Cô Thành Bế

Quyển 8 - Chương 5: Đêm đầu




Trọn một đêm say đượm giấc nồng. Trong đầu vụt lướt những mộng cảnh vụn vặt hỗn độn, cảnh nào cảnh nấy tựa thật mà giả, mờ mịt không rõ, hệt như những bản nháp phác thảo dưới ngòi bút các họa học sinh mà ta chỉnh lý ở Họa viện khi còn nhỏ. Thứ duy nhất rõ ràng là cảm giác nóng cháy bức bối nơi đáy lòng, như có ngọn lửa bừng bừng thiêu đốt lục phủ ngũ tạng. Ta chạy băng băng trong giấc mộng hỗn loạn ấy, mãi đến khi có gì đó ẩm ướt mát rượi chạm lên da mặt bỏng rẫy của ta.

Xúc cảm mát lạnh duy trì hồi lâu, từng giọt từng giọt bắn tóe lên ấn đường, tựa như nước suối bất ngờ gặp được giữa hè khi đương đi trong núi rừng.

Ta mở mắt trong cảm giác sung sướng ấy, trước mặt phe phẩy một đoạn tay áo đỏ thắm, tiếp đó, đập vào mi mắt là dung nhan mỹ lệ của công chúa.

“Huynh tỉnh rồi?” Nàng mỉm cười nói, lại dùng khăn bông trong tay lau trán cho ta.

Sau một chớp mắt sững sờ, ta nhanh chóng ngồi dậy, quay đầu nhìn quanh, thấy mình nằm trên sập trong gian phòng của bản thân tại phủ công chúa, sắc trời mới chỉ hưng hửng, sân viện không tiếng động, mà trong buồng ngoài công chúa ra thì chỉ có Bạch Mậu Tiên, cậu bé tiểu hoàng môn phục dịch ta, đang đứng hầu bên cửa.

Ta chật vật động não trong cơn đau đầu dữ dội, từ từ nhớ lại chuyện hôm qua, không khỏi cả kinh, chẳng kịp hành lễ mà hỏi trước: “Công chúa, sao người lại tới đây?”

“À, ta muốn gặp huynh nên tới thôi. Là Tiểu Bạch mở cửa cho ta.” Nàng nói, nhúng khăn vào chậu nước lạnh cạnh người, vắt ráo rồi lại mở ra định lau mặt cho ta, tự nhiên như thể đây là chuyện thường làm hằng ngày, “Sao uống nhiều thế? Mặt đỏ rực hết cả lên rồi, khó chịu lắm đúng không.”

Ta ghìm khăn của nàng lại, thấp giọng nói: “Công chúa, không nên tự tiện ra khỏi gác ngủ trong ngày đại hỉ. Mau trở về đi thôi.”

“Trở về? Huynh muốn ta trở về trông coi con thỏ ngốc ấy hả?” Công chúa ủ rũ nói, thấy ta không cất tiếng, nàng bỗng nhướng mày, cười hỏi: “Huynh biết ta trải qua đêm tân hôn thế nào không?”

Câu hỏi này khiến ta khó lòng đáp lại, ta cúi đầu, không tiếp lời. Nàng cười nhạt nhòa, thủ thỉ: “Trước đó ta có dặn Vân nương và bọn Gia Khánh Tử ngủ ngoài phòng ta, nếu Lý Vĩ vô lễ với ta, ta mở miệng hô hoán, họ sẽ lập tức xông vào. Cơ mà, con thỏ ngốc đúng là ngốc thật, thấy trong phòng chỉ còn lại hai ta, hắn còn khẩn trương hơn cả ta, đứng không đứng nổi ngồi không ngồi xong, tay chân chẳng biết phải để vào đâu. Ta bèn nói với hắn, ta không quen dùng chung chăn gối với người khác, bảo hắn lấy một bộ chăn nệm, chọn một chỗ khác ngoài màn trải ra mà ngủ. Hắn cũng không ý kiến gì, ôm chăn nệm trải dưới mặt sàn bên cửa sổ, ngủ luôn chỗ đó.”

“Phò mã ngủ dưới sàn cả đêm?” Ta kinh ngạc, bật thốt.

Công chúa gật đầu: “Đúng vậy.”

Ta im lặng hồi lâu, rồi mới nói: “Công chúa hà tất phải như thế.”

“Há lại để người khác ngủ ngáy bên giường?” Nàng trả lời.

