Công Chúa Chăn Ngỗng - Câu Chuyện Về Vùng Đất Bayern

Chương 5




Ani phi ngựa nhanh đến mức không kịp nhận thấy những hàng cây vụt qua mình và cành lá thì như chiếc rìu chém sát đầu. Con ngựa chạy không định hướng, chỉ nhằm một mục đích duy nhất: Chạy trốn thật xa. Mỗi khi con vật có dấu hiệu chậm lại, Ani lại thúc gối khuyến khích nó, đồng thời nghe ngóng tiếng vó ngựa của Ungolad ngay phía sau mình. Đôi khi cô nghĩ mình nhìn thấy đôi bím tóc vàng của hắn trong tầm mắt.

Con ngựa phi nhanh đến nỗi mình nó ướt đẫm mồ hôi, mỗi nhịp phi nước đại, nước bọt lại nhễu ra từ miệng con vật tội nghiệp. Dây cương thấm đẫm mồ hôi nên cô nắm sang bờm ngựa. Ani nới lỏng hai chân và khi móng ngựa chạm đất, cô ngồi xuống yên một cách khó khăn. Đột nhiên, một cành cây thấp vướng vào vai, gạt cô ra khỏi bàn đạp và cô chỉ nhận ra mình đang nằm trên mặt đất khi con ngựa đã phi nước đại thật xa mà không có cô trên lưng.

Cô ngồi một lúc lâu để thở. Nếu Ungolad vẫn còn ở phía sau, hắn sẽ dễ dàng tìm ra và nhanh chóng giết chết cô bởi giờ đây cô không thể di chuyển nổi. Cô nghĩ mình nghe tiếng răng rắc của cành cây khô bị đè gãy nơi bàn chân. Cô nhúc nhích chân định chạy nhưng bước đi đầu tiên khiến cô ngã sõng soài xuống đất. Cô nằm im phó mặc số phận.

Ani tỉnh dậy sau một lúc lâu và cảm thấy lạnh. Một đám cỏ linh thông đâm vào má cô. Lúc này cô thực sự không biết phải làm gì.

Cô gọi khẽ: Falada.

Ani cố đứng dậy. Khu rừng thật tối và nàng công chúa bé nhỏ biết giờ cô chỉ nhìn bằng cảm giác. Một tiếng quạ kêu, cô hốt hoảng nhảy lên. Nó lại kêu lần nữa. Cô khoanh tay trước ngực cố suy nghĩ. Cô phải ngủ một lúc để lấy sức, nhưng trước đó chuyện gì đã xảy ra? Cô đang chạy trốn. Cô cố nhớ và mường tượng được trong đầu cảnh Adon chạy về phía mình để bảo vệ cô. Rồi một lưỡi gươm tàn bạo đâm thẳng vào ngực người lính. Cô rùng mình, lại nằm xuống, lấy tay che mặt và cố gắng ngủ để né tránh sự tăm tối đang bao quanh.

Ani thức dậy lúc bình minh và bắt đầu đi bộ. Hướng nào của khu rừng cũng giống nhau. Cô nhận ra rằng mình chỉ mới cách thị trấn một vài dặm và đã lang thang trong rừng một vài ngày. Ánh mặt trời xuyên qua tán cây cho cô một vài gợi ý về phương hướng. Cô chọn hướng mà cô nghĩ là hướng đông và bước tới.

Dạ dày cồn cào vì đói, trong đời Ani chưa bao giờ lâm vào cảnh như vậy. Quãng thời gian trước đây, trong lâu đài bằng đá hoa cương cùng những khay đồ ăn mạ bạc, cô chưa bao giờ bỏ bữa.... Cô cảm thấy khát hơn, cô bắt đầu nghĩ đến việc đào rễ cây để xem liệu chúng lấy nước từ đâu.

