gì cả. Nhưng sau đó mấy hôm, ông chợt láng máng nghĩ ra. Đặc biệt là sáng nay, với sự có mặt quá đầy đủ của mọi người với cung cách trang nghiêm đặc biệt và nhất là khi thấy các lưỡi xẻng cắm sâu xuống đất thì ông hiểu ngay tức khắc. Ông vừa căm tức, vừa hồi hộp lo lắng. Nay thì mọi chuyện đã qua rồi... Đáng đời chúng bay, lũ chó chết ấy ! Mặc dù có tan vườn nát đất nhưng sự thiệt hại ấy chẳng thấm gì so với thiệt hại của những kẻ bày đặt ra chuyện này. Ông Ngang cứ nghĩ vậy mà thấy khoái trá. Đêm xuống , đám thợ lăn đầy ra nhà ngủ. Ông Ngang dò dẫm đi ra đằng sau vườn. Ông muốn yên tĩnh một mình sau một ngày quá bực bội và căng thẳng. Trăng lên sớm, nhưng trời lại lởn vởn mây. Cả khu vườn đùng đục mờ tỏ, đôi lúc sáng choá ra, có thể trông rõ từng hốc đất, nhưng liền sau đó trăng lại chui vào mây. Cái màu sáng lờ mờ như trùm lên cả khu vườn hoang lạnh.

Bất ngờ từ phía trong nhà, một bóng đen nho nhỏ lò dò đi ra. Thoáng nhìn dáng đi, ông Ngang biết ngay một kẻ không lấy gì thiệt thà ngay thẳng. Ông ngồi thụt sát vào một gốc mít. Trăng đột ngột ló ra khỏi mây sáng quắc . Bóng người kia đứng sững lại đảo mắt nhìn bốn phía. Bây giờ ông Ngang đã nhận rõ, đấy là chú thợ trẻ nhất trong đám thợ, có lẽ chỉ độ mười ba mười bốn tuổi là cùng. Chú đi lom khom ra phía dãy móng của gian lồi sau cùng. Rồi chú ngồi xuống. ông Ngang nhỗm người lên. Trăng lại lờ mờ. ông cố căng mắt ra nhìn. Chú thợ trẻ đang ngẩng lên cúi xuống một cách gấp gáp. Hình như đang đào bới. Bất ngờ cả người ông Ngang run lên. Hắn đào chi lúc này ? Hay là... hay là....

Hí hoáy một lúc, cái bóng nhỏ kia bỗng cúi sát xuống dưới lòng hào. Ông Ngang đứng hẳn dậy nín thở. Rồi không thể chịu đựng được nữa ông lao tới.

Nghe tiếng chân người, chú bé ngẩng phắt dậy. Nhìn thấy ông già lao tới, chú hốt hoảng nhảy phắt lên trên mặt đất ù té chạy. Chú không dám chạy vào nhà mà đạp băng vườn lao ra phía rừng phi lao. Ông Ngang với một cục đá to ném theo, cục đá rơi phịch xuống phía sau lưng chú bé. Chú cuống cuồng vọt đại lên phía trước chạy thục mạng.

Ông Ngang bỗng thấy khoẻ mạnh một cách lạ thường. Ông chống tay nhảy xuống lóng ngóng. Ông đạp phải một khối tròn lạnh giá. Ông run rẩy cúi xuống. Lạy phật ! Nó đây rồi ...

Cả người ông cũng lạnh như pho tượng. Không còn có lớp vải điều bọc quanh như những lời kể. Cả một khối đen sì, nhớp nháp đất cát. Một cái chân chạng ra. Hai cánh tay chống nạnh. Ông lễ mễ ôm nó lên lòng. Chao ôi là nặng ! Chao ôi là nặng. Cả một kho của cải khổng lồ thế này không nặng sao được.

Chợt ông tỉnh lại. Phải hành động ngay. Nếu cái thằng thợ ấy quay lại .. Ông gắng sức bê pho tượng, lom khom bò đi. Ông trườn lên phía phải của nền nhà, lợi dụng tấm bạt che nắng được căng lên lúc sáng, ông chạy tắt qua phía đông rồi lại lợi dụng vạt sắn chưa nhổ, ông chui vào đấy. Vào được trong vạt sắn ông ngồi im, vừa để nghỉ sức, vừa để quan sát địa hình. Sau đó ông quyết định bò dọc ra hướng đông, gần sát mép vườn. Chỗ này ít ai ngó tới. Ông đặt pho tượng nằm sóng soài giữa đất rồi lộn trở lại tìm cái xẻng. Mọi công việc diễn ra trong tiếng thở cố nén nhịn, khiến ông mệt mỏi đứt hơi. Nhưng pho tượng đã tiếp sức cho ông. Con người gần bảy mươi tuổi ấy đã làm được một công việc kỳ diệu và lặng lẽ đến mức bầy chó đông lúc nhúc của xóm này cũng không hề đánh hơi thấy .