Đây vốn là câu nói nổi tiếng của Thái Tổ hoàng đế, năm đó ngài xuất binh tấn công Nam Đường, hậu chủ Nam Đường Lý Dục cầu xin bảo toàn quốc gia, ngài đã đáp vậy. Bây giờ công chúa lấy đó ra trích dẫn, không khỏi có phần dở ông dở thằng, ta nghe vào, không nhịn được phì cười.

“Phò mã là phu quân công chúa, không phải ‘người khác’.” Ta nói với nàng.

“Đối với ta, từ đầu tới cuối hắn chỉ là một người xa lạ.” Công chúa nói, nhìn ta chăm chú, chợt đổi chủ đề sang ta: “Ta tưởng rằng nói cho huynh biết chuyện này, huynh sẽ cảm thấy vui vẻ.”

Ta ngượng ngùng, quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ: “Chuyện này liên quan gì tới thần đâu?”

“Không liên quan à?” Nàng phản vấn, cũng nghiêng người qua, nhất định đòi mắt đối mắt với ta, cười nói: “Ta vừa không để ý đã phát hiện ra có người đêm qua uống rượu sầu rồi.”

Công sự phòng thủ trong lòng không đỡ nổi một kích này, ta liên tiếp bại lui.

Lý trí nhắc nhở ta công chúa làm vậy là không đúng, từ thái độ nàng cư xử với phò mã đến ngôn hành trong phòng ta, ta hẳn là nên khuyên can, ngăn cản. Nhưng, nếu nói ta không hề cảm nhận được chút khoan khoái và ấm áp nào trong đây thì cũng giả dối quá rồi.

Biết rõ nối tiếp chủ đề trước mắt là một việc nguy hiểm, song lại không hạ nổi quyết tâm mời nàng ra ngoài, ta ngoảnh đầu chạm đến ánh mắt nàng, nở nụ cười đắng chát với nàng trong cảm giác mâu thuẫn ấy.

“Người ra ngoài tìm thần, phò mã có biết không?” Ta hỏi.

“Không biết. Lúc ta đi ra, hắn ngủ như heo ấy.” Nàng đáp. Dưới cái nhìn chăm chú của ta, ý cười ung dung của nàng dần tan biến, nói tiếp: “Hắn còn ‘ngủ ngáy’ thật cơ. Đêm qua ta để nguyên quần áo đi ngủ, trằn trọc hồi lâu mới miễn cưỡng thiếp đi được, nhưng đến nửa đêm lại bị tiếng ngáy của Lý Vĩ đánh thức. Ta mở mắt, nương ánh nến long phượng quan sát hoàn cảnh xa lạ mới dần nhớ ra mình đã lấy người ngủ dưới sàn kia, không thể trở về bên cha mẹ được nữa.

“Tiếng ngáy của hắn vang lên từng trận. Ta khẽ khàng đi tới cạnh hắn, nhìn kỹ hắn. Thấy dáng vẻ hắn đầu mập bụng phệ, vô tâm vô tư nằm ngủ say sưa, miệng còn chẳng khép lại, nước miếng chảy ra lấp lánh lóe sáng dưới ánh trăng rọi vào qua cửa sổ…

“Ta yên lặng đứng bên hắn hồi lâu, nghĩ đây chính là người sẽ sống chung với mình kiếp này, mấy chục năm từ nay về sau, mỗi ngày đều phải sớm chiều bên hắn, vậy thì cả đời này còn điều gì đáng kỳ vọng nữa? … Ta quay đầu nhìn bóng đêm ngoài song, cảm thấy mặt trời hôm nay cũng chẳng mọc nổi.”

Giọng điệu nàng yên ả, trong mắt cũng ráo hoảnh, ấy nhưng lời nói ra lúc này còn khiến ta xót xa hơn cả khi nàng khóc thảm thiết ly biệt mẫu thân vào ban ngày.

“Khoảnh khắc ấy, ta thực sự muốn trở lại mười năm trước, một lần nữa làm một tiểu cô nương không biết muộn phiền, ngâm vịnh ‘Dưới hiên khoai sọ tròn’ với huynh trong đêm trăng.” Nàng cười gượng, “Thế nên, ta muốn gặp huynh, xem huynh có còn củ khoai sọ nào dưới trăng không.”

Ta bất đắc dĩ cười với nàng, “Xin lỗi, hiện giờ chỗ thần không có khoai sọ.”

Nàng lắc đầu: “Không sao. Nhìn thấy huynh là có cảm giác hãy còn ở nhà rồi.”