Sau nhiều giờ, Ani nghe thấy tiếng nước và nghĩ rằng đó có lẽ là âm thanh kỳ diệu nhất trên thế gian. Âm thanh bị nhiễu loạn qua những thân cây, làm rối những giác quan của cô cho đến khi cô tìm ra dòng suối và trầm mình vào nước. Cô uống nước nhiều đến độ dạ dày phải sôi lên, sau đó cô bước dọc theo dòng suối, nghĩ rằng chắc chắn phải có cách đi qua những dãy núi và tìm thấy đường cái. Khi đã gặp đường cái, có nghĩa là có phương hướng.

Ani đi dọc theo dòng suối hai ngày. Cô chỉ rời xa bờ suối một khoảng ngắn để tìm kiếm nấm. Dựa trên những ký ức từ thời thơ ấu, những bài học của dì về các loài thực vật có thể ăn được, Ani cho phép mình ăn vài thứ hoa quả, cũng như những cây hành dại mọc trên vùng đất đen ẩm cạnh bờ suối. Miệng cô cay bỏng và nước mắt ứa ra bởi vị cay hăng nồng của chúng.

Ngày thứ ba, cô đến điểm cuối của dòng suối. Lúc này, dòng suối nhỏ dần như một chú rắn nước và cuối cùng dừng lại ở một cái hồ hình chiếc nhẫn. Cô đi vòng quanh hồ tìm kiếm một lối ra, sau đó dựa vào gốc cây và khóc. Cô không biết mình đang ở đâu, cũng không có gì để mang nước theo và giờ đây cũng không còn dòng suối nào để đi bên cạnh. Cô trải qua phần còn lại của ngày hôm đó và cả đêm đó nữa bên cạnh điểm cuối cùng của dòng suối. Con khát ám cả vào giấc mơ, cùng với âm thanh tiếng giày bốt nặng nề của Ungolad phía sau lưng. Cô tỉnh giấc với nhịp tim đập theo từng tiếng kêu của một con quạ đâu đó.

Sáng hôm sau, Ani ngồi thêm một lúc cạnh bờ suối, nghịch ngón tay trong nước. Cô nghĩ: “Nếu mình không đánh rơi chiếc khăn tay, nếu mình không làm mất nó thì những chuyện này đã không xảy ra”.

Ngay khi vừa nảy ra ý tưởng này, cô cảm thấy nó thật buồn cười, như một câu chuyện cổ tích, không có thật. Cô tự cười chính mình, nhưng nụ cười cũng đồng thời bóp chặt trái tim cô, ép nước mắt tuôn rơi trước khi cô kịp dừng lại. “Mình đã nghĩ đó là phép màu. Mình nghĩ mình đã rất an toàn. Một chú chim nhỏ báo cho mình biết về thác nước. Và Falada...”, cô lắc đầu, cười buồn, “Mình chính là người chống lại Selia và cũng chính mình là người không chịu chạy sớm, không đủ sớm cho Adon, Talone hay Falada thoát nạn”.

Cô ngả đầu ra sau để nước mắt không chảy xuống mặt và thấy một con cú nâu trên cây thông đối diện nó, đang ngắm nhìn buổi sáng qua đôi mắt thủy tinh màu vàng.

Cô thì thầm: “Có phải mi đã đánh thức ta dậy không? Ta không biết tại sao đêm qua tiếng kêu của mi lại khiến ta rùng mình. Mi trông không đến nỗi đáng sợ như thế!”.

Cô từng biết cách nói chuyện với những con chim cú sống trên các xà nhà kiên cố. Nhưng đã rất lâu rồi, và ký ức trỗi dậy trong sự bối rối, trống rỗng của nỗi nhớ nhà. Cô cố làm quen với con cú bằng tiếng kêu thử nghiệm. Con cú không phản ứng lại. Ani nghĩ thầm: Giá mà nó là một con thiên nga. Với cô, ngôn ngữ của tất cả loài chim chỉ là một, có điều nó có nhiều “phương ngữ” khác nhau, một vài loài khác biệt hơn so với những loài khác. Và cô nhớ nhất là ngôn ngữ của những con thiên nga.

Cô cố chào nó lần nữa, con cú hơi quay đầu về phía cô và lần đầu tiên nhận ra sự hiện diện của cô. Sau một vài giây nhìn không chớp mắt, con cú chào lại cô. Cô chống tay suy nghĩ với niềm hi vọng nhỏ nhoi. Ani tiếp tục cuộc nói chuyện như giữa hai con cú với nhau bằng cách hỏi xem nó ăn gì. Con cú trả lời nó ăn chuột. Cô muốn hỏi nó đường thoát khỏi khu rừng nhưng lại phân vân không biết làm cách nào diễn đạt cho rõ.

Ani hỏi: “Đâu là nơi những cái cây này dừng lại?”. Con cú không biết hay không hiểu. Có lẽ nó biết về nơi con người sống nhưng Ani lại không biết làm thế nào để hỏi về đường phố hay nhà cửa.

Đâu là nơi có khói?

Một chuyến đi dưới ánh nắng buổi sáng. Con cú trả lời. Sau đó nó bay từ cây này sang cây khác vẽ nên đường thẳng theo hướng đó. Ani cảm ơn nó, uống một ngụm nước lớn từ dòng suối và khởi hành, cầu mong chuyến đi này không lâu hơn một ngày.

Ani cố gắng tập trung vào hướng đi, cô chọn một cây phía trước mặt làm đích đến, đến được nó rồi lại chọn một cây khác xa hơn. Việc này khiến mắt cô đau nhói. Không khí ẩm đọng trên da cô nhưng mặt đất lại khô ráo, chứng tỏ không có dấu hiệu gì của sông hay suối.

Lúc đầu cô không nhìn thấy căn nhà, bởi những bức tường xung quanh được làm bằng gỗ cứng, mái nhà lợp bằng lá thông còn xanh, bên cạnh là mảnh vườn nhỏ bao quanh bởi hàng rào gỗ mỏng.

Ani chú ý những trái táo chín đỏ trên cây, những củ cà rốt đỏ rực trồi lên khỏi mặt đất dưới những chiếc lá xanh ngắt. Dạ dày cô lại lên tiếng. Một chú dê màu nâu bị buộc vào cái cột ngoài vườn, quay lại nhìn cô và kêu một cách giận dữ.

“Mày nhìn thấy gì vậy, Poppo?”. Một người phụ nữ từ trong nhà đi ra. Bà choàng một chiếc khăn màu đỏ trên đầu, một chiếc áo dài thắt ngang lưng và một chiếc váy dài đến mắt cá làm bằng vải thô màu xanh. Bà thấy Ani và tỏ vẻ lo lắng.

“Được rồi, Poppo, đây không phải một con thú hoang hay chó sói đâu, mặc dù nó cũng muốn ăn những thứ trong vườn của ta như một chú thỏ vậy”. Giọng người phụ nữ phát ra ồm ồm và với nguyên âm ngắn khiến Ani nghĩ bà là người vùng Bayern. Công chúa nuốt nước bọt. Người phụ nữ đang chờ cô lên tiếng trước.

“Xin chào”, Ani lúng túng. Những ngày gần đây cô nói rất ít, cô cảm thấy thật khó khăn để lên tiếng. Cô nuốt nước bọt lần nữa.

“Hả?”.

“Xin chào, cháu bị lạc!”.

“Uh, tôi thấy rồi”. Người phụ nữ khoanh tay và nhìn từ đầu đến chân bộ váy rách nát bẩn thỉu của Ani. Bà chớp mắt, chờ đợi thêm thông tin. “Sẽ có ích nếu tôi biết cô bị lạc từ đâu, cô định đi tới đâu và nếu cô hiểu ý tôi, tôi sẽ chỉ cô đi đúng hướng!”.