Ta rất muốn ôm nàng vào lòng, an ủi nàng, đáp lại nàng, nói cho nàng biết những cảm xúc phức tạp lắt nhắt trong mình lúc này. Nhưng, cảm nhận được nắng sớm càng lúc càng sáng tỏ trong phòng, chung quy ta vẫn không có hành động gì, sau cùng chỉ tìm chủ đề khác, ôn hòa kiến nghị: “Cây hoa trong vườn phủ công chúa tươi tốt lắm, không khí ban mai trong lành, hay là công chúa chuyển không hầu vào đó luyện đàn, có lẽ sẽ giải tỏa được phần nào nỗi lòng.”

Công chúa đồng ý, ta bèn mời nàng vào vườn trước. Đợi nàng rời đi rồi, ta lập tức khoác áo đội mão, qua loa rửa mặt rồi cầm sáo ra cửa, bấy giờ mới phát hiện chẳng biết Tiểu Bạch đã tránh ra xa từ lúc nào, đang đứng trong sân, trông thấy ta lập tức chạy qua thỉnh an, hỏi ta có gì phân phó.

Tiểu Bạch năm nay mười hai, thanh tú lanh lợi, thích đọc sách, hành sự cũng chững chạc. Ta bảo nó tìm người chuyển không hầu vào vườn hoa, sau đó tự mình đi sang vườn, vừa đi vừa nghĩ, thằng bé đúng là một đứa trẻ thông minh.

Hiển nhiên, đêm thứ hai, công chúa và phò mã cũng trải qua như thế. Hôm kế, thị nữ của công chúa xì xào bàn tán, thậm chí còn cười nói dưới sàn quá lạnh, không bằng kê cho phò mã một cái sập mềm trong góc phòng công chúa.

Chi tiết chuyện khuê phòng của công chúa truyền ra ngoài với tốc độ chóng mặt, trở thành đề tài tán gẫu chủ yếu của người hầu nội nhân trong phủ. Đương nhiên, người quan tâm tới tình trạng chung sống của cặp vợ chồng son này nhất cũng chẳng phải họ.

“Quốc cữu phu nhân đang mắng phò mã ở sân sau kìa.” Buổi chiều, Trương Thừa Chiếu báo với ta cảnh tượng hắn bắt gặp với vẻ cười trên nỗi đau của người khác, “Mắng hắn không có phu quyền, đến vợ cũng chẳng dám đụng vào, không ra dáng đàn ông. Nói đến phát cáu, còn thò tay nhéo tai phò mã, giọng cũng càng lúc càng lớn, đám a hoàn chung quanh nghe thấy đều che miệng cười.”

Ta ngập ngừng, hỏi hắn: “Phò mã phản ứng thế nào?”

“Ôi dào, Lý đô úy của chúng ta đích thị một cái hũ nút, còn có thể thế nào được nữa?” Trương Thừa Chiếu cười: “Còn chẳng phải là bụm tai cúi gằm mặt nghe mẹ già giáo huấn, nửa ngày không hé răng sao.”

Dương thị và Lý Vĩ tuy là mẹ con, song ngoại hình và tính cách lại một trời một vực. Lý Vĩ chất phác đôn hậu, Dương thị mặt nhọn môi mỏng, trong mắt lập lòe vẻ tinh ranh. Lý Vĩ chấp nhận tất thảy an bài của công chúa, mà mẫu thân hắn đối với chuyện này hẳn sẽ không khoanh tay đứng nhìn.

Suy đoán ấy nhanh chóng được chứng thực. Sau bữa tối hôm đó, ta đang bàn bạc hành trình lễ nghi phục diện bái môn ngày lại mặt của công chúa và phò mã cùng Lương Toàn Nhất thì Hàn thị đi vào, lấy ra một mảnh lụa trắng, nhỏ giọng nói với chúng ta: “Quốc cữu phu nhân vừa đưa cho tôi cái này, muốn tôi trải lên giường công chúa.”

Ta và Lương đô giám nhìn nhau, nhất thời đều không biết phải nói gì.

Thân là nội thị, song ta cũng có nghe nói về mảnh vải trắng trải trên giường cưới, lấy làm tập tục nghiệm xét trinh tiết của tân nương, nhưng chi tiết này không thích hợp trong hôn lễ của công chúa.

“Bà đã giải thích với quốc cữu phu nhân là công chúa hạ giáng không có nghi chế này chưa?” Lương đô giám hỏi Hàn thị.