Ani định nói nhưng chựng lại. Chẳng lẽ cô bảo: “Tôi đã từng là công chúa của Kildenree, người đã đính hôn với con trai đức vua vương quốc này, đức vua tên là gì nhỉ? Tôi không thể nhớ được, rồi thật không may, một nửa số lính hộ vệ trong đoàn tùy tùng của tôi đã tấn công những người khác và cố giết tôi để đưa người thị nữ của tôi lên thay thế”.

Nghe có vẻ vô lý quá. Ani ước gì có được cảm giác tự tin như khi có chiếc khăn tay cài trên áo, nhưng cô tự nhắc bản thân rằng mình đã mất nó, và nếu có thì cũng chẳng ích gì. Giờ cô chỉ có thể học cách dựa vào chính mình thôi. Cảm giác đó khiến cô sợ hãi, giống như bị lạc trong khu rừng lạ.

“Rồi cô bé, tôi đang nghe đây!”, người phụ nữ nói.

Ani chợt nhận ra rằng mình khát quá. Đã nhiều giờ trôi qua kể từ khi cô rời dòng suối nhỏ và rằng cô gần như ngất đi vì sợ hãi, đói, kiệt sức. Khi suy nghĩ ấy ập tới, hàng ngàn chấm đen lập tức bao trùm trước mắt cô. May thay, người phụ nữ, ngôi nhà và con dê này đã xuất hiện thay thế cho bóng tối.

Ani tỉnh dậy, nhìn thấy cửa sổ của một ngôi nhà tranh. Cô nhìn quanh cảnh giác, rồi thở dài nhẹ nhõm khi nhận ra mình đang ở trong một ngôi nhà và nằm trên một tấm nệm cỏ khô.

“Cô tỉnh rồi à? Thế nào rồi?”.

Người phụ nữ đã bỏ chiếc khăn trùm đầu ra và Ani có thể nhận thấy mái tóc đen dày ngắn ngang vai của bà. Bà đang ngồi đan trên chiếc ghế đẩu dưới ánh sáng phát ra từ lò sưởi.

“Cô nên nói với tôi rằng cô khát nước, để không phí phạm sức con trai Finn của tôi khi phải khiêng cô vào đây. Tôi nghi ngờ cô cố tình ngất xỉu để vào nhà và nằm lên giường của tôi, hừm!”.

Ani cười lịch sự bởi cô tin người phụ nữ chỉ nói đùa như vậy thôi.

“Tôi nghĩ cô có thể ở đây qua đêm”.

Bà vẫn tiếp tục đan, và Ani nhìn những mũi len đi lên đi xuống với một tốc độ cô chưa từng thấy bao giờ.

Người phụ nữ gật đầu chỉ vào đĩa thức ăn gần đấy chứa đầy súp cà rốt và một ly sứ đầy nước. Ani nhanh chóng uống hết ly nước và ăn hết đĩa súp trong yên lặng. Cô có thể cảm nhận được nước và nước súp đi từ cổ họng xuống dạ dày với cảm giác rộn ràng ấm áp.

“Rồi cô gái”, người phụ nữ hỏi sau vài phút, “Hãy nói ta nghe cô định sẽ làm gì?”.

“Cháu bị lạc trong rừng và phải tìm đường trở về Bayern”. Khi nói, trong đầu cô luôn ý thức về cách phát âm theo kiểu giọng của người Kildenree, và ước gì mình có thể bắt chước cách nói theo kiểu của người Bayern. Cô nghĩ mình có thể học nó dễ dàng như lần đầu tiên cô học theo các âm thanh của thiên nga, nhưng giờ có vẻ đã quá trễ để cố gắng với người phụ nữ này.

Người phụ nữ để que đan xuống vạt áo và ngắm nhìn Ani một cách chăm chú. “Cô không phải là người ở đây”, bà nói. Ani lắc đầu. “Cô đang gặp chuyện gì rắc rối à?”.

“Vâng, cháu nghĩ vậy!”.

“Ừ, tôi không muốn nghe chuyện đó...”, bà nhanh chóng nói. “Tôi biết càng ít càng tốt. Nhìn cô, tôi thấy điều bất hạnh đang đến. Cô có mái tóc vàng và dài, phải không? Quá dài để là một người đi lang thang ngoài đường. Rõ ràng là không phải đến từ Bayern, cô là người xuất thân quyền quý, chắc chắn là như vậy, hãy nhìn đôi tay mềm mại nhỏ nhắn của cô xem”. Ani đan hai tay vào nhau.

“Và giọng của cô, chậc, cô bé, cô có rất nhiều vấn đề. Tôi phải đan để có áo bán vào phiên chợ tuần này. Cô hiểu không?”.

Ani gật đầu.

“Sao cô không nói gì vậy?”. Người phụ nữ hơi cúi về phía trước, chờ đợi câu trả lời.

“Cháu cảm thấy xấu hổ về giọng nói của mình”, Ani nói, “Và cháu cảm thấy rất bối rối... Cháu không biết phải làm gì...”. Cô cố nén nhưng không thể kìm nén tiếng nức nở đầu tiên rồi thứ hai, thứ ba. Dạ dày thắt lại, cô cúi xuống và khóc nức nở. Tóc che phủ hết khuôn mặt cô. Cô nhận thấy người phụ nữ vỗ vỗ vào vai mình.

“Thôi... Thôi được rồi, không khóc nữa, mọi thứ đều ướt át và thế này thì không thoải mái chút nào”.

Ani nghĩ bà ta đúng vì cô cảm thấy tồi tệ hơn cả lúc trước, vì thế cô lấy tay gạt nước mắt và cố gắng không khóc nữa. Hơi thở cô nghẹn lại nơi cổ họng.

“Cháu xin lỗi”, cô nói. “Cháu sẽ không khóc nữa, cháu xin lỗi!”.

“Được rồi, cô bé, được rồi. Bây giờ hãy nói cho ta biết ta có thể làm gì để giúp cháu, miễn là ta không có liên quan gì hết nhé”.

Ani gật đầu. Sau đó, cô nhận ra rằng bà đang yêu cầu cô đưa ra quyết định. Cô cầu cứu ai được đây? Talone, đức vua của vương quốc Bayern, Selia (không, không, không thể là Selia), Falada, chiếc khăn tay bị mất (cái này cũng không được)?

Mình thật là trẻ con, Ani nghĩ. Cô ngồi thẳng lưng, đặt tay lên đùi và nhìn chăm chăm vào ngọn lửa lò sưởi. Ngay cả khi ở khoảng cách khá xa, ngọn lửa vẫn như thiêu đốt ánh mắt cô.

Hãy người lớn lên nào. Hãy suy nghĩ đi. Mình cần gì?

Mình phải tìm được đường, nhưng đường đi tới đâu? Ý nghĩ một mình quay trở về Kildenree thật ngớ ngẩn. Cô không có thức ăn cũng như phương tiện, không ngựa, còn nếu đi bộ thì phải mất hàng tháng và tuyết sẽ rơi trước khi cô về tới nơi. Talone nói cô hãy tới Bayern và tìm đức vua. Có thể Talone và người của ông đã đánh bại Ungolad, và nếu như vậy thì họ có thể đang ở chỗ đức vua. Bên cạnh đức vua còn có tể tướng. Cô đã từng gặp ông ta một lần khi cô còn nhỏ - có lẽ ông ta sẽ nhớ mặt cô và làm chứng cho cô. Và nếu Selia cùng những kẻ phản bội đang ở đó chờ đợi nàng công chúa bỏ trốn thì sao? Cô nghe tiếng trái tim mình đập nhanh như tiếng vó ngựa của Ungolad khi đang đuổi theo cô vậy.

Nếu như vậy, liệu cô có được cung cấp một chiếc xe ngựa để trở về Kildenree? Cô không thể đi cho đến khi tìm ra Falada, biết tin tức về số phận Talone và những người lính trung thành. Bayern. Đó là lựa chọn của cô.