Hàn thị than thở: “Đương nhiên là nói rồi, nhưng bà ấy lại cười bảo, bà ấy không dám nghi ngờ tiết tháo của công chúa, chỉ là tập tục dân gian nó vậy, gia quy nhà họ Lý cũng thế, trước đây anh trai phò mã cưới chị dâu cũng đều làm thế này, công chúa nếu đã gả vào nhà họ Lý thì hành sự theo gia quy họ Lý cũng không có gì quá đáng, quan gia biết hẳn cũng sẽ đồng ý. Nói xong kiên quyết dúi vào tay tôi, bỏ lại câu ngày mai bà ta sẽ tới lấy rồi đi mất. Tôi thật sự không biết phải làm thế nào nên mới đành chạy sang tìm hai người, xin hai người nghĩ cách cho.”

Ta cũng tin rằng hành động này của Dương thị không phải là nghi ngờ tiết tháo của công chúa mà chỉ nhân đây bức ép, gây áp lực cho công chúa, hi vọng tạo thành kết quả gạo nấu thành cơm. Nhưng với tính tình công chúa, đời nào nàng chịu để yên cho bà ta chi phối?

Nghĩ vậy, ta bèn nói với Hàn thị, “Không được để công chúa biết việc này. Người tất sẽ cho rằng đây là hành vi sỉ nhục người, nếu vì thế mà tổn thương hòa khí với quốc cữu phu nhân thì hậu quả khó mà lường được.”

“Nhưng mà,” Lương đô giám trầm ngâm: “Quốc cữu phu nhân đã ra lệnh rõ ràng phải trải lụa trắng lên giường cưới, nếu không làm vậy, bà ta ắt sẽ yêu cầu đi yêu cầu lại, thậm chí tự mình đề ra với công chúa, nếu không nói rõ với công chúa, chỉ sợ đến lúc đó tình thế sẽ càng khó dẹp yên.”

Lời thầy tất nhiên cũng có lý. Ta chỉ thở dài: “Nhưng muốn nói rõ chuyện này với công chúa nào có dễ vậy.”

“Khỏi phải khó xử, ta đã biết rồi.” Tiếng công chúa vang lên ngoài song, sau đó, gấu váy xoay tròn, nàng đã xuất hiện bên cửa.

Bọn ta còn chưa kịp thể hiện được bao nhiêu biểu cảm kinh ngạc, ai nấy đã vội vàng đứng dậy, hành lễ với nàng.

Sắc mặt nàng vẫn bình thản, không có vẻ gì là xấu hổ giận dữ, chỉ đi thẳng tới trước mặt Hàn thị, chìa tay với bà: “Đưa lụa đây cho ta.”

Hàn thị nghe lời đưa mảnh lụa cho nàng, nàng nhận lấy, cụp mắt nhìn, khóe miệng nhếch một nụ cười trào phúng.

Hôm sau, công chúa về cung phục diện bái môn, giấu bớt đi phần nào tâm trạng trước mặt cha mẹ, cũng không tỏ ra quá lạnh lùng với phò mã, nhất là khi đối mặt với lời hỏi han của phụ thân, hết lời bày tỏ mọi chuyện đều tốt, khiến kim thượng cười đến là sung sướng, như thở phào nhẹ nhõm.

Song, vừa quay lại phủ công chúa, nỗi ưu sầu ngầm ẩn trong mối hôn nhân này đã mau chóng hiển lộ.

Từ trong cung trở về, công chúa theo nghi chế quốc triều, buông rèm ngồi ngay ngắn trong sảnh đường dinh thự, tiếp kiến cha mẹ chồng.

Quốc cữu đã qua đời, người cần gặp bây giờ thực chất cũng chỉ có mình Dương thị. Dương phu nhân đã lễ phục tươm tất từ sớm, trang điểm lộng lẫy, hoan hỉ vào sảnh, thi lễ với công chúa ngoài rèm, nói đôi câu chúc tụng rồi hấp tấp hỏi han ân cần: “Công chúa ở nhà mẹ mấy ngày nay đã quen chưa? Hạ nhân trong nhà phục vụ công chúa có vừa lòng? Chúng nó có gì không ổn công chúa cứ nói với mẹ, cần đánh mẹ sẽ đánh cần mắng mẹ sẽ mắng, nhất định sẽ dạy dỗ tử tế rồi mới trả lại cho công chúa sai bảo.”

Công chúa chưa lý tới bà ngay mà quay sang hỏi Trương Thừa Chiếu bên cạnh: “Ai đang nói chuyện dưới sảnh đấy?”

Trương Thừa Chiếu khom người đáp: “Bẩm công chúa, là mẫu thân của phò mã đô úy, Dương thị.”

“Ồ, thì ra là thím Dương.” Công chúa ra chiều tỉnh ngộ, lại nói với dưới sảnh: “Ban tọa cho thím đi.”

“Thím?” Dương phu nhân lẩm bẩm lặp lại xưng hô này.

Trương Thừa Chiếu đi ra ngoài rèm, cười nói với Dương phu nhân: “Quốc cữu phu nhân, nhà thượng chúa, theo lệ chiêu mục hàng một bậc để tỏ lòng cung kính. Hiện giờ, bà là thím của công chúa, chớ xưng ‘mẹ’ với công chúa mà làm rối loạn vai vế.”

Thấy Dương phu nhân có vẻ giận dữ, Lương đô giám bèn giải thích với bà: “Nghi chế quốc triều quy định như vậy, phu nhân hẳn đã từng nghe nói đến rồi? Lễ nghi là thế, không tiện thay đổi, có chỗ nào không hợp tình hợp lý cũng mong phu nhân rộng lượng thứ cho.”

Dương phu nhân miễn cưỡng gượng cười, nói: “Tôi biết. Xưng ‘mẹ’ với công chúa chẳng phải là muốn để người cảm thấy thân thiết hơn, như có mẫu thân bên cạnh sao. Nếu công chúa không thích, tôi sửa là được.”

“Quốc cữu phu nhân quả nhiên thấu tình đạt lý.” Trương Thừa Chiếu ngậm nụ cười chẳng mấy nghiêm túc, lại nhắc nhở bà một chuyện khác, “Còn có việc này, cũng mong phu nhân chú ý: chi phí đất đai xây dựng phủ công chúa và mọi tiêu dùng đều là của quan gia ban cho, dinh thự này vốn là một trong số của hồi môn quan gia ban tặng công chúa, công chúa là chính chủ nơi này chứ không phải vào ở nhà quốc cữu phu nhân. Quốc cữu phu nhân vốn là khách, theo phò mã vào đây, nếu thấy có chỗ nào không thoải mái thì cứ nói với công chúa, công chúa tất sẽ tận tâm an bài thỏa đáng cho phu nhân.”

Sắc mặt Dương phu nhân càng thêm sa sầm, nhưng không tiện phản bác, chỉ đành nuốt giận đáp: “Vậy mụ đây xin cảm ơn công chúa trước, công chúa hao tâm rồi.”

Công chúa nghe vậy mỉm cười: “Thím đừng khách khí.” Lại quay sang phân phó người hầu: “Tặng lễ gặp mặt cho quốc cữu phu nhân.”

Kế tiếp, hai nhóm nội thần mỗi người nâng một lễ vật, tấp nập từ ngoài cửa đi vào, đặt từng món trong sảnh.

Lễ vật công chúa tặng cho cha mẹ chồng không tệ, có ba trăm lượng bạc, năm trăm xếp gấm, vài tráp nữ trang, một bộ lễ phục, một bức danh thiếp, một túi tảo đậu… Những thứ này đều là quà tặng quy định trong nghi chế. Nhưng cái cuối cùng nội thần mang vào lại là một khay phủ nhiễu điều, tạm thời nhìn không ra trong đó đựng vật gì.

Mỗi lần đưa vào một lễ vật, nội thần đều cao giọng xướng tên món đồ, song đến lúc mang món cuối cùng vào, nội thần lại ngậm miệng, không xướng danh nữa.

Đến đây, công chúa vén rèm đi ra, chậm rãi bước tới trước mặt Dương phu nhân, lại mở nhiễu điều phủ trên khay ra, cho Dương phu nhân xem món quà trong đó.

Dương phu nhân quay đầu nhìn, tức thì biến sắc – Đó là một mảnh lụa trắng, sạch sẽ y như lúc bà đưa cho Hàn thị.

“Ta chuẩn bị món quà này tặng thím, thím có vừa lòng?” Công chúa cụp mắt hỏi Dương phu nhân.

Không đợi bà trả lời, công chúa đã nắm lấy một góc mảnh lụa, phất ống tay áo, lụa trắng mở ra trong không trung như cầu vồng, phác nên một đường cong gợn sóng duyên dáng, lại tà tà hạ xuống – mỗi tấc trên mảnh lụa đều trắng tinh, không có bất kỳ một dấu vết nhuốm màu sắc nào khác.

Liếc thấy đầu cuối mảnh lụa trắng quét qua khuôn mặt kinh ngạc của Dương thị, ánh mắt công chúa từ từ ngước lên, nhìn chòng chọc vào mắt bà, gửi đến bà một nụ cười lạnh nhạt tựa như khiêu chiến.