“Kinh thành cách đây bao xa ạ?”.

“Một ngày rưỡi đi xe ngựa. Cô đừng nghĩ đến chuyện đi bộ tới đó để rồi lại bị lạc trong rừng cho tới khi ai đó lại trông thấy cô nhìn chằm chằm vào vườn cà rốt như ta đã thấy!”.

“Cháu có thể đi với bà tới thành phố vào phiên chợ tới không?”.

Người phụ nữ suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Được! Và ta hi vọng cháu sẽ tìm được cho mình một bộ cánh mới để đừng có nổi bật như một cái cây đầy màu sắc như thế này nhé. Finn sẽ dẫn cháu đi vào cuối tuần tới và lúc đó thì ta sẽ xong nhiệm vụ”, bà gật đầu rồi tiếp tục đan.

Một thanh niên vào nhà, bước đến gần lò sưởi hôn mẹ. Anh lửa từ lò sưởi bén vào vài sợi len trắng bám nơi ống tay áo anh ta. Người mới vào chìa một tay cho Ani: “Chào cô!”.

Ani đáp lại: “Chào anh, Finn!”.

Chàng trai cười và biến vào góc tối của căn phòng, nơi có chiếc giường của mình.

Người phụ nữ hơi cao giọng: “Giờ hãy đi ngủ đi”.

“Vâng, thưa bà!”.

“Gilsa”, người phụ nữ nói, “Tôi không phải là quý bà đâu, cô không cần trịnh trọng quá!”.

“Bác Gilsa, thế khi nào thì đến phiên chợ cuối tuần tới ạ?”.

“Tám ngày nữa, cô bé!”.

Ani nằm nghiêng sang bên, ngắm nhìn ánh lửa màu cam cuối cùng của khúc gỗ trong lò sưởi và nghĩ rằng cô sẽ không bao giờ cảm thấy buồn ngủ. Tưởng như mới chỉ sau đó một phút nhưng khi cô mở mắt ra thì căn phòng đã bàng bạc ánh bình minh. Cửa mở và Gilsa bước vào với đầy trứng gà trên tay, tóc bà chưa chải, còn vương vài cọng cỏ khô và vài sợi len.

“Ồ”, Ani nói và ngay lập tức ngồi dậy, “Đây là giường của bác ạ?”.

“Tất nhiên nó là giường của ta rồi. Cháu nghĩ là đêm nào ta cũng ngủ trong chuồng gia súc à?”.

“Cháu không nghĩ vậy đâu ạ”. Ani đứng dậy và vuốt thẳng chiếc chăn xếp lên trên cái gối. Cô chưa bao giờ phải tự hỏi rằng mọi người ngủ ở đâu. Ở trong cung, ai cũng có chỗ của mình, cô chưa bao giờ chú ý điều đó cả, cô nhận ra rằng mình thật vô tâm và ích kỷ.

“Cháu xin lỗi”, Ani nói, “Cảm ơn bác. Tối nay bác sẽ không phải ngủ ở đó nữa đâu ạ”.

“Điều đó là hiển nhiên rồi. Lòng tốt của ta khiến ta trải qua một đêm trên cỏ khô và giờ ta cảm thấy rất ngứa ngáy khó chịu”.

Ani quyết định rằng từ giờ cho đến lúc đi, cô sẽ không là gánh nặng của họ. Ngày đầu tiên, trong khi Gilsa ngồi đan miệt mài trên chiếc ghế đẩu thì Ani cố gắng chuẩn bị bữa trưa. Sau khi bữa ăn được tiêu thụ một cách miễn cưỡng, Finn quyết định quay trở lại với công việc nấu nướng thường nhật của mình và Ani với cảm giác hơi thất vọng, chỉ dám ngồi quan sát một cách cẩn thận.

Bà Gilsa khám phá ra rằng Ani rất giỏi trong việc tìm rễ cây cần cho việc nhuộm chỉ. Vì thế, Ani nhanh chóng được sai làm các việc vặt như tìm rễ cây trong rừng. Sau một lần làm các thứ linh tinh, khi cô đi ngang qua một cái sân rất sạch sẽ với đầy rễ cây trong tạp dề, cô nghe tiếng gà kêu loạn xạ trong chuồng.

Chúng kêu hốt hoảng: Chuột chuột, chúng ta sẽ không ở đây đâu, lũ chuột đang ở đây, đó đó, ở dưới kìa.

“Ta không biết có chuyện gì xảy ra nữa”, Gilsa đặt tay trên cửa chuồng gà. “Chúng sợ, như thể có rắn lục trong tổ hay có một con cáo ở dưới chuồng gà. Nhưng ta đã dọn chuồng gà hai lần rồi và không tìm thấy gì cả”.

“Có một con chuột ạ”, Ani nói. “Một con chuột chết, ở dưới sàn, và những con gà mái ngửi thấy mùi của nó”.

Ani đem rễ cây vào trong và phân loại chúng trước khi nhận ra rằng mình phải giải thích về những lời nói vừa rồi. Khi cô bước ra, Gilsa đang hướng dẫn Finn dịch chuyển miếng lót sàn nơi Ani đã chỉ. Bên dưới đó là một cái xác chuột mới chết.

“Làm thế nào mà cháu...?”, Gilsa nhìn cô chằm chằm.

“Cha mẹ cháu từng nuôi gà”, cô trả lời.

Sau đêm đầu tiên, Ani ngủ trên miếng gỗ lót sàn phủ cỏ khô trong chuồng gia súc. Lúc đầu cô không thể ngủ được, cô bị đánh thức bởi tiếng cót két của những tấm ván, tiếng rên rỉ của cây. Liệu Ungolad có lần theo dấu vết cô ở đây? Cô không biết nhưng sau đêm đầu tiên trong chuồng gia súc, cô nài xin một tấm ván để chặn cửa lại. Finn đồng ý mà không thắc mắc gì.

Đêm trước ngày lên kinh thành, Ani ngồi cạnh lò sưởi, cuộn những chiếc áo len của Gilsa thành bó chặt và xếp chúng thành những kiện hàng. Finn chuẩn bị thức ăn cho chuyến đi. Gilsa hoàn thành nốt ống tay còn lại của chiếc áo cuối cùng. Hình ảnh một quả cam sống động với mặt trời và những chú chim nổi lên trên ngực áo và lưng áo. Bà ngân nga một giai điệu nhẹ nhàng dễ gây buồn ngủ, một bài hát ru. Nó gọi cho Ani nhở đến những ký ức xa xăm. Cô dừng việc cuộn áo, quay sang nhìn người hát.

“Cháu chưa làm xong mà?”, Gilsa nói.

“Cháu biết bài hát này. Bác có thuộc hết lời không ạ? Có phải bác vừa hát bài những câu chuyện cây kể, những câu chuyện gió hát?”.

“Lắng nghe cây kể chuyện, cảm nhận lửa thì thầm, hãy xem gió đang kể những giấc mơ của khu rừng... Đó là một giai điệu cổ, ta từng hát bài này cho con trai ta nghe”.

“Bài hát này có ý nghĩa gì ạ?”, Ani hỏi.

Những que đan của Gilsa va vào nhau tạo nên âm thanh giống như tiếng một loài thú lạ đang ăn. “Ta nghĩ, nó kể về những câu chuyện cổ ở nơi xa xôi nào đó, nơi có loài người, nhưng những gì được đề cập trong bài hát thì lại không phải là về con người mà là về gió và cây cối hay đại loại là những thứ như vậy. Chim ưng nghe tiếng lợn lời, trẻ con nói chuyện với dòng suối, và về loài vật nữa...”. Gilsa nhìn sang Ani. “Điều đó có thể xảy ra không nhỉ? Cháu có biết những điều đó không, cô bé?”.

Ani tiếp tục đóng gói những chiếc áo. “Có thể có bác ạ, cháu đã từng nghe những câu chuyện kể về thời kỳ sau khi đáng sáng tạo tạo ra vạn vật, khi tất cả các ngôn ngữ đều được biết đến. Người ta hay nhớ và kể về những con quái thú. Nhưng những câu chuyện về gió, cây, về dòng suối hay tất cả những thứ đại loại như vậy, thì người ta nghĩ chúng chỉ là những câu chuyện kể cho trẻ con”.

“Ừ, có thể. Nhưng tất cả mọi thứ đều có ngôn ngữ riêng của chúng, phải không?”.

“Cháu nghĩ vậy, nhưng không thực sự hiểu rõ ràng cho lắm!”.

Gilsa nhìn Ani như thể cô là một đứa trẻ bất thường vậy. “Tất cả chúng ta đều nói chuyện với điều gì đó ngoài bản thân mình, từ xưa đến nay đều như vậy. Ta nói chuyện với chú dê nhỏ, với những con gà, với cây táo của ta. Ta không biết chúng có nghe thấy ta nói gì không và ta cũng không nghĩ chúng có thể trả lời ta, nhưng đó không phải là vấn đề. Nào, hãy nghĩ đến điều này, rằng một người có thể nói chuyện với lửa hoặc nói chuyện với một con dê và lửa, dê cũng có thể trả lời lại. Sao lại có thể như vậy?”.

“Liệu có những điều như vậy ở Bayern? Những điều kỳ diệu?”.

“Đó là những nhà ảo thuật, thầy phép hay thầy phù thủy”, Finn nói, anh chàng xoay qua xoay lại trên giường khiến nó kêu cót két.

“Những người đó có thủ thuật riêng, con trai ạ”, Gilsa nói, “Đó không phải là những gì cô bé này muốn nói”.

“Con đã từng thấy rồi”, Finn nói rất khẽ, “Ở chợ... Con thấy một phù thủy nhìn người ta và nói những gì đang khiến người ta sầu não, một thầy phép có thể biến thứ này thành thứ khác”.

“Đúng, đúng rồi con trai!”, Gilsa vẫy tay một cách thô bạo. “Họ có nhiều cách để nhìn thấy và trình diễn nhưng tất cả đều rất hài hước, mọi người tự đưa tiền để nghe những gì mình đã biết. Cô bé này muốn nói điều khác cơ, theo cách cổ xưa ấy, phải không cô bé?”.

“Cháu nghĩ vậy. Có quá nhiều câu chuyện cổ, những câu chuyện rất kỳ lạ, tuyệt vời và hoàn hảo. Chúng không có thật nhưng tuyệt hơn những gì đã từng tồn tại. Cháu từng có một điều mà cháu nghĩ rất kỳ diệu, nhưng cháu đã đánh mất nó và giờ không nghĩ nó còn kỳ diệu nữa”. Cô chạm vào ngực nơi chiếc khăn tay đã từng ở đó và cau mày. “Ước gì có phép thuật. Nếu tất cả những câu chuyện cổ đều có thật thì chúng có thể cho cháu biết mình đang làm gì và cháu phải làm gì bây giờ”.

“Thôi đừng khóc lóc cho thời gian đã mất và những gì đã rơi vào lãng quên nữa. Những câu chuyện cổ chỉ kể những gì chúng có thể kể, phần còn lại là những gì chúng ta cần phải học. Vấn đề là liệu chúng ta có đủ thông minh để tự khám phá bản thân mình? Giờ đó mới là điều ta cần biết”.

Ani không trả lời. Có tiếng gió rít nhẹ qua ống khói. Trong một phút, tiếng nổ lách tách của ngọn lửa, tiếng chim rên gãy cánh như nghe rõ hơn.